Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Bộ môn: Nhập môn Kỹ thuật Môi trường
∼1∼
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
3
CHƯƠNG I: BỤI VÀ CÁC VẦN ĐỀ Ô NHIỄM BỤI
4
I. KHÁI NIỆM VỀ BỤI
4
II. PHÂN LOẠI BỤI
4
III. TÁC HẠI CỦA BỤI
4
1. Tác hại của bụi đối với sức khỏe con người 4
2. Tác hại của bụi đối với thực vật 6
3. Tác hại của các chất ô nhiễm đối với vật liệu 6
4. Những tác hại khác
6
IV. NGUỒN GÂY Ô NHIỄM BỤI
7
1. Điều kiện tự nhiên, khí hậu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng
không khí. 7
2. Điều kiện xã hội cũng là nguyên nhân gây ra bụi làm ô nhiễm không khí tại Hà
Nội
7
2.2. Nguồn từ hoạt động công nghiệp 7
∼2∼
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP LÀM SẠCH VÀ THU BỤI TRONG CÔNG
NGHIỆP
19
1. Lọc bụi thải ra từ nhà máy luyện kim. 19
2. Lọc bụi trong sản xuất kim loại màu. 19
2.1. Trong các nhà máy sản xuất chì 19
2.2. Các nhà máy sản xuất kẽm 19
2.3. Các nhà máy luyện đồng 19
2.4. Làm sạch bụi trong khí cấp từ máy quạt gió 20
2.5. Lọc bụi và làm sạch khí trong quá trình sản xuất kim loại màu nhẹ và hiếm 20
3. Hệ thống lọc bụi và làm sạch khí trong công nghệ đốt rác thải. 20
4. Sơ đồ các thiết bị lọc bụi và làm sạch khí nồi hơibitum trong nhà máy nhiệt điện
tại CHLB Đức. 20
KẾT LUẬN
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
22
Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Bộ môn: Nhập môn Kỹ thuật Môi trường
∼3∼
MỞ ĐẦU
Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí đang ở mức báo động, đặc biệt tại thành
phố Hà Nội đang là mối quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như cộng
đồng. Phần lớn các nhà máy, xí nghiệp ở đây chưa có hệ thống xử lý ô nhiễm không
khí hoặc có nhưng hoạt động không thật hiệu quả và đôi khi mang tính chất đối phó.
Bên cạnh đó, với đặc điểm của một nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mang tính
chất sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu đã thải vào môi trường sống một khối lượng
lớn bụi, hơi khí độc gây ảnh hưởng không chỉ cho các công nhân trực tiếp sản xuất mà cho cả
các sản phẩm nông sản, da, nông súc vật
Bụi vô cơ : có nguồn gốc từ kim loại, khoáng chất, đất đá, xi-măng, amiăng.
• Theo hình dáng hạt bụi:
Dạng mảnh ( dạng tấm mỏng).
Dạng sợi.
Dạng khối [2].
• Dựa vào kích thước hạt bụi, người ta chia bụi thành bụi lơ lửng tổng số (TSP) có đường kính
khí động học dưới 100µm, bụi PM
10
có đường kính khí động học dưới 10µm và bụi PM
2,5
có
đường kính khí động học dưới 2,5µm. Bụi PM
10
là loại bụi nhỏ có thể dễ dàng xuyên qua khẩu
trang, xâm nhập và lắng đọng ở đường hô hấp giữa của con người. Bụi PM
2,5
có thể xân nhập
sâu đến tận các phế nang của phổi, là vùng trao đổi của hệ hô hấp. Ảnh hưởng của bụi đối với
sức khỏe phụ thuộc vào tính chất, nồng độ và kích thước của hạt. Bụi có thể gây ra các bệnh
đương hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, mắt da, ung thư,… [1].
III. TÁC HẠI CỦA BỤI
1. Tác hại của bụi đối với sức khỏe con người.
Bụi gây ra nhiều tác hại khác nhau nhưng trong đó tác hại đối với sức khỏe con người là quan
trọng nhất.
