Ý NGHĨA CỦA BIỂU THỨC NGÔN NGỮ CỐ ĐỊNH DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA THUYẾT TÍN HIỆU - Pdf 17


Ý NGHĨA CỦA BIỂU THỨC NGÔN NGỮ CỐ ĐỊNH
DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA THUYẾT TÍN HIỆU NGÔN NGỮ
CỦA FERDINAND DE SAUSSURE

ThS. HOÀNG THỊ MINH PHÚC
Bộ môn Anh văn
Khoa Khoa học cơ bản
Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Biểu thức ngôn ngữ cố định (BTNNCĐ) trong tiếng Anh là một vấn đề ngôn
ngữ phức tạp nhưng rất đáng nghiên cứu. Chúng ta sẽ có cái nhìn rõ hơn về con đường hình
thành ý nghĩa của các BTNNCĐ dựa trên các luận điểm cơ bản của F. de Saussure về bản
chất tín hiệu của ngôn ngữ.
Summary: Foreign language has become a compulsory subject in the curriculums of
most of the universities in our country for many years. How to teach and learn foreign
languages effectively has been mentioned by many specialists. In this report, only some
necessary factors to learn foreign languages successfully in class time and some basic
teaching methods are introduced. CNTT-
CB
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ferdinand de Saussure là một nhà ngôn
ngữ học lớn, người đã có công dọn đường cho
ngôn ngữ học của thế kỷ XX. Dẫu cho số
lượng tác phẩm ông để lại không nhiều,
nhưng ông đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi
nhất của ngôn ngữ học, bởi vậy trong ngôn
ngữ học “không có một nhà nghiên cứu

thời cắt luôn cả mặt trái; trong ngôn ngữ
cũng vậy, không thể nào tách biệt âm thanh ra
khỏi tư tưởng, và cũng không thể tách biệt tư
tưởng ra khỏi âm.” [1:197] Ông gọi tổ hợp
này là “tín hiệu” (sign), hình tượng âm thanh
được ông gọi là “cái biểu hiện” (signifier), và
khái niệm là “cái được biểu hiện” (signified).
Đây không đơn thuần chỉ là sự thay đổi tên
thuật ngữ mà là đưa thuật ngữ lên bậc phạm
trù trừu tượng và lôgich.
CNTT_C
B
Khái nim
(Concept)

Hình nh âm
thanh
(
Ima
g
e

Khái niệm (Concept)

Hình ảnh âm thanh
(Image Acoustique)
+ Tính võ đoán của tín hiệu
Mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái
được biểu hiện là võ đoán. Cùng một ý niệm
được thể hiện bằng những lớp vỏ âm thanh

sự giúp đỡ của những cái gì tồn tại bên ngoài
từ đó. Vốn là thành phần của một hệ thống, nó
không những mang một ý nghĩa mà còn mang
chủ yếu một giá trị. Ví dụ từ rice trong tiếng
Anh có thể có một ý nghĩa như từ gạo trong
tiếng Việt, nhưng lại không có cùng một giá
trị do nhiều nguyên nhân khác nhau Để chỉ
món đồ ăn đã được nấu chín từ gạo, người
Việt dùng từ cơm, để chỉ loại hạt thu được từ
cây lúa người Việt dùng từ thóc, để chỉ những
hạt gạo bị gẫy nhỏ người Việt dùng từ tấm…
Sausure đã chỉ ra rằng trong nội bộ một
ngôn ngữ, tất cả các từ biểu hiện những khái
niệm lân cận đều giới hạn lẫn nhau. Các từ
đồng nghĩa có giá trị riêng chỉ vì nó đối lập
với nhau. Ngược lại, nhiều từ trở nên phong
phú thêm nhờ sự tiếp xúc với những từ khác.
Do đó ông đi đến một luận điểm quan trọng
“Giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng đều do
những yếu tố xung quanh quy định” [1:202]
và chỉ trong ngữ cảnh cụ thể mới có thể xác
định được giá trị của chúng. Điều rất quan trọng trong luận điểm của
Saussure làm cơ sở giải thích giá trị ngữ nghĩa
của ngôn ngữ là tính hai mặt và tính tầng bậc
của tín hiệu ngôn ngữ. Tính võ đoán dẫn đến
khả năng biểu hiện vô hạn và không lường
trước được của ngôn ngữ. Chính sự linh hoạt

