LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ VÀ GIÁ TRỊ PHI SỬ
DỤNG CỦA MỘT VƯỜN QUỐC GIA
1.1. Vườn Quốc gia và Tổng giá trị kinh tế của Vườn Quốc gia
1.1.1.Vườn Quốc gia và sự cần thiết đánh giá giá trị của VQG
1.1.1.1 Vườn Quốc gia
Vườn Quốc gia là một vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo tồn hệ sinh thái
chuẩn của một đất nước. Đó là một khu rừng đặc dụng được quản lý và bảo vệ nghiêm
ngặt nhằm bảo vệ lâu dài một hay nhiều hệ sinh thái, bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau:
1- Là vùng đất tự nhiên bao gồm mẫu chuẩn của các hệ sinh thái cơ bản (còn
nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người); các nét đặc trưng về sinh cảnh của các loài
động, thực vật; các khu rừng có giá trị cao về mặt khoa học, giáo dục và du lịch.
2- Là vùng đất tự nhiên đủ rộng để chứa đựng được một hay nhiều hệ sinh thái
và không bị thay đổi bởi những tác động xấu của con người; tỷ lệ diện tích hệ sinh thái
tự nhiên cần bảo tồn phải đạt từ 70% trở lên.
3- Là khu vực có điều kiện về giao thông tương đối thuận lợi.
Hiện nay, Việt Nam đã thành lập 28 VQG phân bố ở cả ba miền, được quản lý
bảo vệ theo quy chế quản lý rừng đặc dụng. Việc quản lý VQG được phân cấp giao cho
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong trường hợp VQG nằm trên địa bàn của
nhiều Tỉnh, còn lại giao cho Ủy ban nhân dân Tỉnh quản lý nếu VQG nằm trên địa bàn
một địa phương.
Mỗi VQG đều được thành lập một ban quản lý. Ban quản lý là chủ rừng, được
giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chịu trách nhiệm quản
lý, bảo vệ và xây dựng khu rừng được giao.
Do tầm quan trọng của bảo tồn mà Vườn Quốc gia được chia thành các phân khu
chức năng như sau:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: là khu vực được bảo toàn nguyên vẹn, được
quản lý bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên; nghiêm cấm mọi hành vi làm
thay đổi cảnh quan tự nhiên của khu rừng. Đây là những khu vực có rừng nguyên sinh,
có tính đa dạng sinh học cao được bảo vệ nghiêm ngặt.
- Phân khu phục hồi sinh thái : Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để
rừng phục hồi, tái sinh tự nhiên; nghiêm cấm việc du nhập những loài động vật, thực
ích từ công tác bảo tồn đầy đủ hơn, cụ thể hơn.
Thứ hai, định giá giá trị VQG giúp tránh gây thiệt hại tới vốn tài nguyên thiên
nhiên quan trọng, chẳng hạn tính đa dạng sinh học, sự tồn tại của các loài quý hiếm…
và cảnh báo những dự án có tác động tới VQG.
Thứ ba, trong một số trường hợp việc lượng giá giá trị bằng tiền của tài sản môi
trường là cơ sở để Nhà nước cân nhắc khi đưa ra một quyết định ảnh hưởng đến vốn tự
nhiên; là cơ sở để Nhà nước xác định mức đền bù hoặc bồi thường khi cá nhân, tổ chức
gây tổn hại đến tài sản tự nhiên.
Thứ tư, khi tài sản môi trường được định giá tức giá trị của chúng được thừa nhận
gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng từ đó nâng cao nhận thức về môi trường của
cộng đồng và đưa ra những chỉ dẫn trong quá trình ra quyết định kinh tế của VQG.
1.1.2. Tổng giá trị kinh tế của một Vườn Quốc gia
Vườn Quốc gia là một tài sản môi trường nên tổng giá trị kinh tế của một VQG
về nguyên tắc có thể xem xét thông qua các thành phần giá trị của một tài sản môi
trường.