Về sức khỏe, bụi có thể gây tổn thường đối với mắt, da hoặc hệ tiêu hóa (một các ngẫu nhiên),
nhưng chủ yếu vẫn là sự thâm nhập của bụi vào phổi do hit thở.
Cần phân biệt tác hại của bụi tan được hoặc không tan trong nước sau khi lắng đọng trong hệ
thống hô hấp.
Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
bông, công nhân khai thác, chế biến bông, công nhân ngành sợi dệt. Bụi có đặc tính gây di ứng.
Triệu chứng ban đầu của bệnh là tức ngực khó thở nhưng chóng qua khỏi sau một thời gian ngừng
làm việc (nghỉ ngơi). Nếu tiếp tục làm việc với loại vật liệu trên mà không có biện pháp an toàn lao
động tốt, sự suy giảm hô hấp có thể xảy ra liên tục và dẫn đến tổn thương nghiêm trọng cho hệ hô
hấp [3].
2. Tác hại của bụi đối với thực vật.
Tác hại đầu tiên của ô nhiễm bụi đối với thực vật dễ dàng nhận thấy là độ trong suốt của khí
quyển đối với ánh sáng mặt trời bị giảm, cộng với lớp bụi bao phủ trên lá cây làm cho khả năng
quang hợp, trao đổi khí (hô hấp) và thoát hơi nước – 3 chức năng sinh học quan trọng của cây –
đều bị hạn chế. Hậu quả là năng suất cây trồng bị giảm, mùa màng bị thất thu.
Ngoài ra nếu bụi có chứa các chất ô nhiễm khác như các hợp chất flo, lưu huỳnh, kim loại nặng
v.v. thì ngoài tác hại trực tiếp đến quá trinh sinh trưởng của cây cối còn có khả năng tác hại gián
tiếp đối với người và súc vật khi sử dụng các bộ phận khác nhau của thực vật làm thức ăn [3].
3. Tác hại của các chất ô nhiễm đối với vật liệu.
Bụi trong không khí có tác động làm tăng quá trình han gỉ của kim loại, đặc biệt là bụi than, bụi
ximăng có chứa SO2 và vôi.
Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Bộ môn: Nhập môn Kỹ thuật Môi trường
∼6∼
Hợp kim có độ bền vững cao dưới tác dộng hóa học của ô nhiễm không khí, tuy nhiên bề mặt
vật liệu đã hoàn thiện cũng có thể bị mài mòn hoặc hoen ố do bụi bám.
Ô nhiễm bụi trong không khí cũng gây tác hại đáng kể đối với vật liệu xây dựng do quá trình cọ
xát mài mòn các bề mặt công trình bằng đá, gạch, kính, sơn khi có gió mạnh, tương tự như quá
trình xử lý bề mặt bằng máy phun cát.
Bụi trong không khí gây tác hại đáng kể cho đồ may mặc, làm cho quần áo chóng đen bẩn,
chóng bị mài mòn, nhất là khi bụi có chứa các thành phần như SO2, H2S v.v…
Đối với các vật liệu điện, điện tử: thiết bị công suất thấp thường bị trục trặc nhiều nhất do bụi
bám trên các công tắc tiếp xúc, cầu dao làm cho mạch điện không thông suốt khi đóng điện. Nguy
hại hơn nếu trong bụi có chứa các hợp chất ăn mòn kim loại. Bụi cũng có thể bám trên các bộ phận
gia tăng dân số cũng là vấn đề tạo nên ô nhiễm không khí đặc biệt là bụi. Đến năm 2010 dân số Hà
Nội sấp xỉ 6,5 triệu người với diện tích 3.324,92 km
2
, dân số đông diện tích trật hẹp, cơ sở hạ tầng
còn chưa cao đã làm không khí nhiều bụi hơn.
Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Bộ môn: Nhập môn Kỹ thuật Môi trường
∼7∼
Những hoạt động kinh tế xã hội đang tạo sức ép lớn với môi trường không khí đô thị bao gồm
hoạt động sản xuất công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, hoạt động xây dựng và hoạt động
dân sinh.
