VUA QUANG TRUNG VÀ VẤN ÐỀ NỘI TRỊ - Pdf 17

Quách Tấn, Quách Giao
Nhà Tây Sơn
VUA QUANG TRUNG VÀ VẤN ÐỀ NỘI TRỊ

Phần đất thuộc Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung đã được minh định ngay
sau khi có sự bất hòa giữa hai anh em: từ Hải Vân Quan trở vô là của Vua
Thái Ðức. Từ Hải Vân Quan trở ra là của Vua Quang Trung. Nước nhà tuy
hai trên thực tế nhưng vẫn là một trên danh nghĩa: hai miền Nam Bắc vẫn
lấy niên hiệu Thái Ðức.
Khi Vua Quang Trung lên ngôi Hoàng Ðế, nhất là sau khi chiến thắng quân
Thanh, Bắc Nam mới trở thành hai nước riêng biệt, không xâm lấn lãnh thổ
nhau cũng không can thiệp nội bộ nhau.
Tháng 2 năm Kỷ Dậu (1789), giao phó việc cai trị Bắc Hà cho Ngô Văn Sở,
Ngô Thời Nhậm, Vua Quang Trung trở về Phú Xuân, lo sửa sang việc nước.
1. HÀNH CHÍNH
Chọn kinh đô.
Vua Quang Trung đã có ý đóng đô tại Nghệ An từ lúc còn làm Bắc Bình
Vương. Nhà vua đã nhờ La Sơn Phu Tử chọn đất để lập đô. Ban đầu nhà vua
định chọn Phù Thạch trên sông Lam, gần núi Nghĩa Liệt, sau đổi ra Yên
Trường (Vinh), cuối cùng chọn Dũng Quyết tức vùng núi Phượng Hoàng.
Ðịa thế hùng hiểm.
Phía Nam có sông Cồn Mộc và Sông Lam, phía đông bắc có núi Phượng
Hoàng.
Ðều là hào và thành thiên nhiên che chở cho kinh thành.
Thành không rộng mấy. Bắc Nam chỉ dài chừng 300 mét. Ðông Tây dài
chừng 450 mét. Ðó là nội thành. Ngoại thành chưa xây.
Thành Nghệ An gọi là Phượng Hoàng Trung Ðô.
Cải thành Thăng Long là Bắc Thành.
Vì Phượng Hoàng thành chưa xây xong, nên Vua Quang Trung về ngự tại
núi Phú Xuân suốt thời gian trị vì.
Tổ chức chánh quyền trung ương.

thư sảnh, Trung thư lệnh, Lục bộ Thượng thư Thị lang, Tư vụ
Tổ chức hành chính địa phương.
Ðời nhà Lê nước chia làm 13 trấn: Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải
Dương, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, An Bang, Thanh
Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam.
Ðời Quang Trung, trấn Quảng Nam thuộc về Vua Thái Ðức, Vua Quang
Trung chia Sơn Nam ra làm hai thành Sơn Nam Hạ và Sơn Nam Thượng.
Trấn chia làm nhiều phủ; Phủ chia làm nhiều huyện; Huyện chia làm nhiều
tổng; Tổng chia làm nhiều xã; Xã chia làm nhiều thôn.
Trấn thì có Trấn Thủ (võ) và Hiệp Trấn (Văn) điều khiển. Phủ, Huyện thì có
Tri phủ, Tri huyện cùng chức Phân tri coi việc kiện cáo, chức Phân xuất coi
việc binh lương. Tổng thì có Chánh tổng, Phó tổng. Xã thôn thì có Xã
trưởng, Thôn trưởng.
2. QUÂN SỰ
Tổ chức quân đội.
Theo các triều đại trước, quân đội gồm có 5 quân. Trung, Tiền, Tả, Hữu,
Hậu. Vua Quang Trung tổ chức thêm những đội quân đặc biệt, gọi Tả Bật,
Hữu Bật, Ngũ Chế, Càn Thanh, Thiên Cán, Thiên Trường, Hổ Ðôn, Hổ Hầu,
Thị Lân, Thị Loan.
Mỗi quân gồm 5 bậc là Sư, Lữ, Tốt, Lượng, Ngũ như xưa.
Ở các phủ, huyện, quân đội lại chia ra từng đạo, cơ và đội.
Ðạo thống cơ, cơ thống đội.
Tất cả đều ở dưới quyền viên võ Phân xuất.
Triều Vua Thái Ðức thì lính mộ chớ không bắt.
Vua Quang Trung dùng chính sách cưỡng bách.
Ðể tiện việc kiểm soát trong khi bắt lính, nhà vua đặt ra tín bài.
Tín bài là một chiếc thẻ, một phía thì ghi tánh danh, quản chỉ và dấu lăn tay
hay chữ ký của chủ nhân chiếc thẻ, một phía có đóng dấu ấn có bốn chữ
Quốc gia đại tín. Người nào không có tín bài thì bị bắt sung vào phòng dịch.
Nhà vua còn đặt ra hộ tịch, chia dân ra làm bốn hạng: từ 9 đến 17 tuổi gọi là