quyết định nghĩa của tín hiêu ngôn ngữ. Ông
đã tuyên bố “ngôn ngữ là một hình thức chứ
không phải là một chất liệu”. Quan niệm quá
nhấn mạnh quan hệ cấu trúc, đề cao hình thức
của ông đã gây ra nhiều tranh luận cũng như
dẫn đến những nhận thức không đúng về
nghĩa.
Vậy khi nghiên cứu bình diện ngữ nghĩa
của các BTNNCĐ chúng tôi dựa trên cơ sở lý
thuyết nào? Ngôn ngữ là một hệ thống chức
năng, mỗi đơn vị thực hiện một chức năng
nhất định. Theo quan điểm của chúng tôi,
nghĩa là một thực thể tinh thần, tức là một
hình thức do con người và được con người tạo
nên, do việc sử dụng ngôn ngữ như một loại
phương tiện, công cụ nên quan điểm chức
năng phải được xem là nòng cốt trung tâm của
kiến giải nghĩa. Nghĩa là một nội dung xác
định nhờ chức năng, nhưng là loại chức năng
thể hiện qua ngữ cảnh.
Wittgenstin và Austin đều phân biệt cách
giải thích bằng ngôn ngữ khác với cái gọi là
cách giải thích bằng sự kiện bên ngoài. Cách
giải thích bằng ngôn ngữ là cái nghĩa có trong
hình thức ngôn ngữ, còn giải thích bằng sự
kiện bên ngoài là giải thích sự vật hiện tượng,
tồn tại thuộc thế giới hiện thực, bằng các
thuộc tính của tồn tại. Từ quan niệm đó
Wittgenstin đã đề xuất học thuyết xem nghĩa
như là sự sử dụng, và ông tuyên bố “Đừng tìm

trong từ vựng của một ngôn ngữ có phong phú
đến đâu, tinh tế đến mức nào thì cũng vẫn là ít
ỏi trước gánh nặng ngữ nghĩa mà sự giao tiếp
và nhận thức trong xã hội đặt ra cho ngôn
ngữ” [4:78]
Xét từ bình diện hình thức cấu trúc,
BTNNCĐ trong tiếng Anh không khác với
các cụm từ tự do, bởi đó là sự kết hợp của một
từ trung tâm (là động từ, danh từ, tính từ,
trạng từ) với một hoặc một vài từ khác (là
mạo từ, giới từ, phó từ) ở vị trí trước hoặc sau
nó. Có thể gọi chúng là hậu trí từ (post-
positioned words) và tiền trí từ (pre-
positioned words) xét theo vị trí của chúng so
với từ trung tâm. Phần lớn cấu trúc các
BTNNCĐ trong tiếng Anh có thể được thể
hiện qua các mô hình sau:
CNTT_C
B
Pre-Pos. Part + CW
CW + Post-Pos.
Pre-Pos. Part + CW + Post-Pos. Part
CW + Post-Pos. Part
1
+ Post Pos. Part
2
Trong đó, CW là từ trung tâm, pre-pos.
part là tiền trí từ, post-pos. part là hậu trí từ.
Trong các mô hình trên, các mạo từ (article)
a/an hoặc the không thể hiện, nhưng chúng

một tín hiệu mới (một kết hợp mới, một biểu
thức mới) trong ngôn ngữ thì nghĩa là nó đã
có lý do để tồn tại.
2.2. Con đường hình thành nghĩa của các
BTNNCĐ
Điều chúng tôi rất quan tâm khi nghiên
cứu BTNNCĐ trong tiếng Anh là con đường hình thành nghĩa của chúng. Vì sao dưới một
cấu trúc bình thường như các cụm từ tự do,
sự kết hợp của các từ nhất định lại có một ý
nghĩa cố định? Tại sao khi phá vỡ cấu trúc
mặt thì ý nghĩa cố định của chúng không bảo
toàn được nữa? Các ý nghĩa mang tính chất
thành ngữ đó được hình thành theo cơ chế như
thế nào?
BTNNCĐ là một đơn vị từ vựng, chúng
mang bản chất tín hiệu, do đó chúng tôi nhận
thấy chúng phải trải qua các quá trình chức
năng như sau:
- Quá trình tạo mã và lập mã của tín hiệu
ngôn ngữ:
Các BTNNCĐ được tạo lập từ các từ
thành tố. Như vậy, nếu xét từ nguồn gốc sâu
xa, sự tạo mã và lập mã của các từ trung tâm
(thực từ) như danh từ, tính từ, động từ, trạng
từ và các từ thành tố sẽ diễn ra trước. Quá
trình tạo mã và lập mã ngôn ngữ là một quá
trình lâu dài, đó là quá trình một vỏ âm thanh