Hà Nội có số lượng phương tiện cơ giới đường bộ (ôtô, xe máy) lớn thứ hai trên cả nước với tốc
độ gia tăng 10% đối với ôtô và 15% đối với xe máy. Trong đó, có nhiều phương tiện không đủ tiêu
chuẩn lưu hành do mức độ ô nhiễm của chúng lớn hơn tiêu chuẩn cho phép [1].
2.1. Nguồn từ hoạt động công nghiệp
Chủ yếu là do hoạt động công nghiệp đốt cháy nhiên liệu hoá thạch,đặc điểm là nồng độ chất
độc hại rất cao và tập trung trong không gian nhỏ thường là hỗn hợp bụi và hơi độc hại .Nguồn ô
nhiễm công nghiệp do hai quá trình sản xuất gây ra.
Ở Hà Nội vẫn còn nhiều nhà máy sản xuất luyện kim vẫn tồn tại và hoạt động từ rất lâu. Sử
dụng công nghệ cũ thiết bị xuống cấp vì thế mà hiệu quả làm việc của thiết bị lọc bụi thấp. Nhà
Nước chưa quan tâm đúng mức đến tác hại của bụi vì thế mà chưa có một luật nào đủ mạnh để các
hoạt động thải bụi ra môi trường của các cơ sở được kiểm soát. Chưa đầu tư đúng mức cho các
công nghệ làm sạch môi trường cũng như nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này.
Bụi có trong không khí ở quá trình luyện kim và một số nghành khác ( công nghiệp hóa chất,
hầm mỏ,…) .Sau đây là một số các hoạt động công nghiệp chính gây bụi ở Hà Nội.
*) Nhà máy nhiệt điện
Các nhà máy thường dùng chủ yếu là nhiên liệu rắn như than…,ngoài ra còn dùng dầu FO,
Điezen. Khói ra thường chứa lượng bụi tro lớn 10-30 g/m3 và các chất độc hại sinh ra trong quá
trình cháy nhiên liệu.Ống khói thường cao 80-250m thải vào khí quyển. Sự lan truyền khói có thể
trường Ví dụ nhà máy đóng giầy thải ra nhiều bụi da, khí sơn, quang dầu….
*) Nhà máy vật liệu xây dựng
Các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng như nhà máy ximăng,xưởng bê tông,lò nung vôi, xưởng
sản xuất gạch ngói….,đều là các nguồn gây bụi ra môi trường không khí, đặc biệt lò thủ công kĩ
thuật lạc hậu ….Chất thải của nhà máy này chủ yếu là bụi do đất đá,do đốt nhiên liệu rắn….Các
nhà máy ,xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thải ra rất nhiều bụi chủng loai khác nhau nhưng lại
không có đa dạng các biện pháp xử lí.
2.2. Nguồn từ giao thông vận tải và hoạt động xây dựng
Bụi do giao thông vận tải cũng là nguồn lớn: các loại ôtô và xe máy gây ô nhiễm bụi đất đá và
bụi khí độc hại do cháy nguyên liệu trong động cơ thải qua ống xả. Đặc điểm của nguồn này
thường gây bụi trong nội thành Hà Nội. Bụi và khí độc hại do máy bay sẽ rất nhỏ. Do Hà Nội là
một thành phố đông đúc với nhiều loại phương tiện đa dạng nên bụi cũng tồn tại dưới các thể phức
tạp hơn.
Nhiều hoạt động xây dựng còn diễn ra không đúng thời gian cho phép.Trong quá trình xây dựng
có rất nhiều ôtô lớn vận chuyển nguyên vật liệu dù có che chắn cẩn thận thì lượng bụi cũng là rất
lớn, không kể còn nhiều xe không che chắn thì tuyến đường đó bị bụi bao phủ toàn bộ. Một hiện
tượng phổ biến ở các công trình xây dựng hiện nay là lưới chắn rách, chắn nửa vời hoặc thậm chí
không chắn. Che chắn qua loa là biện pháp họ đối phó quy định của các cơ quan chức năng.Nguồn
gây ô nhiễm không chỉ là bụi từ các phương tiện vận chuyển và các công trình xây dựng mà còn từ
nguồn vật liệu được đổ bừa bãi.