Các nhà kinh tế học đã rất thành công khi phân loại giá trị kinh tế của một tài sản
môi trường. Mặc dù thuật ngữ có thể chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng phương
pháp luận này đặt cơ sở cho việc giải thích về sự hình thành của giá trị trên cơ sở sự
tương tác giữa chủ thể con người - người định ra giá trị và khách thể - vật được đánh
giá. Về tổng quan, để đo lường tổng giá trị kinh tế của một tài sản môi trường nói chung
và một VQG nói riêng, các nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử
dụng và giá trị phi sử dụng.
Giá trị sử dụng là những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn tài nguyên trên
thực tế. Đôi khi cũng có thể hiểu giá trị sử dụng là giá trị các cá nhân gắn với việc tiêu
dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tài nguyên cung cấp. Ví dụ,
đối với một VQG hay một khu rừng, con người có thể thu được lợi ích từ gỗ làm nhà,
củi đốt; dùng cây cỏ làm thuốc; đi dạo trong rừng, ngắm nhìn các loài động thực vật
hoặc chiêm ngưỡng cảnh đẹp.
Giá trị sử dụng hình thành từ việc thực sự sử dụng tài sản môi trường, trên thực
tế nó bao gồm:
không tới đó trong tương lai.
Giá trị phi sử dụng bao gồm các thành phần:
Giá trị để lại (Bequest value) là thành phần giá trị thu được từ sự mong muốn
bảo tồn và duy trì nguồn tài nguyên cho lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai.
Chẳng hạn, người dân sống tại vùng cát Quảng Bình hiểu rằng cuộc sống của họ và con
cháu họ trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào rừng phòng hộ chắn cát bay. Họ sẵn
sàng đóng góp tiền bạc và công sức để duy trì rừng vì lợi ích của họ và con cháu họ.
Trong trường hợp này, mức sẵn sàng đóng góp của họ được xem là giá trị để lại, giá trị
lưu truyền cho thế hệ sau.
Giá trị tồn tại (Existence value) là giá trị của tài sản môi trường có được từ nhận
thức rằng tài sản đó còn tồn tại. Xét về tổng thể, xã hội cũng nhận được các lợi ích từ
hàng hoá môi trường ngoài sự hữu dụng liên quan tới việc sử dụng trực tiếp hay gián
tiếp. Sự tiêu dùng không có một hàng hoá cụ thể nhưng rõ ràng các cá nhân cảm thấy
hài lòng khi biết một nguồn tài nguyên nào đó vẫn còn tồn tại. Rất khó giải thích tại sao
xã hội lại đánh giá các lợi ích này. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng xã hội nói chung sẵn
lòng chi trả để bảo tồn các tài sản này. Trong các trường hợp như vậy lợi ích cho xã hội
đơn giản từ việc biết rằng các tài sản này đang tồn tại và đang được bảo vệ. Thành phần
này của tổng giá trị được biết đến như giá trị tồn tại.
Như vậy, giá trị tồn tại xuất phát từ nhận thức của con người về tài nguyên và
môi trường mà người ta cho rằng sự tồn tại của một cá thể hay một giống loài nào đó có
ý nghĩa về mặt kinh tế không chỉ trước mắt mà còn cả lâu dài buộc người ta phải duy trì
giống loài đó bằng mọi giá. Trong việc tính toán giá trị này thì việc xác lập tiền tệ là
khó khăn nhưng sự xác lập nhận thức về mặt giá trị rất dễ dàng.
