MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................................... 1
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ VÀ GIÁ TRỊ PHI SỬ DỤNG
CỦA MỘT VƯỜN QUỐC GIA ............................................................................................ 4
1.1. Vườn Quốc gia và Tổng giá trị kinh tế của Vườn Quốc gia ......................................................... 4
1.1.1.Vườn Quốc gia và sự cần thiết đánh giá giá trị của VQG .............................. 4
1.1.2. Tổng giá trị kinh tế của một Vườn Quốc gia ............................................... 6
1.1.3. Phương pháp định giá giá trị của một VQG .............................................. 10
1.2. Phương pháp chi phí du lịch định giá giá trị giải trí của VQG ................................................... 11
1.2.1. Phương pháp chi phí du lịch (TCM - Travel Cost Method) ......................... 11
1.2.2. Mô hình lý thuyết hàm chi phí du lịch ........................................................ 12
1.2.3. Một số phương pháp tiếp cận chi phí du lịch ............................................. 14
1.2.4. Tổng quan các nghiên cứu sử dụng phương pháp chi phí du lịch để đánh giá
giá trị cảnh quan ............................................................................................. 19
1.2.5. Một số ưu điểm hạn chế của phương pháp chi phí du lịch .......................... 21
1.3. Phương pháp định giá ngẫu nhiên trong định giá giá trị phi sử dụng ........................................ 22
1.3.1. Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) . . 22
1.3.2. Mô hình lý thuyết về định giá ngẫu nhiên .................................................. 24
1.3.3. Các bước tiến hành định giá ngẫu nhiên ................................................... 26
1.3.4. Tổng quan các nghiên cứu sử dụng CVM đo lường giá trị phi sử dụng của
môi trường ...................................................................................................... 28
1.3.5. Một số ưu điểm và hạn chế của phương pháp định giá ngẫu nhiên ............. 31
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ - BẮC KẠN .............................. 33
2.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển VQG Ba Bể ............................................................... 33
2.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ....................................................................................... 35
2.2.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 35
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ......................................................................... 37
2.3. Giá trị cảnh quan và giá trị đa dạng sinh học của VQG Ba Bể .................................................. 39
2.3.1. Giá trị cảnh quan văn hoá lịch sử ............................................................. 39
2.3.2. Giá trị đa dạng sinh học .......................................................................... 41
2.4. Hoạt động của Vườn Quốc gia Ba Bể ...................................................................................... 45
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BV GIÁ TRỊ LƯU TRUYỀN
BỘ NN&PTNT BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CVM PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ NGẪU NHIÊN
DLST DU LỊCH SINH THÁI
ĐDSH ĐA DẠNG SINH HỌC
EV GIÁ TRỊ TỒN TẠI
NUV GIÁ TRỊ PHI SỬ DỤNG
OLS PHƯƠNG PHÁP BÌNH PHƯƠNG NHỎ NHẤT
TCM PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH
TCTK TỔNG CỤC THỐNG KÊ
TEV TỔNG GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA MÔI TRƯỜNG
TNBQ THU NHẬP BÌNH QUÂN
UV GIÁ TRỊ SỬ DỤNG
VQG VƯỜN QUỐC GIA
WTA BẰNG LÒNG CHẤP NHẬN
WTP BẰNG LÒNG CHI TRẢ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÊN BẢNG TRANG
Bảng 1.1: Giá trị tồn tại và giá trị để lại của một số VQG 29
Bảng 2.1: Thu nhập của dân cư vùng hồ Ba Bể 37
Bảng 2.2: So sánh tài nguyên thú rừng một số VQG 45
Bảng 2.3: Số lượng khách du lịch đến Ba Bể từ 2003 đến 2005 49
Bảng 3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách trong nước 59
Bảng 3.2: Đặc điểm kinh tế xã hội của du khách nước ngoài 61
Bảng 3.3 : Số du khách trong mỗi nhóm 62
Bảng 3.4: Đánh giá chất lượng môi trường của du khách 64
Bảng 3.5: Tỷ lệ du khách theo vùng xuất phát 68
Bảng 3.6: Phương tiện du khách sử dụng đến VQG 70
từ những năm 1960, Nhà nước đã cho thành lập các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn
thiên nhiên để bảo tồn các giá trị của rừng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các Vườn
Quốc gia, các Khu bảo tồn vẫn bị xâm hại vì những lợi ích trước mắt. Lý do được
nhìn nhận trên quan điểm kinh tế là chúng ta chưa hiểu hết giá trị của rừng.