2.3. Nguồn từ hoạt động dân sinh
Bụi chủ yếu do người dân sử dụng các loại nhiên liệu than đá, củi, dầu hỏa, khí đốt…gây ô
nhiễm trong nhà và khu dân cư.Hiện nay vẫn phổ biến người dân dùng than để đun nấu trong các
đô thị, khu tập thể nơi có không gian kín ,khói bụi khó thoát ra…bình quân một gia đình tiêu thụ
2kg than/ngày, tức là 50kg-1tháng.Ngoài ra bụi còn do người dân vứt rác không tập chung,làm
công việc thu gom rác của các công nhân môi trường gặp khó khăn.Không những thế nhiều người
dân còn vứt xác động vật chết thối giữa như chuột,chó,mèo…ra sông,suối,hồ ủ trong túi….khói
bụi do những hành vi này khó mà kiểm soát được.Bụi do hoạt động dân sinh chủ yếu là do ý thức
người dân còn thấp.nhận thức về môi trường còn kém,không chấp hành nghiêm chỉnh [6].
V. HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM BỤI Ở HÀ NỘI
ngã ba Nguyễn Phong Sắc – Trần Đăng Ninh (đây là thông tin do ông Hoàng Dương Tùng, GĐ
Trung tâm Quan trắc và Thông tin môi trường đưa ra tại buổi công bố báo cáo “Triển vọng Môi
trường toàn cầu4”.
1. Bụi tại các công trình xây dựng
Hà Nội là thành phố đang trên đà phát triển với nhiều dự án xây dựng lớn. Tuy nhiên khâu đảm
bảo vệ sinh môi trường chưa được các chủ thầu quan tâm nên tình trạng bụi tại các công trường thi
công đang là một vấn để nan giải
Theo thống kê trên địa bàn Hà Nội có hơn 1000 công trình đang thi công và trung bình hàng
tháng có trên 10.000m
2
đường bị đào xới, đây là nguồn phát thải bụi cực kỳ lớn.
Một vài dẫn chứng cụ thể:
Theo số liệu của trạm quan trắc đặt tại phố Nguyễn Văn Cừ - tuyến phố được ưu tiên chỉnh trang
nhân dịp đại lễ, trong những ngày không đào đường thì nồng độ bụi ít hẳn. Trong ngày đào đường,
cùng với gió to và nhiều phương tiện giao thông qua lại, có những giờ nồng độ bụi cao hơn 10 lần
tiêu chuẩn cho phép.
Cá biệt, có những ngày, theo ông Hoàng Dương Tùng, nồng độ bụi PM
10
–loại bụi có kích thước
bé hơn 10µm – đo được tại các điểm đào lấp đường lên tới con số hàng nghìn so với mức bình
thường là 150. Các công trình xây dựng khác cũng có mức độ ô nhiễm bụi ở mức cao và đều vượt
qui chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN).
Ngoài ra, tại một số đoạn đường có công trình xây dựng thì nồng độ bụi có thể vượt tiêu chuẩn
cho phép hàng chục lần theo kết quả tính toán của Trung tâm quan trắc môi trường [8].
Đặc biệt, PM
10
trung bình năm của Hà Nội đều vượt QCVN, theo số liệu theo dõi nồng độ bụi
TSP (nồng độ bụi lơ lửng) trong không khí tại một số đô thị Việt Nam giai đoạn 2006 – 2008 của
Trung tâm quan trắc môi trường
Do đó, theo Giám đốc Trung tâm quan trắc môi trường Hoàng Dương Tùng khẳng định ô nhiễm
đường Nguyễn Trãi có vị trí vượt TCCP tới 11 lần; đường Nguyễn Văn Linh vượt 10,8 lần; ngã ba
Tam Trinh - Lĩnh Nam có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn 5,2 lần; đường Phạm Văn Đồng vượt 3,6
lần; đường 428 - Pháp Vân tại ngã ba Guột có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn 4,4 lần. Một loạt các
"phố bụi" khác như Khuất Duy Tiến, Lê Văn Lương, Kim Giang, Khương Đình có nồng độ bụi cao
gấp từ 3,8 đến 6,3 lần so với tiêu chuẩn [7].