Về nguyên tắc các giá trị tồn tại là một động cơ quan trọng của nhiều nỗ lực bảo
tồn và cũng là cơ sở ban hành chính sách môi trường. Một ví dụ thực tế là Đạo luật về
bảo vệ và bảo tồn các loài loài chim và các giống loài cây đang bị đe dọa tuyệt chủng
được áp dụng tại nhiều nước. Đạo luật của Mỹ năm 1973 về các loài đang bị nguy hiểm
là một điển hình về sự thừa nhận của Mỹ về giá trị tồn tại. Đạo luật đã chính thức lên
tiếng bảo vệ tính đa dạng sinh học của trái đất. Kết quả quan trọng của nó là hình thành
một danh sách chính thức về các sinh vật đang có nguy cơ tuyệt chủng, bất kể chúng có
trong đó:
DUV: Giá trị sử dụng trực tiếp
IUV: Giá trị sử dụng gián tiếp
OV: Giá trị lựa chọn
BV: Giá trị để lại (giá trị lưu truyền)
EV: Giá trị tồn tại
Hình 1.1: Tổng giá trị kinh tế của môi trường
Nguồn: Giá trị của tài sản môi trường, Monasinghe, 1992
1.1.3. Phương pháp định giá giá trị của một VQG
Tổng giá trị kinh tế của một VQG nói riêng và tổng giá trị của một tài sản môi
trường nói chung thường được đánh giá thông qua giá trị sử dụng và giá trị chưa sử
dụng. Giá trị sử dụng là những giá trị nhận được từ việc sử dụng trực tiếp VQG bao
gồm giá trị thu được từ gỗ củi, thực phẩm, dược liệu và các sản phẩm phi lâm sản. Nó
còn bao gồm giá trị từ chức năng sinh thái của VQG như khả năng hấp thụ cácbon, khả
năng chống gió bão cũng như giá trị cảnh quan du lịch, giá trị nghiên cứu khoa học…
Còn giá trị chưa sử dụng là giá trị của tài sản môi trường được đánh giá thông qua nhận
thức của những người đang sử dụng hoặc không sử dụng VQG. Nó được đánh giá bằng
sự sẵn lòng chi trả để bảo tồn tài sản môi trường hoặc bằng lòng chấp nhận một mức đền
bù nếu tài sản môi trường bị xâm hại.
Đối với bộ phận giá trị sử dụng trực tiếp của VQG như giá trị thu được từ gỗ
củi, các sản phẩm phi lâm sản có thể xác định thông qua giá thị trường. Bộ phận này là
giá trị hiện hữu và được xác định dễ dàng thông qua mức giá từng sản phẩm. Tuy nhiên,
với các VQG ở Việt Nam, giá trị này thường không thể hiện vì toàn bộ các sản phẩm
lâm sản hoặc phi lâm sản bị cấm khai thác cho mục đích thương mại.
Bộ phận giá trị sử dụng gián tiếp hoặc giá trị chưa sử dụng thường không có giá
trên thị trường, không tồn tại thị trường nên việc định giá phải sử dụng phương pháp
tạo dựng thị trường giả định hoặc đánh giá thông qua một hàng hóa thay thế. Bốn
phương pháp có thể áp dụng để lượng giá các giá trị này là: Phương pháp định giá ngẫu
nhiên, Phương pháp chi phí du lịch, phương pháp chi phí cơ hội và phương pháp phân
tích sự thay đổi sản lượng.
Sau đó, giá trị cảnh quan của địa điểm nghiên cứu được đánh giá như là tổng lợi ích của
du khách và được đo bằng phần diện tích dưới đường cầu.
Như vậy, TCM đánh giá giá trị các hàng hoá môi trường không có giá thị trường
thông qua hành vi tiêu dùng có liên quan tới thị trường. Đặc biệt, các chi phí phải bỏ ra
để được tiêu dùng các dịch vụ môi trường sẽ được xem như là sự thay thế cho giá của
các dịch vụ đó. Các chi phí này bao gồm chi phí đi lại, chi phí vào cửa, các chi phí khác
tại địa điểm giải trí và các chi phí cơ hội về thời gian mà du khách đã bỏ ra để có được
chuyến đi đến địa điểm giải trí.
