ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG SƠN HÀ
BIỂU THỨC NGÔN NGỮ THỀ TRONG MỘT SỐ
TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM THẾ KỈ XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG SƠN HÀ
BIỂU THỨC NGÔN NGỮ THỀ TRONG MỘT SỐ
TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM THẾ KỈ XX
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành: 8 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐÀO THỊ VÂN
THÁI NGUYÊN - 2020
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................... v
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 2
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu ............................................................. 3
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 3
5. Đóng góp của luận văn ............................................................................................. 4
6. Bố cục của luận văn .................................................................................................. 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN .......... 5
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ............................................................................ 5
1.1.1. Khái quát tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ ........................................ 5
1.1.2. Khái quát tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ lớp cam kết, nghiên
cứu hành động thề và biểu thức ngôn ngữ thề trong tiếng Việt.................................... 9
1.2. Cơ sở lí luận ......................................................................................................... 12
1.2.1. Lí thuyết về hành động ngôn ngữ ..................................................................... 12
1.2.2. Lí thuyết hội thoại ............................................................................................. 28
1.2.3. Khái niệm ngôn ngữ, khái niệm văn hóa; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
văn hóa ........................................................................................................................ 37
1.2.4. Khái niệm biểu thức ngôn ngữ và biểu thức ngôn ngữ thề............................... 38
1.3. Tiểu kết ................................................................................................................ 39
Chương 2. BIỂU THỨC NGÔN NGỮ THỀ TRONG VĂN XUÔI VIỆT
NAM THẾ KỈ XX NHÌN TỪ LÍ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ .......... 41
2.1. Nhận xét chung về biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX....... 41
2.1.1. Về số lượt sử dụng ............................................................................................ 41
2.1.2. Về đặc điểm hình thức ...................................................................................... 42
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NGỮ LIỆU THỐNG KÊ ................................... 100
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTNN
:
Biểu thức ngôn ngữ
ĐTNV
:
Động từ ngữ vi
HCT
:
Hồ Chủ tịch
HP
:
Nguyễn Khải
NMC
:
Nguyễn Minh Châu
SCM
:
Sau Cách mạng
SP1
:
Người nói
SP2
:
Người nghe
TCM
:
Bảng 2.1:
Bảng tổng kết số lượt dùng biểu thức ngôn ngữ thề trong một số tác
phẩm văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX...................................................... 41
Bảng 2.2.
Bảng tổng kết biểu thức ngôn ngữ thề trùng/không trùng biểu thức
ngữ vi..................................................................................................... 45
Bảng 2.3.
Bảng xác định các thành tố cấu tạo biểu thức ngữ vi thề trong một số
ví dụ ....................................................................................................... 51
Bảng 2.3.
Bảng tổng kết biểu thức ngữ vi thề không đủ thành tố ......................... 51
Bảng 2.4:
Bảng tổng kết các dạng biểu tức ngữ vi thề khuyết một thành tố (qua
phân tích một số ví dụ tiêu biểu) ........................................................... 55
Bảng 2.5.
Bảng tổng kết các biểu thức ngữ vi thề khuyết 1 thành tố .................... 56
Bảng 2.6.
Bảng 2.12.
Bảng tổng kết biểu thức ngôn ngữ thề xét theo đích ở lời .................... 69
Bảng 3.1.
Bảng tổng kết các BTNN thề được phân loại theo hoàn cảnh sử dụng .... 77
Bảng 3.2.
Bảng tổng kết các kiểu biểu thức ngôn ngữ thề được phân loại theo
vị thế của chủ ngôn trong mối quan hệ với tiếp ngôn ........................... 80
Bảng 3.3.
Bảng tổng kết các kiểu biểu thức ngôn ngữ thề xét theo chức năng
trong cặp thoại ....................................................................................... 86
v
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Lí do khách quan
Ngữ pháp học truyền thống đã chia câu làm bốn loại dựa vào mục đích nói, đó là:
câu tường thuật (câu kể), câu hỏi (câu nghi vấn), câu cầu khiến và câu cảm thán.