Cuộc sống của con người tại các quốc gia nhiệt đới như Việt Nam phụ thuộc
rất nhiều vào rừng. Rừng không chỉ cung cấp cho con người những giá trị sử dụng
trực tiếp như gỗ củi, các loài động thực vật mà còn mang lại nhiều giá trị gián tiếp
như hấp thụ cácbon, hạn chế lũ lụt, tạo ra những cảnh quan và là nguồn cảm hứng
sáng tạo của loài người. Hơn thế, việc bảo tồn các giá trị của hệ sinh thái rừng không
chỉ mang lại lợi ích cho thế hệ hiện tại mà còn mang lại lợi ích cho thế hệ tương lai.
Vườn Quốc gia Ba Bể là một trong số 28 VQG ở Việt Nam có giá trị cảnh quan
độc đáo và tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài đặc hữu. Đây là một VQG với đầy
đủ các nét đặc trưng của một rừng nguyên sinh miền Bắc đồng thời là một hệ sinh thái
đất ngập nước với một hồ nước ngọt lớn bậc nhất cả nước. Vườn được thành lập từ
năm 1992 với nhiệm vụ bảo tồn các hệ động thực vật, nghiên cứu khoa học và phát
triển du lịch sinh thái. Thời gian gần đây việc phát triển du lịch và phát triển kinh tế
của dân cư quanh Vườn đã tạo sức ép đối với công tác bảo tồn. Do đó, việc nhận thức
đầy đủ các giá trị của Vườn sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo tồn.
Đề tài “Đánh giá giá trị giải trí và giá trị phi sử dụng của Vườn Quốc gia
Ba Bể - Bắc Kạn” được thực hiện nhằm xác định giá trị giải trí của VQG Ba Bể bằng
1
phương pháp chi phí du lịch và xác định giá trị phi sử dụng bằng phương pháp định giá
ngẫu nhiên. Đây là những giá trị phi thị trường mà việc bảo tồn VQG có thể mang lại
cho thế hệ hiện tại và tương lai. Từ trước tới nay người ta đều nhận thức được các giá trị
vô hình này song việc lượng giá chúng không dễ dàng, mặc dù theo một số nghiên cứu
ngoài nước thì chỉ riêng giá trị phi sử dụng đã chiếm khoảng 35 -70% giá trị của tài sản
môi trường.
Mặt khác, với giá trị cảnh quan, đã có nhiều nghiên cứu đánh giá ở trong và
ngoài nước nhưng với giá trị chưa sử dụng có thể đây là một nghiên cứu đầu tiên ở
Việt Nam. Do đó, đề tài mong muốn xây dựng một phương pháp xác định giá trị
Chương 1: Lý thuyết về đánh giá giá trị giải trí và giá trị phi sử dụng của một VQG.
Chương 2: Tổng quan về Vườn Quốc gia Ba Bể - Bắc Kạn.
Chương 3: Đánh giá giá trị giải trí và giá trị phi sử dụng của VQG Ba Bể.
3
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ VÀ
GIÁ TRỊ PHI SỬ DỤNG CỦA MỘT VƯỜN QUỐC GIA
1.1. Vườn Quốc gia và Tổng giá trị kinh tế của Vườn Quốc gia
1.1.1.Vườn Quốc gia và sự cần thiết đánh giá giá trị của VQG
1.1.1.1 Vườn Quốc gia
Vườn Quốc gia là một vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo tồn hệ sinh
thái chuẩn của một đất nước. Đó là một khu rừng đặc dụng được quản lý và bảo vệ
nghiêm ngặt nhằm bảo vệ lâu dài một hay nhiều hệ sinh thái, bảo đảm các yêu cầu cơ
bản sau:
1- Là vùng đất tự nhiên bao gồm mẫu chuẩn của các hệ sinh thái cơ bản (còn
nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người); các nét đặc trưng về sinh cảnh của các
loài động, thực vật; các khu rừng có giá trị cao về mặt khoa học, giáo dục và du lịch.
2- Là vùng đất tự nhiên đủ rộng để chứa đựng được một hay nhiều hệ sinh
thái và không bị thay đổi bởi những tác động xấu của con người; tỷ lệ diện tích hệ
sinh thái tự nhiên cần bảo tồn phải đạt từ 70% trở lên.