BTNNCĐ như as a result of, look forward to,
on the one hand…., on the other hand,… thì
mã của các từ thành tố phải được thiết lập
trước, sau đó mới có sự ghép mã và cải biên
mã của các từ thành tố để tạo thành mã của
BTNN. Nghĩa của các BTNNCĐ phần lớn
mang tính phái sinh. Nhưng vấn đề cần quan
tâm ở đây là một khi nghĩa của các từ thành tố
ghép lại không tạo ra nghĩa của BTNNCĐ, thì
nghĩa của BTNNCĐ đã được hình thành theo
cơ chế nào?
CNTT-
CB
- Quá trình dùng, sử dụng và khẳng định
giá trị ngữ nghĩa
Một khi mã ngôn ngữ đã được thiết lập,
nhưng không trải qua quá trình khẳng định giá
trị để có giá trị bền vững trong cộng đồng sử
dụng ngôn ngữ thì nó vẫn chưa thể thực sự bắt
đầu hành chức. Như vậy, quá trình sử dụng là
vô cùng quan trọng. Nếu việc sử dụng các tín
hiệu chỉ được tiến hành trong một không gian
hẹp trong một bối cảnh nhất định thì nó cũng
khó được hiểu và chấp nhận trong cộng đồng.
Do đó, một khi mã ngôn ngữ đã được hình
thành, dù là trong một môi trường không rộng
lớn, nó phải trải qua quá trình được sử dụng
lại để khẳng định lại giá trị trong các không
gian khác, tức là sự quy ước phải được phổ


sau đây:
bring back V + ADV
1 bring sth/sb back, bring back sth/sb đem
về, mang về trả lại, đem trả: You must bring
these library books back next week: Anh phải
đem trả những cuốn sách thư viện này vào
tuần tới nhé.
*2 ~ sth nhớ lại, hồi tưởng, làm sống lại
(những sự kiện trong quá khứ): The smell of
these flowers brings back memories: Hương
thơm của những bông hoa này làm sống lại bao
nhiêu kỷ niệm.
*3 ~ sb to sth, bring sb back to sth khôi
phục cái gì cho ai, giúp ai khôi phục cái gì:

We must bring him back to health: Chúng ta
phải giúp anh ấy hồi phục lại sức khỏe.
*4 ~ sth làm cho một ý tưởng hoặc một
thưc tế trở lại hoặc tồn tại, dùng lại, duy trì
phương pháp cũ: Few people these days are in
favour of bringing back the old punishment
by death: Một số người ngày nay vẫn thích
duy trì hình phạt tử hình ngày xưa.

Trong 4 nghĩa trên, ngoài nghĩa 1, các
nghĩa còn lại đều mang tính thành ngữ. Vậy
cơ chế tạo thành các nghĩa của động từ này
như thế nào? Xét nghĩa 1, bring back là nghĩa
của bring và back ghép lại với nhau một cách
cơ học. Như vậy, khi bring và back được tạo

