Quách Tấn, Quách Giao
Nhà Tây Sơn
VUA QUANG TRUNG BĂNG HÀ
NGUYỄN QUANG TOẢN KẾ VỊ
Công việc xây dựng quốc gia đang tiến hành trôi chảy, thình lình Vua Quang
Trung băng hà.
Vua băng ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý [79](15-9-1792). Nguyên nhân gây
ra cái chết của Vua Quang Trung đã trở thành một nghi án lịch sử. Ðại Nam
Chính Biên Liệt truyện ghi rằng:
Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm lăng tẩm của Liệt Thánh.
Một ngày kia, đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ
màng thấy một lão trượng đầu bạc áo trắng, cầm gậy sắt, từ không trung đi
đến, mắng rằng: Ông cha mày đều sanh ở đất Vua, mày sao dám mạo phạm
đến lăng tẩm?. Nói dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã
xuống bất tỉnh, hồi lâu mới tỉnh lại. Từ ấy bịnh càng ngày càng nặng, mới
triệu viên Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về thương nghị việc dời đô
ra Nghệ An.
Ðó là lời của sử gia Nguyễn Gia Miêu[80] bịa ra để bôi nhọ Vua Quang
Trung. Bịa không được khéo, bởi ai kể lại câu chuyện hoang đường ấy cho
viết sử chép? Chẳng lẽ Vua Quang Trung kể lại giấc mộng không mấy đẹp
của mình?
Có người bảo nhà vua bị thượng mã phong. Ðó chỉ là chuyện hài hước.
Lại có người độc miệng bảo rằng nhà vua bị Ngọc Hân Công Chúa ám hại
bằng cách bỏ thuốc độc vào rượu[81]. Rõ là vu cáo giữa trời!
Thiết tưởng Vua Quang Trung chết vì bệnh huyết áp cao, làm việc nhiều,
suy nghĩ nhiều, bị đứt mạch máu. Cái chết đột ngột do bệnh huyết áp cao
gây nên thường xảy ra và dân gian thường gọi là trúng gió. Chớ nếu quả có
điều ám muội thì dễ gì triều đình Tây Sơn đã để yên.
Truyền rằng:
Mùa xuân năm Nhâm Tý (1792), Vua Quang Trung hay tin Nguyễn Phúc
Trời Quy Nhơn ảm đạm màu thu
Ðất Thuận Hóa não nùng tiếng cuốc.
Phái đoàn sang Trung Hoa nói dối rằng:
- Vua Quang Trung có di chỉ sau khi chết chôn tại Hồ Tây ở Thăng Long để
đặng gần chầu Thiên Khuyết.
Vua Thanh tưởng thật, tứ thụy là Trung thần, ngự chế một bài thi Ai Thuật:
Ngoại bang lễ dĩ hiến bồi thần
Cẩn triển tùng vô ( ) kỷ thân [82]
Nạp khoản tối gia lai ngọc khuyết
Hoài nghi kham tiếu đại kim nhân
Thu trung thượng ức y quan túc
Tấc hạ hồ như phụ tử thần
Thất xích bất năng tận ai thuật
Lân kỳ trung khốn xuất trung chân.
Cụ Bùi Văn Lang dịch:
Sai khiến bồi thần lễ ngoại bang
Ít ai khứng chịu nhọc mình sang
Nào khi nạp khoản qua đầm ngọc
Không dạ hồ nghi thế tượng vàng
Dưới gối như in tình phụ tử
Giữa thu còn nhớ bộ y quang
Hồng la bảy thước không cùng chuyện
Ngay thật riêng thương tấc dạ chàng.
Càn Long lại còn soạn một bài điếu văn, cấp một tượng Phật bằng ngọc,
3.000 lượng bạc, sai Hộ Bộ Quảng Tây là Thành Lâm sang Thăng Long
phúng điếu.
Sứ giả làm lễ trước mộ giả của Quang Trung tại linh đường huyện Thanh
Trì. Trong điếu văn có câu:
Chúc ly Nam cực, hiệu trung đặc trưởng kỳ xu triều; An phách Tây Hồ, một
thế vô vong ư luyến khuyết
tiệc. Thái Tử cũng được rước đến. Tiệc đã vào buổi chiều. Tiệc xong, Thái
tử đòi xem hai vị đại thần đấu côn.
Ðuốc thắp sáng rực cả sân. Ðặng sử dụng côn đồng, Võ sử dụng côn sắt.