Dưới ánh sáng của ngữ dụng học, nói năng cũng là một hành động, một hành
động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Một phát ngôn (câu đã được hành chức)
được người nói/ viết nói (viết) ra bao giờ cũng diễn đạt một hay vài hành động nào đó,
chẳng hạn như: kể, hỏi, yêu cầu, khen, chê, cam đoan, bộc lộ thái độ, v.v... Biểu thức
của các giai đoạn văn học.
Chọn đề tài “Biểu thức ngôn ngữ thề trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam
thế kỉ XX” để nghiên cứu, thiết nghĩ đây là một việc làm cần thiết. Nghiên cứu vấn đề này,
người viết hi vọng sẽ giúp người đọc hiểu thêm về hành động ngôn ngữ, trong đó có hành
động thề cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn sử dụng. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn
sẽ giúp người đọc thấy được biểu thức ngôn ngữ thề không chỉ được dùng đúng đích ở lời
thề (biểu thức thề dùng để thực hiện hành động thề) mà còn được dùng để thực hiện nhiều
hành động khác như khẳng định, bác bỏ, biểu cảm, v.v... Đặc biệt, biểu thức ngôn ngữ thề
không chỉ được sử dụng trong giao tiếp đời thường mà còn được sử dụng cả trong văn
chương, trong đó có văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX.
2. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Như đã nói ở mục Lí do chọn đề tài, nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề trong
văn xuôi thế kỉ XX, người viết nhằm ba mục đích:
Thứ nhất, góp phần củng cố lí thuyết về hành động ngôn ngữ, trong đó có hành
động thề;
Thứ hai, giúp người đọc thấy được biểu thức ngôn ngữ thề được sử dụng trong
văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX như thế nào;
Thứ ba, làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu hành động ngôn
ngữ trong đó có hành động thề trong giao tiếp nói chung, trong văn xuôi nói riêng.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Tổng quan sơ lược tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ, đặc biệt chú
trọng tìm hiểu tình hình nghiên cứu về biểu thức ngôn ngữ thề và hành động thề trong
giao tiếp và trong văn chương.
- Nghiên cứu và lựa chọn những vấn đề lí thuyết liên quan làm căn cứ lí luận
cho việc xử lí đối tượng nghiên cứu;
2
3
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Cặp phương pháp nghiên cứu này được
dùng để phân tích biểu thức ngôn ngữ thề về các phương diện cần nghiên cứu đã
nói ở trên. Theo đó, tổng hợp những kết quả nghiên cứu được và đưa ra những kết
luận cụ thể về biểu thức ngôn ngữ này đã sử dụng trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ
XX như thế nào.
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Thủ pháp nghiên cứu này được dùng để so sánh
biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi ở các giai đoạn văn học thế kỉ XX.
5. Đóng góp của luận văn
5.1. Về mặt lí luận
Như đã nói ở mục Lịch sử vấn đề, có thể nói lần đầu tiên biểu thức ngôn ngữ
thề trong tiếng Việt nói chung, trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX được nghiên cứu
theo hướng dựa vào lí thuyết hành động ngôn ngữ và lí thuyết hội thoại. Bởi vậy,
luận văn giúp người đọc có một cái nhìn mới về một hành động ngôn ngữ (hành
động thề) mà từ trước đến nay hầu hết các nhà nghiên cứu đi trước đã xếp vào nhóm
hành động cam kết. Luận văn chỉ rõ, biểu thức ngôn ngữ thề không chỉ là phương
tiện diễn đạt một hành động ngôn ngữ nhóm cam kết - hành động thề mà còn được
dùng để diễn đạt những hành động ngôn ngữ nhóm xác tín (nhóm trình bày) hay
nhóm bộc lộ (biểu cảm),...
5.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn có giá trị thực tiễn đối với việc nghiên cứu, học tập và sử dụng biểu
thức ngôn ngữ thề trong giao tiếp đời thường và trong văn chương. Kết quả nghiên cứu
của luận văn có thể là một gợi ý cho việc biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt cho người
nước ngoài theo hướng dạy hành động ngôn ngữ.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo và nguồn ngữ liệu
thống kê, luận văn gồm ba chương:
- Lớp hành vi trình bày.