hai vỏ âm thanh bring và back với hai ý niệm
riêng rẽ ban đầu như các tín hiệu ngôn ngữ
hoàn toàn mang tính võ đoán, sự phát triển
ngữ nghĩa của bring back sau này là cả một
quá trình diễn ra trong tư duy logic của con
người. Rất có thể trong tương lai, cùng với
nhu cầu thể hiện tư duy của con người, bring
back còn phát triển thêm các nghĩa khác nữa.
Thử xem xét ví dụ on the one hand … on
the other hand… Đây là BTNNCĐ có từ trung
tâm là hand với cấu trúc giới từ + mạo từ xác
định + tính từ + danh từ. Từ hand là một danh
từ đa nghĩa, trong rất nhiều nghĩa của từ hand
như bàn tay, sự giúp đỡ, nhân công, sự khéo
tay, kiểu viết tay, hứa hôn… nếu thử ghép bất
cứ nghĩa nào của từ hand vào BTNN trên
cũng không được một cụm từ thực sự có
nghĩa. Vậy nghĩa một mặt và mặt khác của
BTNNCĐ này được hình thành như thế nào?
Thiết nghĩ con đường thành ngữ hóa của
BTNNCĐ này cũng phải trải qua các bước đã
đề cập đến ở trên, đó là biểu trưng hóa (hai
bàn tay tượng trưng cho hai mặt khác nhau/
đối lập) và quá trình dùng trong cộng đồng đã
khẳng định sự cố định về mặt cấu trúc cũng
như ý nghĩa của BTNNCĐ này. Như vậy, các
tín hiệu ngôn ngữ cấp 1 (các từ đơn lẻ) và các
tín hiệu ngôn ngữ cấp hai trong đó có
BTNNCĐ (coi như các tổ hợp từ) được hình
thành do quy ước trong cộng đồng và mang

một trong các hệ quả của tính võ đoán của tín
hiệu, và đó là một trong các nguyên nhân tạo
ra tính đa dạng của ngôn ngữ như phương tiện
của tư duy.
CNTT-
CB
II. KẾT LUẬN
BTNNCĐ là một đơn vị từ vựng xuất
hiện nhiều trong các ngôn ngữ. Chúng rất phổ
biến trong đời sống ngôn ngữ hàng ngày do
tính sẵn có và tiện dụng. Tuy nhiên, đây cũng
là một trong các đơn vị ngôn ngữ với những
đặc trưng rất khó tiếp cận, xử lý và sử dụng.
Với quan niệm BTNNCĐ là một loại từ
vựng đặc biệt, việc sử dụng quan điểm của F de Saussure về bản chất tín hiệu của ngôn ngữ
là một luận cứ khoa học quan trọng giúp
chúng tôi nghiên cứu ý nghĩa của các
BTNNCĐ. Các thuật ngữ liên quan đến tín
hiệu ngôn ngữ đã được F de Saussure đưa ra
như tính võ đoán, tính hình tuyến, quan hệ
ngữ đoạn, quan hệ liên tưởng, cái biểu hiện,
cái được biểu hiện, giá trị ngôn ngữ… được
chúng tôi vận dụng nhiều trong bài viết để
phát triển và chứng minh luận cứ của mình.
Không phải nghi ngờ gì về giá trị ngữ
nghĩa của các BTNNCĐ vì vai trò thực tế của
chúng trong hoạt động ngôn ngữ trong đời

- Nghĩa cố định của BTNNCĐ được hình
thành do quá trình tín hiệu hóa dần từ cú pháp
đến từ vựng. Con đường hình thành nghĩa của
BTNNCĐ là con đường hình thành nghĩa của
các tín hiệu bậc 1 và bậc 2, trải qua hai bước
cơ bản là (1) tạo mã và lập mã và (2) quá trình
dùng, sử dụng và khẳng định giá trị.
- BTNNCĐ như một đơn vị từ vựng đặc
biệt là một trong những kết quả tất yếu của sự
phát triển ngôn ngữ trên cơ sở phát triển, cải biến
tiềm năng sẵn có trong nội tại một ngôn ngữ.

Tài liệu tham khảo
[1]. Ferdinand de Saussure, Giáo trình ngôn ngữ
học đại cương, NXB KHXH, Hà Nội, 1973
[2]. Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng,
NXB Giáo dục, 1998
[3]. Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán, Đại cương
ngôn ngữ học tập 1. NXB Giáo dục, 2001
[4]. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt,
NXB Giáo dục, 1999
[5]. John Lyons, Ngữ nghĩa học dẫn luận, NXB
Giáo dục, 2006
[6]. Lưu Nhuận Thanh, Các trường phái ngôn ngữ
học phương tây, NXB Lao động, 2004
[7]. Mak Halliday, Dẫn luận ngữ pháp chức năng,
NXB ĐH QG Hà Nội, 2001
[8]. Nguyễn Lai, Những bài giảng về ngôn ngữ học
đại cương, NXB ĐHQG, Hà Nội, 1999
[9]. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status