So sánh kết quả quan trắc bụi tại 45 điểm trong 2 năm cho thấy, có những đường phố có hàm
lượng bụi cao gấp đôi, thậm chí gấp 5 lần chỉ trong vòng 1 năm. Cụ thể như đường Hoàng Quốc
Việt năm 2007 nồng độ bụi là 222,2 µg/m³, sang năm 2008 lên tới 414,3 µg/m
3
; đường Trần Duy
Hưng năm 2007 nồng độ bụi là 328,3 µg/m³ đến năm 2008 lên tới 861,4 µg/m³.
Đường Nguyễn Chí Thanh chỉ sau một năm, nồng độ này cũng tăng lên đáng kể, từ 172,2 µg/m³
lên 244,2 µg/m³; nồng độ bụi tại đường Bưởi cũng tăng lên gấp 3 - 4 lần từ 227,2 µg/m³ lên 808,5
µg/m³.
Tại một số tuyến phố, nồng độ bụi vọt lên trên 1.000µg/m
3
như An Dương Vương từ
244,3µg/m
3
lên 1.002,3µg/m
3
; Ngô Gia Tự từ 287,0µg/m
3
lên 1.278,6µg/m³; Khuất Duy Tiến từ
831,1µg/m
3
lên 1.138,1 µg/ m³; nồng độ bụi trên đường Xuân Thuỷ từ 225,3µg/m
3
vọt lên 1.202,8
µg/m³ cũng chỉ sau 1 năm. Một loạt các phố khác như Nguyễn Khoái, Minh Khai, khu vực Trung
không khí nói riêng xung quanh các nhà máy, các khu công nghiệp tập trung sẽ đứng trước nguy
cơ bị xấu đi trầm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân. Ô nhiễm không khí do
hoạt động công nghiệp vẫn đang và sẽ là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng nhất.Lượng bụi thải từ các khu công nghiệp ở Hà Nội là 5.231 kg/ngày [4].
Các nguồn gây ô nhiễm dạng hạt của công nghiệp rất đa dạng và rất phổ biến. Các loại bụi cũng
rất đa dạng từ những loại bụi vô cơ, kích thước rất nhỏ cho đến các loại bụi có kích thước lớn. Một
số nhà máy ở Hà Nội mà nguồn ô nhiễm không khí chủ yếu là bụi, nồng độ bụi trong khí thải của
một số nhà máy, xí nghiệp ở HN:
Các nhà máy chế biến gỗ
Các trạm trộn bê tông, bê tông nhựa nóng
Các nhà máy chế biến lương thực
Các nhà máy chế biến thuốc lá
Công ty Bia Hà Nội: 4.739,0 mg/m
3
Công ty Dệt 8/3: 644,5 mg/m
3
Công ty rượu bia Thăng Long: 704,3 mg/m
3
Xí nghiệp gạch ngói Văn Điển: 4.667,7 mg/m
3
Công ty diêm Thống Nhất: 2.278,3 mg/m
3
Trong khi đó, theo tiêu chuẩn VN, giới hạn tối đa nồng độ bụi trong khí thải là 600 mg/m
3
[7].
Trong 10 năm qua, bụi lơ lửng tại Hà Nội do công nghiệp và thủ công nghiệp gây ra chiếm tới
67%, ô nhiễm TSP đã xảy ra trầm trọng ở khu công nghiệp Thượng Đình: Cao su Sao Vàng, thuốc
lá Thăng Long, Bóng đèn - Phích nước Rạng Đông với đường kính khu vực ô nhiễm khoảng
1,7km và nồng độ lớn hơn tiêu chuẩn cho phép 2 - 4 lần [10].