3- Là khu vực có điều kiện về giao thông tương đối thuận lợi.
Hiện nay, Việt Nam đã thành lập 28 VQG phân bố ở cả ba miền, được quản lý
bảo vệ theo quy chế quản lý rừng đặc dụng. Việc quản lý VQG được phân cấp giao
cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong trường hợp VQG nằm trên địa bàn
của nhiều Tỉnh, còn lại giao cho Ủy ban nhân dân Tỉnh quản lý nếu VQG nằm trên
địa bàn một địa phương.
Mỗi VQG đều được thành lập một ban quản lý. Ban quản lý là chủ rừng, được
giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chịu trách nhiệm
quản lý, bảo vệ và xây dựng khu rừng được giao.
Do tầm quan trọng của bảo tồn mà Vườn Quốc gia được chia thành các phân
khu chức năng như sau:
trường là các VQG làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách về khai thác, sử dụng
và quản lý VQG.
5
Ở Việt Nam, việc định giá giá trị của tài sản môi trường là một VQG hay khu
bảo tồn thiên nhiên còn mới mẻ song nếu thực hiện được sẽ có ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, Nhà nước đang thực hiện đầu tư rất lớn bằng ngân sách cho hoạt
động bảo tồn các hệ sinh thái cảnh quan VQG song lợi ích thu được mới chỉ được
nhìn nhận định tính. Lượng giá giá trị của VQG hay khu bảo tồn thiên nhiên sẽ giúp
nhìn nhận lợi ích từ công tác bảo tồn đầy đủ hơn, cụ thể hơn.
Thứ hai, định giá giá trị VQG giúp tránh gây thiệt hại tới vốn tài nguyên thiên
nhiên quan trọng, chẳng hạn tính đa dạng sinh học, sự tồn tại của các loài quý hiếm…
và cảnh báo những dự án có tác động tới VQG.
Thứ ba, trong một số trường hợp việc lượng giá giá trị bằng tiền của tài sản
môi trường là cơ sở để Nhà nước cân nhắc khi đưa ra một quyết định ảnh hưởng đến
vốn tự nhiên; là cơ sở để Nhà nước xác định mức đền bù hoặc bồi thường khi cá
nhân, tổ chức gây tổn hại đến tài sản tự nhiên.
Thứ tư, khi tài sản môi trường được định giá tức giá trị của chúng được thừa nhận
gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng từ đó nâng cao nhận thức về môi trường của
cộng đồng và đưa ra những chỉ dẫn trong quá trình ra quyết định kinh tế của VQG.
1.1.2. Tổng giá trị kinh tế của một Vườn Quốc gia
Vườn Quốc gia là một tài sản môi trường nên tổng giá trị kinh tế của một
VQG về nguyên tắc có thể xem xét thông qua các thành phần giá trị của một tài sản
môi trường.
Các nhà kinh tế học đã rất thành công khi phân loại giá trị kinh tế của một tài
sản môi trường. Mặc dù thuật ngữ có thể chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng
phương pháp luận này đặt cơ sở cho việc giải thích về sự hình thành của giá trị trên
cơ sở sự tương tác giữa chủ thể con người - người định ra giá trị và khách thể - vật
được đánh giá. Về tổng quan, để đo lường tổng giá trị kinh tế của một tài sản môi
trường nói chung và một VQG nói riêng, các nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc phân
biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng.
Giá trị phi sử dụng là thành phần giá trị của một tài sản môi trường thu được
không phải do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các các hàng hóa dịch vụ
7
do tài sản môi trường cung cấp. Nó thể hiện các giá trị phi thị trường nằm trong bản
chất của sự vật, không liên quan đến việc sử dụng trên thực tế, hoặc thậm chí việc chọn
lựa sử dụng tài sản này. Thay vào đó các giá trị này được coi như những yếu tố phản
ánh sự lựa chọn của con người, sự lựa chọn có kể đến cả sự quan tâm đồng cảm và trân
trọng đối với quyền lợi hoặc sự tồn tại của các sinh vật không phải là con người. Các
giá trị này bao hàm cả nhận thức về giá trị tồn tại của các giống loài khác hoặc của cả
quần thể hệ sinh thái. Ví dụ, một cá nhân có thể cảm thấy hài lòng khi biết Vườn Quốc
Gia Ba Bể tồn tại, các loài đặc hữu vẫn được bảo vệ mặc dù họ chưa tới đó bao giờ, và
chắc chắn cũng không tới đó trong tương lai.