J. Searle là người kế thừa và phát triển lí thuyết hành động ngôn từ của J. L.
Austin. Để khắc phục những hạn chế của J. L. Austin, J. Searle đã đưa ra một hệ thống
gồm 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn từ và cũng chia hành động ngôn ngữ thành
5 lớp cơ bản, là:
- Lớp hành vi tái hiện;
- Lớp hành vi điều khiển;
- Lớp hành vi cam kết;
- Lớp hành vi biểu cảm;
- Lớp hành vi tuyên bố.
5
Ngoài 2 tác giả nói trên, một số nhà ngôn ngữ học người nước ngoài có tên tuổi khác
như D.Wunderlich, F.Recanati, K. Bach, R.M. Hanish, A.Wierzbicka, ... đã tiếp tục tìm
hiểu hành động ngôn ngữ và đưa ra quan điểm của mình. Mặc dù các công trình nghiên
cứu của các tác giả này có cụ thể hơn, có những điểm mới hơn trong cách nhìn so với
công trình của Austin và Searle về các tiêu chí phân loại, song có thể nói chúng đều có
sự kế thừa những tiền đề lí thuyết mà hai công trình của hai ông nói trên đã đặt ra. Chẳng
hạn, A.Wierzbicka với công trình nghiên cứu mang tên “English speech act verbs asemantic dictionary” đã phân loại hành động ngôn từ dựa trên cơ sở 270 động từ nói
năng (speech act verbs). Theo đó, bà đã qui hành động ngôn từ thành 37 nhóm, tiêu biểu
là: ra lệnh (oder), cầu xin (ask1), hỏi (ask2), mời gọi (call), cấm (forbid), cho phép
(permit), trách mắng (reprimand), tranh cãi (argue), ...
Cái mới của A.Wierzbicka là trong quá trình miêu tả hành động ngôn từ, bà đã
chỉ ra việc phân loại cần phải dựa và những tiêu chí của điều kiện thuận ngôn như:
cương vị của người nói và người nghe; người nói dùng chiến lược nào (lí trí hay tình
cảm) để hành động; người nghe có quyền từ chối việc thực hiện hành động được nêu
trong nội dung mệnh đề hay không; khi công việc hoàn tất, người hưởng lợi là người
nói hay người nghe.
và J.Searle, tác giả này còn phân biệt động từ ngữ vi và động từ trần thuật, sự khác biệt
giữa câu ngữ vi và câu trần thuật.
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng như hai tác giả dẫn trên, đã khái quát được
một số khái niệm cơ bản về ngữ dụng học trong công trình của mình. Điểm khác biệt
là ông đã chú trọng vận dụng những lí luận đó vào việc phân tích, miêu tả một số hiện
tượng của tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết dụng học. Vì vậy, công trình của tác
giả có phần dễ hiểu và có tính ứng dụng cao.
Ngoài những công trình nghiên cứu hành động ngôn ngữ khái quát của các nhà
Việt ngữ học dẫn trên, còn một số công trình đã đi sâu nghiên cứu một hoặc một số
hành động ngôn ngữ nào đó. Chúng tôi xin được liệt kê một số công trình tiêu biểu (vì
khuôn khổ của luận văn không cho phép, xin phép không liệt kê bài liên quan in trên
Tạp chí vì có quá nhiều và cũng xin không nhận xét nội dung của các công trình sẽ dẫn
dưới đây. Luận văn cũng chỉ nhắc đến khi cần thiết):
1. Nguyễn Đức Hoạt (1995), Dấu chỉ phép lịch sự trong câu cầu khiến tiếng
Việt, Luận án Tiến sĩ, Melbourne, Australia;
2. Đào Thanh Lan (2010), Ngữ pháp và ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt,
Nxb KHXH.
7
3. Nguyễn Thị Lương (1996), Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị
các hành động ngôn từ trong tiếng Việt, Luận án TS ngôn ngữ học, Nxb ĐHSP HN.