được thì bỏ tiền ra thuê người thay thế chớ không được đem nạp cho các nhà
chức trách.
Thuế ruộng đất công tư đều phải xét lại rồi mới phân hạng theo mức sản
xuất hàng năm, và chia làm ba hạng. Thuế nạp bằng lúa. Cũng có thể nạp
bằng tiền tính theo thời giá. Ngoài số lúa là Thập vật tiền là tiền công trả cho
người đứng thâu thuế, và Khoán khố tiền tức là tiền tồn kho. Mức thuế đã
quy định rõ ràng. Thu lên bị tội tham nhũng.
4. VĂN HÓA
Việc học.
Việc học được tổ chức khắp mọi nơi, từ xã đến phủ huyện. Ban Giảng dụ ở
xã giao cho những người học hạnh kiêm toàn ở địa phương hoặc mời ở các
địa phương khác. Xã học do chính quyền địa phương tổ chức. Tư nhân vẫn
có quyền rước thầy về dạy con em trong nhà trong làng, vô điều kiện. Học
sinh ở các trường tư vẫn được coi như học sinh trường công. Các trường phủ
trường huyện thì có Ðốc học, Huấn đạo điều khiển. Những vị thầy trung
ương bổ nhiệm và lựa trong làng khoa bảng triều Lê, lương hướng và phẩm
trật ngang với tri phủ, tri huyện.
Hằng năm vào mùa thu, mở khoa thi Tuấn Sĩ, chọn những phẩn tử ưu tú
thăng vào Quốc học, hạng thứ vào Phủ học.
Học và thi đều dùng hai thứ là chữ Hán và chữ Nôm.
Chữ Nôm.
Chữ Hán là chữ Trung Hoa, nước ta dùng làm Quốc tự đã trên dưới 2.000
năm, tục gọi Chữ Ta. Chữ Nôm do chữ Hán biến chế ra (chữ của nước nhà).
Chữ Nôm có từ khi nào chưa được rõ. Ðời nhà Trần khoảng 1279-1293, các
sĩ phu trong nước dùng chữ Nôm làm thơ Ðường luật, gọi là thơ Hàn luật.
Chữ Nôm từ đó được thịnh hành. Nhưng chỉ trong dân gian dùng mà thôi.
Các giấy tờ nơi cửa công đều dùng chữ Hán. Mãi đến đời nhà Hồ (1400-
1407) mới được các cơ quan chính quyền dùng vào việc từ hàn. Nhà Hồ mất,
chữ Nôm cũng mất địa vị theo. Vua Quang Trung phục hồi chân giá trị.
Có nhiều người có học không hiểu ý nghĩa sâu xa trong việc dùng chữ Nôm