Giá trị phi sử dụng bao gồm các thành phần:
Giá trị để lại (Bequest value) là thành phần giá trị thu được từ sự mong muốn
bảo tồn và duy trì nguồn tài nguyên cho lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai.
Chẳng hạn, người dân sống tại vùng cát Quảng Bình hiểu rằng cuộc sống của họ và
con cháu họ trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào rừng phòng hộ chắn cát bay. Họ
sẵn sàng đóng góp tiền bạc và công sức để duy trì rừng vì lợi ích của họ và con cháu
họ. Trong trường hợp này, mức sẵn sàng đóng góp của họ được xem là giá trị để lại,
giá trị lưu truyền cho thế hệ sau.
Giá trị tồn tại (Existence value) là giá trị của tài sản môi trường có được từ
nhận thức rằng tài sản đó còn tồn tại. Xét về tổng thể, xã hội cũng nhận được các lợi
ích từ hàng hoá môi trường ngoài sự hữu dụng liên quan tới việc sử dụng trực tiếp
hay gián tiếp. Sự tiêu dùng không có một hàng hoá cụ thể nhưng rõ ràng các cá nhân
cảm thấy hài lòng khi biết một nguồn tài nguyên nào đó vẫn còn tồn tại. Rất khó giải
thích tại sao xã hội lại đánh giá các lợi ích này. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng xã hội
nói chung sẵn lòng chi trả để bảo tồn các tài sản này. Trong các trường hợp như vậy
lợi ích cho xã hội đơn giản từ việc biết rằng các tài sản này đang tồn tại và đang được
bảo vệ. Thành phần này của tổng giá trị được biết đến như giá trị tồn tại.
Như vậy, giá trị tồn tại xuất phát từ nhận thức của con người về tài nguyên và
tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp được minh hoạ bằng công thức và sơ đồ sau:
TEV = UV + NUV hay TEV = (DUV + IUV + OV) + ( BV + EV)
9
trong đó:
DUV: Giá trị sử dụng trực tiếp
IUV: Giá trị sử dụng gián tiếp
OV: Giá trị lựa chọn
BV: Giá trị để lại (giá trị lưu truyền)
EV: Giá trị tồn tại
Hình 1.1: Tổng giá trị kinh tế của môi trường
Nguồn: Giá trị của tài sản môi trường, Monasinghe, 1992
1.1.3. Phương pháp định giá giá trị của một VQG
Tổng giá trị kinh tế của một VQG nói riêng và tổng giá trị của một tài sản môi
trường nói chung thường được đánh giá thông qua giá trị sử dụng và giá trị chưa sử
dụng. Giá trị sử dụng là những giá trị nhận được từ việc sử dụng trực tiếp VQG bao
gồm giá trị thu được từ gỗ củi, thực phẩm, dược liệu và các sản phẩm phi lâm sản.
Nó còn bao gồm giá trị từ chức năng sinh thái của VQG như khả năng hấp thụ
cácbon, khả năng chống gió bão cũng như giá trị cảnh quan du lịch, giá trị nghiên cứu
khoa học…Còn giá trị chưa sử dụng là giá trị của tài sản môi trường được đánh giá
thông qua nhận thức của những người đang sử dụng hoặc không sử dụng VQG. Nó
Giá trị SD
trực tiếp
Giá trị SD
gián tiếp
Giá trị
lựa chọn
Giá trị
để lại
Giá trị
tồn tại
- Bảo tồn giá trị
không thể đảo ngược
- MT sống
-Sự sống của các
loài
10
được đánh giá bằng sự sẵn lòng chi trả để bảo tồn tài sản môi trường hoặc bằng lòng
chấp nhận một mức đền bù nếu tài sản môi trường bị xâm hại.
Đối với bộ phận giá trị sử dụng trực tiếp của VQG như giá trị thu được từ gỗ
củi, các sản phẩm phi lâm sản có thể xác định thông qua giá thị trường. Bộ phận này
là giá trị hiện hữu và được xác định dễ dàng thông qua mức giá từng sản phẩm. Tuy
nhiên, với các VQG ở Việt Nam, giá trị này thường không thể hiện vì toàn bộ các sản
phẩm lâm sản hoặc phi lâm sản bị cấm khai thác cho mục đích thương mại.