Ðường côn qua lại nhanh như chớp, mạnh như bão, đẹp như rồng bay
phượng múa. Người đến xem chật cả trong cả ngoài. Tiếng hoan hô vỗ tay
vang dậy cả một góc thành!
Sau cuộc đấu côn này, dư luận xôn xao. Lớp thì khen hai vị võ thần tài nghệ
thật tuyệt luân. Lớp thì chê hai vị công thần không biết tự trọng. Lời thị phi
bay đến tai Vua Quang Trung. Nhà vua liền quở trách Thái Tử và Võ, Ðặng
và cấm Bùi Ðắc Tuyên không được bày những trò vui làm mất thể thống đại
thần như thế nữa.
Không bày được trò vui này, tìm những trò vui khác. Trong nơi quyền quý
thiếu gì trò vui. Lòng ham thích của Thái Tử Toản luôn luôn được Tuyên
làm thỏa mãn.
Vì vậy nên khi lên ngôi báu, Nguyễn Quang Toản liền nhớ đến Tuyên, và
Tuyên nhảy lên ngôi Thái Sư dễ dàng như Võ Ðình Tú nhảy qua nóc nhà,
bất chấp cả quan chế đã đặt sẵn. Trong cung đã có Bùi Thái Hậu. Nơi triều
lại có lắm đại thần nghiêng theo chiều gió, như Ngô Văn Sở, Phạm Công
Hưng nên thế lực của Tuyên rất vững. Tuyên mỗi ngày mỗi thêm lộng
hành. Những quan nào theo Tuyên thì được ưu đãi, những quan nào ra mặt
chống thì bị hại, những người nào có ý chống thì bị đẩy ra làm quan xa. Do
đó mà nơi triều đình sinh ra bè phái chống báng lẫn nhau, làm cho gốc nước
bị lung lay.
Các đại thần trung chính đều bất mãn. Một số quan văn, kẻ thì tìm kế xin về
vườn, kẻ thì bị Tuyên tìm cớ giáng chức hay cách chức. Như:
- Võ Văn Cao, người Phú Yên, làm Quốc Tử Giám trực giảng, được thăng
Thái Tử Trung Doãn đời Quang Trung, tánh cương trực, không chịu nổi thái
độ và hành vi của Tuyên, nhân về cư tang cha mẹ, ở nhà cày ruộng. Có
nhiều bài thơ chê Tuyên là gian thần. Tuyên rất giận. Khi Võ công chết,
Tuyên bảo là giả chết bắt phá quan tài ra xem, Trần Quang Diệu, Võ Văn
Tý. Nhiều sách cũ nói về nhà Tây Sơn cũng chép theo Liệt truyện. Nhưng
trong sách La Sơn Phu Tử, học giả Hoàng Xuân Hãn, đưa ra hai chứng nhân
người Âu Châu là Gúerard và Labousse đều nói rằng Vua Quang Trung chết
vào tháng September 1792. Tính theo Âm lịch thì September năm 1792 kéo
dài từ 15 tháng 7 đến 15 tháng 8 năm Nhâm Tý. Còn ngày 29 tháng 9 năm
Nhâm Tý thì nhằm ngày 13 November 1792. Chúng tôi nhận thấy rằng lời
hai chứng nhân Âu Châu hợp lý hơn là nhà viết sử hậu sinh của nhà Nguyễn.
Vậy Vua Quang Trung băng vào tháng 7 năm Nhâm Tý.
[80] Sử gọi dòng Nguyễn Huệ là Nguyễn Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh là
Nguyễn Gia Miêu.
[81] Bài đăng trên Phổ Thông của Nguyễn Vỹ.
[82] Bản truyền thiếu một chữ.
[83] Tuyên là anh ruột bà hoàng hậu họ Bùi, là anh con bác ruột của Bùi Thị
Xuân.
[84] Tuyên ở Xuân Hòa, Tú ở Phú Phong, hai làng giáp giới nhau (nay nhập
thành một xã) cho nên hai bên quen biết nhau từ lúc nhỏ.
[85] Về Lê Văn Hưng có một giai thoại rằng: Lúc còn trẻ ở nhờ nhà họ
Dương, giao tình cùng với người tớ gái của chủ nhà tên là Ngọc Bích, Hưng
tặng cho Ngọc Bích một chiếc nhẫn vàng hẹn 5 năm sau sẽ đến cưới. Quá
hẹn không thấy Hưng đến, Ngọc Bích nhịn ăn mà chết.