4. Trần Chi Mai (2006), Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến
trong tiếng Anh, Luận án TS ngôn ngữ học, Nxb ĐHQG HN.
5. Nguyễn Thị Thanh Ngân (2016), Các hành động cầu khiến tiếng Việt, Nxb
ĐHQG HN.
6. Nguyễn Thị Qui (1995), Vị từ hành động tiếng Việt và những tham tố của nó,
Nxb KHXH, HN.
7.. Đặng Thị Hảo Tâm (2003), Cơ sở lí giải nghĩa hàm ẩn của các hành vi ngôn
hay gián tiếp bàn về các hành động ngôn ngữ thuộc lớp cam kết nói chung, xin dẫn một
số công trình làm minh chứng (liệt kê theo năm công bố):
(1) Vũ Thị Tố Nga (2006), Hành vi cam kết và các động từ biểu thị hành vi cam
kết, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5.
(2) Đồng tác giả (2014), Sự kiện lời nói và sự kiện lời nói cam kết trong hội
thoại, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 5 (31).
(3) Vũ Thị Tố Nga (2015), Các thành phần của một biểu thức ngữ vi cam kết
tường minh - Hành trình và nối tiếp, Nxb ĐHQG HN.
(4) Vũ Tố Nga (2010), Sự kiện lời nói cam kết trong hội thoại, Luận án Tiến sĩ
Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội.
(5) Phạm Thanh Mai (2019), Tìm hiểu hành động cam kết trong một số tác phẩm
văn xuôi Việt nam giai đoạn 1930 - 1945, Luận văn Thạc sĩ, ĐHTN
Cũng như phần lớn các công trình đã dẫn ở mục 1.1.1, các công trình vừa dẫn
chủ yếu tập trung nghiên cứu các hành động lớp cam kết về tiêu chí phân loại, hình
thức thể hiện, các dấu hiệu ngôn hành hay hiệu lực ở lời, vai trò, tác dụng, v.v... trong
giao tiếp nói chung và trong văn xuôi nói riêng.
1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu hành động thề (hành vi ngôn ngữ thề) và biểu thức ngôn
ngữ thề trong tiếng Việt
a) Tình hình nghiên cứu hành động thề
Như đã nói, ngoài một số bài in trên Tạp chí, chúng tôi mới tìm được hai công
trình nói về hành động thề thể hiện sự công phu nghiên cứu của tác giả, đó là Luận án
Tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Nga và luận Văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hương.
(1) Luận án Tiến sĩ với tên “Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng Việt”,
bảo vệ năm 2013 tại Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam - Học viện KHXH của tác giả
Nguyễn Thị Thu Nga.
Cũng như các tác giả: Đỗ Hữu Châu (2001), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn
Thiện Giáp (2000), trong công trình nghiên cứu này, Nguyễn Thị Thu Nga đã khẳng
9
vậy, qua cách nói vừa dẫn có thể thấy hành động thề nguyền đã được tác giả đánh giá
10
là một hành động ngôn ngữ có hiệu lực cao trong việc thể hiện cảm xúc của người nói
(ở bài viết này là nhân vật trong Truyện Kiều). Trong những ngữ cảnh nhất định, hành
động thề nguyền đã phá vỡ được mọi định kiến của xã hội để chạm tới tình yêu, một
thứ tình yêu vượt trên những định kiến xã hội.
Tóm lại, hành động thề nói chung, hành động thề trong văn chương nói riêng đến
nay chưa được nghiên cứu nhiều. Việc nghiên cứu bản chất của hành động thề, cấu trúc
và phương tiện thể hiện, các tác nhân quyết định hiệu quả của hành động thề, nét đặc trưng
văn hóa của người Việt biểu lộ qua hành động thề và những nét riêng của việc sử dụng
hành động thề trong giao tiếp và trong văn chương là một việc làm cần thiết.