dụng chùa để trốn xâu lậu thuế, để không làm mà có ăn. Nhận thấy làng nào
cũng có chùa, mà phần nhiều thầy chùa ít học, không mấy người hiểu thấu
đạo lý cao sâu của đức Thích Ca, chỉ mượn tiếng tu hành để ký sinh vào xã
hội, nên nhà vua xuống chiếu bắt bỏ những chùa nhỏ ở các làng. Mỗi huyện
hoặc mỗi phủ được cấp gỗ gạch để xây một ngôi chùa đồ sộ khang trang, rồi
chọn những tăng ni có học thức, đạo đức đến trụ trì. Còn những nhà sư đội
lốt tu hành, tục gọi là những Huề mầm đều bắt phải hoàn tục, lo bổn phận
người dân[75].
Các đạo khác như Lão giáo, Ma Ní giáo được tự do truyền bá.
Thiên Chúa giáo cũng không bị ngăn cấm[76]. Nói tóm lại dưới triều Tây
Sơn, nhân dân được tự do tín ngưỡng.
6. CHỌN NHÂN TÀI
Vua Thái Ðức dùng phương Chiêu hiền để có người anh tài ra giúp nước.
Những kẻ sĩ tự mình đến tham kiến hoặc người có uy danh đề cử, nếu xét
quả có tài đức, đều được trọng dụng.
Vua Quang Trung theo các đời trước cho mở các khoa thi Võ và Văn ở tại
kinh đô Phú Xuân, tương tự như những khoa thi Hội đời Lê.
Tất cả mọi người đều được ứng thí.
Ba năm mở một khoa. Khoa đầu tiên mở vào năm Quang Trung thứ nhì
(1789).
Khoa thi văn, gọi là khoa Minh Kinh, có nhiều người ở miền Trong ra ứng
thí. Trúng tuyển vào hạng ưu có:
- Phan Văn Biên ở Phú Yên đã giỏi về Kinh Sử, thông cả bách gia chư tử lại
còn thạo âm nhạc, rành toán pháp. Ðậu xong được bổ ngay làm Huấn Ðạo.
- Ðinh Sĩ An người Bình Khê. Thơ văn thanh khoáng, Cùng Ngô Diên Hiệu,
Phan Ðình Văn, Huỳnh Chiếu nổi danh về văn học. Ðời đời xưng tụng là
Tây Sơn tứ tài tử. Ðậu xong được bổ làm việc ở Nội Các với hàm Hàn Lâm.
- Phạm Văn Tung, người Phù Mỹ, có tiếng hay chữ từ lúc nhỏ, lại có tài cưỡi
ngựa bắn cung. Sơ bổ làm tư vụ ở Các, sau làm Hiệp trấn Phú Yên.
- Trần Trọng Vỹ, người Hoài Ân, thơ hay. Theo nhà Tây Sơn làm một chức

Vua Quang Trung đắc ý, vỗ vai nói:
- Ðây là Hứa Chử của ta.
Rồi cởi chiếc cẩm bào đương mặc ban cho Lê Sĩ Hoàng. Sĩ Hoàng cùng
Quang Diệu được đời tôn xưng là Tây Sơn Song đao.
Hai người đều được triều đình trọng dụng và lập được nhiều chiến công,
cùng với các võ sĩ phò tá Tây Sơn từ trước, được liệt vào hàng lương tướng.
7. DẸP PHIẾN LOẠN
Dư đảng của Vua Lê, ngoài Lê Duy Chỉ dựa vào lực lượng các thổ dân ở các
miền núi ngoài biên giới để chống lại nhà Tây Sơn[78] và đã bị Trần Quang
Diệu dẹp yên, còn các cuộc bạo loạn rải rác ở miền Bắc.
Thứ nhất là cuộc bạo loạn của Trần Quang Châu người huyện Gia Bình
thuộc Bắc Ninh, đã từng giúp Lê Chiêu Thống trốn tránh.Lúc Tôn Sĩ Nghị
kéo quân xâm lấn nước ta Châu theo hộ giá Chiêu Thống và được phong làm
Tiên Phong Ðại Tướng. Quân Thanh thua, Vua Lê bỏ chạy. Châu chạy về
huyện nhà, mộ binh đánh phá các vùng lân cận. Võ Văn Dũng được cử đi
đánh dẹp. Nhờ địa thế hiểm trở binh của Châu cầm cự với quân Dũng từ thu
Tân Hợi (1791) đến xuân Nhâm Tý (1792).
Châu bị bắt, dụ hàng không được nên Dũng đem giết đi. Thứ hai phải kể đến
cuộc dấy loạn của Dương Ðình Tuấn người huyện Yên Thế (Bắc Giang),
phò Lê Chiêu Thống trong lúc ẩn náu để chờ đợi viện binh. Khi Chiêu
Thống chạy theo Tôn Sĩ Nghị, Tuấn ở lại tiếp tục hoạt động chống Tây Sơn,
Ðặng Văn Long phụng mệnh đi tảo trừ. Tuấn đánh không lại, trốn vào rừng
rồi biệt tích.
Ngoài ra còn có Phạm Ðình Ðạt người Vũ Giang (Bắc Ninh), cùng các em là
Tạo sĩ Phạm Ðình Phan, Tiến sĩ Phạm Ðình Dữ và các con là Phạm Ðình
Hân, Phạm Ðình Cù, Phạm Ðình Ninh, Phạm Ðình Duật quật khởi ở núi
Huyền Ðinh tục gọi là núi Treo Ðanh. Thường hoạt động mạnh ở vùng Lạng
Giang. Quân Tây Sơn do Ðặng Văn Long chỉ huy phải đánh dẹp mãi mới
tiêu diệt được.
Những đám phiến loạn dẹp yên, trong nước dồn công sức vào công việc kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status