Bộ phận giá trị sử dụng gián tiếp hoặc giá trị chưa sử dụng thường không có
giá trên thị trường, không tồn tại thị trường nên việc định giá phải sử dụng phương
pháp tạo dựng thị trường giả định hoặc đánh giá thông qua một hàng hóa thay thế.
Bốn phương pháp có thể áp dụng để lượng giá các giá trị này là: Phương pháp định
giá ngẫu nhiên, Phương pháp chi phí du lịch, phương pháp chi phí cơ hội và phương
pháp phân tích sự thay đổi sản lượng.
Trong nghiên cứu này, hai phương pháp được sử dụng là phương pháp chi phí
du lịch và phương pháp định giá ngẫu nhiên. Cả hai phương pháp này đều tiếp cận
dựa trên quan sát hành vi của các cá nhân trong thị trường thực tế hoặc những câu trả
lời từ khảo sát thị trường giả định để đánh giá giá trị hàng hoá môi trường.
1.2. Phương pháp chi phí du lịch định giá giá trị giải trí của VQG
1.2.1. Phương pháp chi phí du lịch (TCM - Travel Cost Method)
Phương pháp chi phí du lịch là phương pháp được dùng để đánh giá giá trị
kinh tế của các hệ sinh thái cảnh quan, các VQG sử dụng cho mục đích giải trí. Đây
là một phương pháp về sự lựa chọn ngầm, có thể dùng để ước lượng đường cầu đối với
các địa điểm giải trí và từ đó đánh giá giá trị các cảnh quan này. Giả thiết cơ bản của
phương pháp TCM rất đơn giản đó là chi phí bỏ ra để đến một địa điểm tham quan
Một cách tổng quát, chi phí du lịch của du khách i tới địa điểm giải trí j (TC
ij
)
phụ thuộc vào một số biến:
TC
ij
= TC(DC
ij
, T
ij
, F
i
)
(1)
i = 1…n, j = 1…..m
12
Trong đó:
DC
ij
là chi phí về khoảng cách. Chi phí này phụ thuộc vào độ dài quãng
đường tới điểm du lịch và phụ thuộc vào chi phí cho mỗi km đi lại.
T
ij
là chi phí thời gian. Chi phí này phụ thuộc vào thời gian để tới được điểm
du lịch và giá trị về thời gian của mỗi cá nhân.
F
i
là phí vào cửa của địa điểm j.
Giả sử V
: Thu nhập của du khách i
EDU
i
: Trình độ học vấn của cá nhân i
AGE
i
: Độ tuổi của du khách i
SEX
i
: Giới tính của du khách i
Hệ số a, b, c, d, e, f lần lượt là các hệ số cần được ước lượng.
Sau khi ước lượng được các hệ số tiếp tục xây dựng đường cầu mô tả mối
quan hệ giữa số lượt tham quan và chi phí tham quan. Phần diện tích nằm dưới
đường cầu sẽ thể hiện giá trị cảnh quan của địa điểm giải trí.
Một phương pháp tiếp cận khác có thể dựa trên mô hình tối đa hoá độ thoả
dụng. Xuất phát từ bài toán tối đa hóa độ thỏa dụng của người tiêu dùng:
U(x,r,q) max
trong đó: x - là lượng hàng hóa tiêu dùng,
r - là số chuyến đi đến địa điểm giải trí,
q- là chất lượng của địa điểm.
Với hai giới hạn: giới hạn ngân quỹ, giới hạn thời gian có thể xác định 2 ràng buộc:
m + t
w
w = x + cr
13
rtttt
w
)(
21
+−=
m và q hay r(p
r
,m,q).
1.2.3. Một số phương pháp tiếp cận chi phí du lịch
Có ba phương pháp tiếp cận chi phí du lịch để đánh giá giá trị giải trí gồm:
- Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch theo vùng (ZTCM): sử dụng chủ yếu
dữ liệu thứ cấp và một số thông tin từ khách du lịch.
- Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch của cá nhân (ITCM): sử dụng chủ yếu
các thông tin phỏng vấn được từ du khách.