Ngoài việc tiếp thu những quan điểm về hành động thề của các tác giả đã dẫn,
luận văn này sẽ làm rõ thêm đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của hành động
ngôn ngữ này trong văn xuôi Việt nam thế kỉ XX với mục đích như đã nói ở mục 2.1
(phần Mở đầu).
b) Tình hình nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề
- Tình hình nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ (biểu thức ngữ vi): Để tiện cho việc
trình bày, từ đây chúng tôi tạm đồng nhất hai khái niệm biểu thức ngôn ngữ và biểu thức
ngữ vi. Về khái niệm biểu thức ngữ vi, chúng tôi sẽ trình bày kĩ ở mục 1.2.1.5.b.
Cần phải nói ngay rằng, không có một biểu thức ngữ vi trừu tượng. Bất cứ một
biểu thức ngữ vi nào cũng phải gắn với một hành động ngôn ngữ cụ thể, như biểu thức
ngữ vi hỏi, biểu thức ngữ vi hứa, biểu thức ngữ vi đề nghị, yêu cầu hay biểu thức ngữ
vi khuyên, v.v... Đến nay chúng tôi mới tìm được một công trình dành riêng cho việc
nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ, đó là luận án tiến sĩ mang tên “Biểu thức ngôn ngữ so
sánh trong tiếng Việt” của tác giả Trần Thị Oanh, bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội.
Ngoài việc khái quát những vấn đề lí thuyết liên quan, luận án đã tập trung nghiên
hành vi ngôn ngữ) là “Một đoạn lời có mục đích nhất định thực hiện trong những những
điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện trên ngữ liệu và hoàn chỉnh
thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói người nghe đều có liên hệ với một ý
nghĩa như nhau, trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó. Hành vi ngôn ngữ được thực hiện
khi một người nói (người viết) nói (viết) ra một phát ngôn cho người nghe (người đọc)
trong một ngữ cảnh nhất định. [56, tr.176].
Theo Đỗ Hữu Châu, “Hành động ngôn ngữ là hành động thực hiện khi tạo ra
một phát ngôn (diễn ngôn) trong một cuộc giao tiếp” [4; tr.88].
12
Tác giả Đỗ Hữu Châu còn nhấn mạnh thêm: “Một hành động ngôn ngữ được
thực hiện khi một người nói/ viết nói (viết) ra một phát ngôn U cho người nghe/ đọc
trong ngữ cảnh C.” [4; tr.88].
Cũng như các hành động vật lí khác, hành động ngôn ngữ cũng đòi hỏi phải có
điều kiện, thao tác, cách thức thao tác và đặc biệt là có đích.
Chẳng hạn, muốn có một hành động ngôn ngữ, tối thiểu người nói phải có một
bộ máy phát âm bình thường, phải có nhu cầu muốn nói, phải có vốn ngôn ngữ hay nói
ra nhằm mục đích gì đó.
1.2.1.2. Các loại hành động ngôn ngữ
J. L. Austin (dẫn theo 2; tr.88) cho rằng, có ba loại hành động ngôn ngữ lớn, đó
là: hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động ở lời.
Hành động tạo lời (hành động tạo ngôn) là hành động sử dụng các yếu tố ngôn
ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu để tạo nên một phát ngôn về hình
thức và nội dung.
Đỗ Hữu Châu cho rằng đây chính là hành động vận động các cơ quan phát âm
(khi nói) hoặc cử động tay (khi viết) trên cơ sở vận dụng các từ và kết hợp các từ theo
những quan hệ cú pháp thích hợp để tạo thành phát ngôn, rồi tổ chức các phát ngôn
thành diễn ngôn.
Hành động ở lời có ý định, qui ước và thể chế. Tuy những qui ước và thể chế
của chúng không hiển ngôn nhưng vẫn được mọi người trong cộng đồng hiểu và tuân
thủ một cách không tự giác.