1.2.2. Mô hình lý thuyết hàm chi phí du lịch
Một cách tổng quát, chi phí du lịch của du khách i tới địa điểm giải trí j (TC
ij
)
phụ thuộc vào một số biến:
TC
ij
= TC(DC
ij
, T
ij
, F
i
)
(1)
i = 1…n, j = 1…..m
Trong đó:
DC
ij
là chi phí về khoảng cách. Chi phí này phụ thuộc vào độ dài quãng đường
tới điểm du lịch và phụ thuộc vào chi phí cho mỗi km đi lại.
V
i
là số lượt viếng thăm địa điểm j của du khách i
TC
ij
: Chi phí của một lần viếng thăm địa điểm j
INC
i
: Thu nhập của du khách i
EDU
i
: Trình độ học vấn của cá nhân i
AGE
i
: Độ tuổi của du khách i
SEX
i
: Giới tính của du khách i
Hệ số a, b, c, d, e, f lần lượt là các hệ số cần được ước lượng.
Sau khi ước lượng được các hệ số tiếp tục xây dựng đường cầu mô tả mối quan
hệ giữa số lượt tham quan và chi phí tham quan. Phần diện tích nằm dưới đường cầu sẽ
thể hiện giá trị cảnh quan của địa điểm giải trí.
Một phương pháp tiếp cận khác có thể dựa trên mô hình tối đa hoá độ thoả dụng.
Xuất phát từ bài toán tối đa hóa độ thỏa dụng của người tiêu dùng:
U(x,r,q) max
trong đó: x - là lượng hàng hóa tiêu dùng,
r - là số chuyến đi đến địa điểm giải trí,
q- là chất lượng của địa điểm.
Với hai giới hạn: giới hạn ngân quỹ, giới hạn thời gian có thể xác định 2 ràng buộc:
m + t
)w = p
r
là tổng chi phí cho mỗi chuyến đi. Bao gồm chi phí bằng
tiền cũng như chi phí cơ hội về thời gian dùng cho chuyến đi. Giải bài toán của người
tiêu dùng sẽ có được các hàm cầu cho x và r. Số chuyến đi tối ưu là một hàm của p
r
, m
và q hay r(p
r
,m,q).
1.2.3. Một số phương pháp tiếp cận chi phí du lịch
Có ba phương pháp tiếp cận chi phí du lịch để đánh giá giá trị giải trí gồm:
- Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch theo vùng (ZTCM): sử dụng chủ yếu dữ
liệu thứ cấp và một số thông tin từ khách du lịch.
- Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch của cá nhân (ITCM): sử dụng chủ yếu các
thông tin phỏng vấn được từ du khách.
- Phương pháp tiếp cận dựa trên độ thoả dụng ngẫu nhiên (RUA): sử dụng thông
tin từ điều tra và các nguồn dữ liệu khác kết hợp với một số kỹ thuật thống kê.
1.2.3.1 Phương pháp chi phí du lịch theo vùng (ZTCM)
Tiếp cận chi phí du lịch theo vùng (Zone Travel Cost Approarch) là cách tiếp cận
đơn giản và ít tốn kém. Để lượng giá giá trị cảnh quan thông qua chi phí du lịch bằng
phương pháp này cần thực hiện 7 bước:
Bước 1: Phân chia khu vực xung quanh địa điểm du lịch được nghiên cứu thành các
vùng du lịch cơ bản. Các vùng này có thể được phân chia theo các đường tròn đồng tâm kể
từ điểm du lịch nhưng cũng có thể phân chia theo khu vực hành chính có cùng đặc điểm
nào đó. Thông thường, số liệu về dân số thu thập theo địa giới hành chính dễ dàng hơn thu
thập theo các đường tròn đồng tâm. Số lượng các vùng có thể tương đối lớn tùy theo đặc
thù của địa điểm nghiên cứu.
Bước 2: Thu thập thông tin về số lượng du khách tới từ các vùng khác nhau và tổng
số chuyến tham quan tới điểm du lịch ở thời điểm trước năm nghiên cứu. Thông tin về