4. Ô nhiễm do hoạt động dân sinh, tiểu thủ công nghiệp
Xây dựng các cơ chế và chính sách cho việc lựa trọn việc lưu hành các phương tiện giao thông
(thuế môi trường, quy định cấm xe lam, xe 3 bánh…).
Xây dựng khung pháp lý cụ thể và đủ mạnh để răn đe các hành vi gây ô nhiễm môi trường nói
chung và phát thải bụi nói riêng. Ví dụ: chuyên chở vật liệu xây dựng không che chắn hợp lý, chạy
không đúng khung giờ quy định…. Các cơ quan chức năng có thể tạm thu giữ phương tiện không
tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật chống rơi vãi trong vận chuyển và chỉ định địa điểm khắc phục
cho đến khi khắc phục xong, chủ phương tiện phải chịu hoàn toàn chi phí khắc phục.
Cần có các tổ chức giám sát, kiểm tra các công trình xây dựng, đưa ra các hình phạt thích đáng
đối với những đối tượng vi phạm. Ví dụ: Xử phạt tài chính theo mức độ gây ô nhiễm, trong trường
hợp vi phạm ở mức độ nghiêm trọng có thể đình chỉ hoạt động.
Các điểm buôn bán, khai thác VLXD, đề nghị chỉ cấp giấy phép kinh doanh cho các cơ sở, bến
bãi tập kết và bán VLXD đủ tiêu chuẩn về môi trường. Cần phải có quy hoạch không để các điểm
khai thác cát và vật liệu ven sông Hồng, khu vực nội thành. Các điểm buôn bán vật liệu rời không
để trong khu vực trung tâm từ vành đai 2 trở vào.
Các đơn vị khai thác phải chịu trách nhiệm về ATGT và VSMT tại xung quang công trường và
đường nội bộ từ điểm khai thác đến đường giao thông chính…Thành phố nên giao cho các quận,
huyện tổ chức lực lượng duy trì chống đổ trộm đất, phế thải, bảo đảm VSMT trên địa bàn mình
quản lý, lực lượng Thanh tra GTVT và Công an chỉ giữ vai trò hỗ trợ.
Ngoài ra để giải quyết tình trạng ô nhiễm một cách triệt để chúng ta cần phải có sự phối kết hợp
của nhiều bộ, ngành, cơ quan liên quan. Xây dựng và ngày một hoàn thiện hệ thống pháp luật liên
quan đến môi trường, bổ sung nhiều tiêu chuẩn liên quan đến môi trường không khí. Thành lập các
đội thanh tra môi trường trực tiếp kiểm tra đánh giá chất lượng của các cơ sở sản xuất.
3. Trong Các vấn đề về sinh hoạt và dịch vụ.
Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Bộ môn: Nhập môn Kỹ thuật Môi trường
∼14∼
Khuyến khích việc sử dụng hạn chế năng lượng hoá thạch và thay vào đó là sử dụng năng lượng
sạch, thân thiện với môi trường không gây ô nhiễm, ủng hộ việc sử dụng điện, ga thay thế cho các
nhiên liệu truyền thống (than, dầu, củi,…). Phát huy nhiều ý tưởng, trong việc tận dụng, xử lý rác
bằng gia công ướt ít bụi hơn hay thay vì đốt bằng than thì đốt bằng điện Tạo ra một chu trình sản
xuất kín có tác dụng loại trừ các chất ô nhiễm không khí ngay trong quá trình sản xuất. Bằng cách
sử dụng tuần hoàn một phần hay toàn bộ các khí thải trong quy trình sản xuất, hoặc tái sử dụng
chúng cho việc sản xuất sản phẩm khác sẽ giảm bớt hoặc triệt tiêu hoàn toàn khí thải [5].