- Phương pháp tiếp cận dựa trên độ thoả dụng ngẫu nhiên (RUA): sử dụng
thông tin từ điều tra và các nguồn dữ liệu khác kết hợp với một số kỹ thuật thống kê.
1.2.3.1 Phương pháp chi phí du lịch theo vùng (ZTCM)
Tiếp cận chi phí du lịch theo vùng (Zone Travel Cost Approarch) là cách tiếp
cận đơn giản và ít tốn kém. Để lượng giá giá trị cảnh quan thông qua chi phí du lịch
bằng phương pháp này cần thực hiện 7 bước:
Bước 1: Phân chia khu vực xung quanh địa điểm du lịch được nghiên cứu thành
các vùng du lịch cơ bản. Các vùng này có thể được phân chia theo các đường tròn đồng
tâm kể từ điểm du lịch nhưng cũng có thể phân chia theo khu vực hành chính có cùng
đặc điểm nào đó. Thông thường, số liệu về dân số thu thập theo địa giới hành chính dễ
dàng hơn thu thập theo các đường tròn đồng tâm. Số lượng các vùng có thể tương đối
lớn tùy theo đặc thù của địa điểm nghiên cứu.
14
Bước 2: Thu thập thông tin về số lượng du khách tới từ các vùng khác nhau và
tổng số chuyến tham quan tới điểm du lịch ở thời điểm trước năm nghiên cứu. Thông tin
về lượng khách có thể thu thập từ số liệu thứ cấp tại địa điểm nghiên cứu hoặc thu thập
từ các công ty lữ hành.
Bước 3: Tính tỷ lệ du khách (VR- Visitation Rate) đến thăm điểm du lịch trên
1000 dân mỗi vùng. Tỷ lệ du khách đến thăm điểm du lịch được xác định bằng cách lấy
tổng số du khách đến điểm giải trí trong năm của mỗi vùng chia cho tổng dân số của
vùng đó tính theo đơn vị nghìn người.
khách giảm xuống bằng 0, nói cách khác có ít hơn một khách sẵn sàng bỏ ra mức phí đó
để được vào thăm khu du lịch. Điểm đầu của đường cầu là số lượng du khách đến với
điểm giải trí trong trường hợp chi phí du lịch bằng 0. Các điểm khác trên đường cầu
15
được xác định bằng số lượng du khách ứng với từng mức chi phí khác nhau. Điều này
được thể hiện bởi mô hình sau đây:
Hình 1.2 : Đường cầu du lịch
Trong mô hình trên, lượng khách đến từ vùng 0 (vùng kề cận điểm du lịch) là
V
0
. Từ hàm quan hệ giữa chi phí du lịch và lượng khách có thể xác định các điểm còn
lại trên đường cầu. Chẳng hạn, tại mức phí du lịch P
1
, lượng khách sẽ giảm từ V
0
xuống V
1
, nếu mức phí tăng lên mức P
2
thì số lượng khách sẽ giảm xuống mức V
2
.
Những tổ hợp chi phí - lượng khách là các dự đoán dựa trên quan hệ giữa chi phí du
lịch với lượng khách du lịch. Giả thuyết quan trọng nhất ở đây là khi chi phí du lịch
được xác định trong biểu thức (*) tăng lên thì số lượng khách tới thăm khu du lịch
giảm đi.
Bước 7: Ước lượng giá trị cảnh quan của điểm nghiên cứu thông qua tính
thặng dư tiêu dùng đối với du khách hoặc xác định phần diện tích nằm phía dưới
đường cầu.
1.2.3.2 Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch cá nhân (Individual Travel Cost
là chi phí du lịch của cá nhân i,
S
i
là các biến số xã hội của cá nhân i như độ tuổi, giới tính, thu
nhập, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân.
Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch cá nhân cũng không quá phức tạp song
đòi hỏi dữ liệu thu thập từ cuộc điều tra nhiều hơn so với sử dụng phương pháp tiếp
cận theo vùng. Chẳng hạn, nếu địa điểm du lịch là một công viên hay VQG mà du
khách thường lui tới trong năm thì các thông tin sau cần phải thu thập:
-Khoảng cách từ nơi ở của du khách đến địa điểm giải trí
-Số lần du khách tới địa điểm giải trí đó trong năm qua hoặc trong mùa vừa qua
-Thời gian lưu lại tại địa điểm giải trí
-Các khoản chi tiêu cho chuyến đi
-Thu nhập cá nhân của du khách
-Các thông tin về đặc điểm xã hội của đối tượng phỏng vấn
-Các địa điểm khác mà du khách muốn ghé thăm trong chuyến đi
-Sự hài lòng về cảnh quan và chất lượng môi trường
-Các địa điểm thay thế cho địa điểm này.