1.2.1.3. Phân loại hành động ở lời
Có thể nói, chưa ai có thể thống kê được một cách chính xác có bao nhiêu hành
động ở lời. Việc phân loại hành động ở lời là công việc khá phức tạp và đến nay vẫn
chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Có nhiều tiêu chí để phân loại hành
động ở lời thành các nhóm (xem cách phân loại của các tác giả: Wierzbicka, Austin,
Searle, D.Wunderlich, F.Recanati, K. Bach được Đỗ Hữu Châu [4] trình bày từ trang
122 đến trang 138). Chúng tôi sử dụng cách phân loại của J. R. Searle để làm căn cứ lí
luận cho đề tài. Dưới đây là tinh thần cơ bản về phân loại hành động ở lời mà tác giả
này đã đưa ra.
a) Các tiêu chí phân loại hành động ở lời của J.R. Searle
Như đã nói ở mục 1.1.1, Searle [dẫn theo 4] đã đưa ra 12 số đo có giá trị xác
định hành động ở lời (Searle gọi là hành động ngôn trung, theo đó là cách gọi một số
khái niệm liên quan đến khái niệm này), đó là:
14
(1) Đích ngôn trung (point of illocution);
(2) Hướng khớp ghép giữa lời và hiện thực (direction of fit between the words
uttered and the world they relate to);
(3) Trạng thái tâm lí được biểu hiện (expressed psychological states);
(4) Sức mạnh (hay là lực) mà đích ngôn trung thể hiện (the strengh with which
the illocutionary point is presented);
(5) Tính quan yếu về cương vị trong quan hệ giữa người nói và người nghe
(relevance of the relative status of S and H);
(6) Hướng của hành động ngôn trung (orientation - hướng của hành động tại lời);
(7) Chức năng liên kết diễn ngôn (discourse - related functions);
khi xếp vào nhóm cam kết hay nhóm tuyên bố bởi tùy thuộc vào đích ở lời của chúng.
Nếu đích ở lời là nhằm xác tín, khẳng định một điều gì đó hay nội dung mệnh đề là
một sự việc đã xảy ra thì biểu thức ngôn ngữ thề có thể để vào nhóm hành động biểu
hiện như ví dụ dưới đây:
Ví dụ (1):
- A: Tớ không tin cậu dám nói với Minh chuyện tớ kể cho cậu hôm qua.
- B: Sao cậu không tin tớ? Tớ thề với cậu là tớ đã nói chuyện đó với Minh rồi.
Biểu thức ngôn ngữ thề của B trong ví dụ vừa dẫn có thể xếp vào nhóm biểu
hiện (xác tín) vì hành động “nói chuyện đó với Minh” của B là hành động xảy ra
trong quá khứ, hướng khớp ghép là lời ghép vào hiện thực (hiện thực - việc “nói
chuyện đó với Minh” - là cái xảy ra trước, lời thề là cái xảy ra sau). B thề là nhằmđể
khẳng định ở mức độ cao hành động B “đã nói chuyện đó với Minh”.
Biểu thức ngôn ngữ thề trong ví dụ (2) dưới đây lại có thể xếp vào nhóm cam
kết bởi người nói SP1 thề để cam kết thực hiện điều nói trong nội dung mệnh đề và là
hành động trong tương lai mà người nói sẽ thực hiện. Khác với ví dụ (1), hướng khớp
ghép ở ví dụ (2) là hiện thực ghép với lời (tức hành động nói chuyện đó là cái xảy ra
sau lời thề, ghép với lời thề).
Ví dụ (2): A: Cậu nói với Minh hộ tớ chuyện này được không?
B: Tớ thề với cậu là nhất định tớ sẽ nói với Minh chuyện đó.
Hành động nói (với Minh chuyện này) là hành động sẽ xảy ra trong tương lai
mà người nói (tớ) phải thực hiện. Tức SP1 (B) thề để cam kết với SP2 (người nghe
A) ở mức độ cao rằng sẽ làm một việc gì đó mà người nói (SP1) nhờ. Trong trường
hợp này, hành động thề của B có thể xếp vào nhóm hành động cam kết.
16
Biểu thức thề của nhân vật ông cậu trong ví dụ (3) dưới đây lại có thể xếp vào
nhóm hành động tuyên bố:
Ví dụ 3: Thôi tôi xin quan ông quan bà đừng nói khéo, đồ đểu! Tao thề từ nay