5. Một số biện pháp khác.
Cây xanh có tác dụng rất lớn trong việc hạn chế ô nhiễm không khí như thu hút bụi, lọc sạch
không khí, giảm và che chắn tiếng ồn, giảm nhiệt độ không khí. Một số loại cây xanh rất nhạy cảm
với ô nhiễm không khí, cho nên có thể dùng cây xanh làm vật chỉ thị để phát hiện ô nhiễm. Vì thế
nên trồng nhiều cây xanh trong khuôn viên và xung quanh các nhà máy, dọc các đường giao thông,
trong khu đệm giữa các khu công nghiệp, thương mại và dân cư. Tỷ lệ diện tích cây xanh trên diện
tích khu công nghiệp cần đạt từ 15 đến 20% [5].
Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Bộ môn: Nhập môn Kỹ thuật Môi trường
∼15∼
Nhà nước tăng cường đầu tư các hệ thống phun nước, rửa đường thường xuyên tại các điểm nút
giao thông (đường Giải Phóng, Minh Khai, nút Chùa Bộc – Tôn Thất Tùng, nút Ngã tư Sở, đường
Phạm Hùng,…), phun sương tại các cơ sở công cộng như: trường học, bệnh viện, cơ quan, xí
nghiệp…
Tăng số lượng nhân viên dọn dẹp môi trường. Có các chính sách đãi ngộ với những đối tượng
này (tăng lương, thưởng, …). Phát động phong trào phân loại rác, tái chế rác.
Triển khai, áp dụng bê tông hút bụi vào xây dựng công cộng.
Duy trì các điểm trung chuyển phế thải xây dựng tại các quận như hiện nay và các điểm này chỉ
tiếp nhận phế thải từ xe thô sơ, còn xe tải bắt buộc đổ tại các bãi tập trung của thành phố.
Quản lý chặt chẽ các đơn vị, phương tiện chuyên chở phế thải, VLXD, kiểm tra định kỳ các điều
kiện như thùng xe, nắp đậy phải đủ tiêu chuẩn mới được phép hoạt động. Bắt buộc các đơn vị có
nhu cầu chuyên chở VLXD khối lượng lớn phải đăng ký lộ trình quy định.
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP LÀM SẠCH VÀ THU BỤI
1. Theo phương pháp lắng trọng lực
Các hạt bụi đều có khối lượng dưới tác dụng của trọng lực các hạt bụi có xu hướng chuyển động
cattông, bông ,lớp vật liệu xốp hoặc các vật liệu dạng cục (cát, đá cuội, hạt cốc).
Hiệu quả làm việccủa các thiết bị lọc bụi bị giảm do tang độ phân tán hạt bụi, do vậy trong lĩnh
vực kĩ thuật lọc bụi có khuynh hướng tăng kích thước hạt bụi để tang hiệu quả lọc bụi. Một trong
số các phương pháp đóngwng tụ hơi dịch thể. Nước ngưng tũe bám trên các mầm ngưng t, phương
pháp hiệu quả lọc bụi lớn hơn [6].
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP LÀM SẠCH VÀ THU BỤI TRONG CÔNG
NGHIỆP
Các cụm công nghiệp cũ trong nội thành Hà Nội cần được cải tạo, từng bước giải quyết tình
trạng ô nhiễm môi trường. Dần dần tiến hành di rời các các nhà máy xí nghiệp ra khỏi thành phố.
Còn với các cụm công nghiệp mới được xây dựng thì cần có những quy định cụ thể về mặt môi
trường đối với các cơ sở sản xuất này cũng như cần phải đánh giá ĐTM trước, trong và sau khi dự
án công trình được xây dựng.Khuyến khích các cơ sở sử dụng máy móc, trang thiết bị và ứng dụng
các công nghệ mới thân thiện môi trường.
Quy hoạch phân loại các khu công nghiệp và phân bố không gian trên địa bàn thành phố Hà Nội
phải có ý kiến của Sở Tài Nguyên Môi Trường và Nhà Đất Hà Nội.