Sử dụng những dữ liệu từ cuộc điều tra có thể xác định mối quan hệ giữa số
lượt tham quan của du khách với chi phí mà họ phải bỏ ra. Tương quan này sẽ cho
chúng ta hàm cầu về tỷ lệ du khách đến tham quan địa điểm giải trí và phần diện tích
nằm dưới đường cầu cho biết thặng dư tiêu dùng trung bình. Trên cơ sở số liệu về
dân số của vùng mà du khách sinh sống có thể ngoại suy tổng thặng dư tiêu dùng của
địa điểm giải trí.
Do có thêm các thông tin về đặc điểm xã hội của du khách, địa điểm thay thế,
chất lượng môi trường tại địa điểm giải trí nên có thể đưa thêm các biến số này vào
mô hình. Việc có thêm thông tin về chất lượng của địa điểm giải trí có thể giúp đánh
giá sự thay đổi giá trị khi chất lượng của địa điểm giải trí thay đổi. Cụ thể, có thể xây
dựng hai đường cầu ứng với từng mức độ chất lượng môi trường, khi đó khoảng cách
17
V
2
18
Chẳng hạn, nếu đánh giá giá trị của một địa điểm câu cá giải trí thì người
nghiên cứu có thể gọi điện thoại phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên một số người dân địa
phương xem họ có đi câu cá giải trí hay không. Nếu trả lời “có”, tiếp tục phỏng vấn
họ về số lần đi trong năm vừa qua, địa điểm họ tới, khoảng cách từ nơi ở đến các địa
điểm và các thông tin liên quan đến chi phí họ đã bỏ ra cho chuyến đi. Có thể phỏng
vấn họ về số lượng cá đánh bắt được mỗi lần, các loài cá đặc biệt ở mỗi lần đánh
bắt...
Sử dụng những thông tin này, chúng ta có thể xây dựng mô hình xác định mối
quan hệ giữa sự lựa chọn câu cá hay không với những nhân tố ảnh hưởng (biến ngoại
sinh) được lựa chọn trong mô hình. Nếu có biến độc lập là chất lượng địa điểm thì
mô hình có thể dễ dàng xác định giá trị của việc thay đổi chất lượng địa điểm giải trí.
Ví dụ, nếu một cá nhân nào đó sẵn sàng di chuyển xa hơn để tới một nơi có số lượng
cá nhiều hơn hoặc chất lượng tốt hơn thì giá trị của chất lượng bổ sung được đo
lường bởi chi phí di chuyển bổ sung.
1.2.4. Tổng quan các nghiên cứu sử dụng phương pháp chi phí du lịch để
đánh giá giá trị cảnh quan
Phương pháp chi phí du lịch được áp dụng đầu tiên vào năm 1974 khi Tổ chức
các Vườn Quốc gia Mỹ có ý xác định giá trị của các VQG để bảo tồn. Harold
Hotelling là người đầu tiên đưa ra phương pháp này.
Ý tưởng của Hotelling là các cá nhân đến tham quan một VQG đều phải bỏ ra
một khoản chi phí, đặc biệt là chi phí du lịch. Vì mỗi người đến từ một địa điểm khác
nhau nên chi phí du lịch của họ cũng khác nhau. Điều này có thể kết hợp với số lượt
tham quan để xây dựng đường cầu giải trí cho địa điểm đó.
Hotelling cũng gợi ý tập hợp các chuyến đi của du khách từ địa điểm khác
nhau theo vùng lấy tâm là VQG. Từ đó, chi phí du lịch của các cá nhân đến từ bất kỳ
địa điểm nào trong một vùng có thể coi bằng nhau. Với mỗi vùng cần xác định số
lượt tham quan của du khách, chi phí bỏ ra cho chuyến đi và dân số của mỗi vùng để
tổng lợi ích du lịch là 1.502.186 ngàn đồng, tổng thặng dư tiêu dùng của du khách
20