1. Lọc bụi thải ra từ nhà máy luyện kim.
Chiếm tỉ lệ lớn trong khí thải công nghiệp Hà Nội trong đó bụi chiếm 20%.Trong nhà máy luyện
kim, các xưởng thiêu kết, năng lượng có tỉ lệ chất độc hại thoát ra nhiều nhất. Các hại bụi khó thu
hồi là bụi thoát ra ở các xưởng thổi, lò thổi, lò Máctanh.
Lọc bụi trong xưởng thiêu kết: Bụi có trong khí thoát ra từ nhà máy thiêu kết phụ thuộc lượng
hạt nhỏ có trong phối liệu, độ ẩm phối liệu và việc chuẩn bị. Giá trị của nó dao động trong giới hạn
5-30 kg/tấn quặng thiêu kết.Lượng bụi có trong khí thường khoảng 2-6 g/m3. Nhiều nhà trong
những năm gần đây sử dụng nhiều hệ thống thiệu bị lọc bụi theo phương pháp ẩm khác nhau,
nhưng vẫn không đảm bảo làm sạch khí đến định mức vệ sinh môi trường.
2. Lọc bụi trong sản xuất kim loại màu.
2.1 Trong các nhà máy sản xuất chì
Bụi thu hồi được trong quá trình sản xuất chì chủ yếu trong quá trình thiêu kết, lò đứng và bụi
thăng hoa của sỉ. Khí ra từ nhà máy thiêu kết được làm sạch tring thiết bị lọc bụi điện thô và túi
vải, làm sạch bụi từ lò đứng có thể dùng phương pháp lọc bụi điện khô, túi vải , phương pháp ẩm.
2.2 Các nhà máy sản xuất kẽm
Khí ra từ buồng đốt bitum có lưu lượng khoảng 350 m3/s vói nhiệt độ 150oC, hàm lượng bụi
trong khí 21,5 g/m3 được dẫn vào thiết bị lọc bụi tĩnh điện để đạt hàm lượng bụi trong khí 50
mg/m3. Khí này được hút qua quạt hút và đẩy qua tháp rửa khí SO2 và thoát ra ngoài khí quyển
[6].
Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Bộ môn: Nhập môn Kỹ thuật Môi trường
∼18∼
KẾT LUẬN
ụi là tập hợp những hạt rất nhỏ bé tuy nhiên tác hại của chúng vô cùng to lớn cho sức
khỏe con người, kinh tế - xã hội và hệ sinh thái. Nguồn gây ra ô nhiễm bụi rất đa dạng,
chủ yếu là từ các hoạt động công nghiệp, giao thông, xây dựng. Cụ thể ở Hà Nội, tình
trạng ô nhiễm bụi đang diễn ra thường xuyên và ngày càng gia tăng gây ra sự khó chịu
cho người dân, thiệt hại đến nền kinh tế, mỹ quan đô thị. Các công trình xây dựng không được che
chắn, các tuyến đường không ngừng bị đào xới, hoạt động giao thông không quy hoạch hợp lý, các
phương tiện giao thông phục vụ xây dựng không tuân thủ các quy định che chắn, các nhà máy
công nghiệp chưa xử lý khí thải một cách hiệu quả, góp thêm vào đó là ý thức chưa tốt của người
dân đang làm cho tình trạng ô nhiễm ngày một trầm trọng và khó kiểm soát. Đã đến lúc chúng ta
cần có tiếng nói và hành động để hạn chế tinh trạng này, Nhà nước cần có những biện pháp cải
thiện cơ sở hạ tầng, tăng cường pháp luật, xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm; trong
công nghiệp, nên đổi mới công nghệ, trang thiết bị; tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ
môi trường cho người dân. Đây là một việc không đơn giản, cần có sự chung tay , góp sức của Nhà
nước và toàn thể nhân dân. Hướng tới một thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến xanh – sạch – đẹp
trong tương lai không xa!
B
Do đây là lần đầu thực hiện một văn bản khoa học nên không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm
chúng em hi vọng nhận được sự góp ý và phê bình của thầy để chúng em rút kinh nghiệm cho
những lần sau.
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy!
Trường đại học Bách Khoa Hà Nội