Kiến thức lớp 12 “Chiếc thuyền ngoài xa” –Nguyễn Minh Châu-phần10 - Pdf 17

Kiến thức lớp 12
“Chiếc thuyền ngoài xa” –Nguyễn
Minh Châu-phần10

ĐẶC ĐIỂM LỜI NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
(Xét từ góc độ phong cách học)
A/Mở đầu:

Trong thời kì văn học sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu (1930-
1989) không phải là nhà văn đổi mới đầu tiên nhưng lại là một
trong “những nhà văn mở đường tài năng và tinh anh nhất”.
Hướng đổi mới trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu thể hiện
rõ rệt trên tất cả các phương diện. Về nội dung, Nguyễn Minh
Châu trong tác phẩm của mình đã nới rộng phạm vi hiện thực, bổ
sung vào hiện thực quen biết những mảng còn chưa được nói
đến hoặc còn né tránh trong văn học thời kì trước đó. Chẳng hạn
như tính chất bi kịch và mặt trái của chiến tranh đối với số phận
con người, phát hiện về cuộc sống với biết bao nghịch lí, biết bao
ngẫu nhiên bất ngờ, những phức tạp, bí ẩn của con người trong
cuộc sống thường nhật… Về nghệ thuật, tính đơn giọng, độc
thoại đã bị phá vỡ, thay vào đó là tính đa thanh, đối thoại. Lời
người kể chuyện dù khách quan hay chủ quan đều không phải là
cái nhìn thuần nhất. Tính trữ tình- triết luận của lời kể gắn với
kiểu nhân vật tự ý thức…

Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những tác phẩm tiêu biểu của
Nguyễn Minh Châu, thể hiện rõ nét những đổi mới của văn học

tiếp nhất định” (4, 401)

Phong cách học lời nói là một phạm trù quan trọng của phong
cách học. Theo PGS. TS Nguyễn Thái Hòa, “phong cách lời nói là
phong cách học lấy lời nói làm đối tượng nghiên cứu của mình,
trong đó kể cả các văn bản và văn bản nghệ thuật” (2, 184). Là
một bộ phận của phong cách học, phong cách học lời nói không
chỉ nghiên cứu lời nói- ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp hàng
ngày mà còn nghiên cứu ngôn ngữ viết trong văn bản nói chung,
văn bản nghệ thuật nói riêng trong tính đối thoại của nó.

2.Lời nói nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật

Theo TS Nguyễn Thị Ngân Hoa trong cuốn Nhập môn ngôn ngữ
học thì: “Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ trong tác phẩm văn
chương . Trong một tác phẩm văn học cụ thể, ngôn ngữ nghệ
thuật được tổ chức theo mục đích thẩm mĩ của chủ thể, xuất hiện
trong những hình thức cấu trúc riêng biệt, cụ thể. Ngôn ngữ được
vận dụng trong tác phẩm có tính cá thể hóa cao độ, bao gồm
nhiều thành phần, kiểu, dạng phụ thuộc vào các nhân tố: chủ thể,
người kể, nhân vật, điểm nhìn, giọng điệu….Vì vậy, khi đề cập
đến các thành phần trong cấu trúc ngôn ngữ của một văn bản cụ
thể, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, thi pháp học sử dụng
khái niệm “lời nói”: lời người kể, lời nhân vật, lời đối thoại, lời độc
thoại, lời trực tiếp, lời gián tiếp, lời nửa trực tiếp…” (4, 406-407).

3.Các thành phần của lời nói nghệ thuật trong văn xuôi tự
sự; đặc điểm lời người kể chuyện:

3.1.Các kiểu và các dạng thức của lời nói nghệ thuật được phân

giọng điệu đã quy định cấu trúc lời nói nghệ thuật trong tác phẩm.

II/Đặc điểm lời người kể chuyện trong truyện ngắn Chiếc
thuyền ngoài xa.

1.Người kể, vai kể

Trong Chiếc thuyền ngoài xa người kể chuyện thuộc ngôi thứ
nhất-xưng tôi, đồng thời là nhân vật chính của truyện. Người kể
chuyện xuất hiện với tư cách một nghệ sĩ nhiếp ảnh, ngoài ra còn
với tư cách “một người lính giải phóng từng mười năm cầm
súng”.

Với tư cách người nghệ si nhiếp ảnh, người kể chuyện đã kể lại
câu chuyện về chuyến đi công tác của mình: Được trưởng phòng
giao nhiệm vụ chụp ảnh bổ sung vào bộ lịch một cảnh biển buổi
sáng có sương, anh đã đến một vùng biển miền Trung, nơi phong
cảnh thật là thơ mộng, còn sương mù vào tháng bảy. Tại đây,
sau nhiều ngày phục kích, anh ngẫu nhiên gặp được một cảnh
trời cho: “ …trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh
họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu
sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh
mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng
phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào
bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm
lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt
cánh của một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh
sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn
bích”. Trước vẻ đẹp ấy người nghệ sĩ “trở nên bối rối, trong trái
tim như có cái gì bóp thắt vào”. Trong khoảnh khắc đó, anh


Khi ở tòa án, người kể chuyện tiếp tục bị bất ngờ bởi những
nghịch lí: người đàn bà chấp nhận chịu đựng những trận đòn
man rợ chứ nhất định không chiu bỏ gã chồng vũ phu: “Quý tòa
bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ
nó…”. Câu nói của người đàn bà khiến người kể chuyện “cảm
thấy gian phòng ngủ lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút
hết không khí, trở nên ngột ngạt quá”.Có lẽ với cái nhìn vốn chỉ
quen nhìn thấy những nét thơ mộng của cuộc sống, người nghệ
sĩ đã không thể hiểu và không thể chấp nhận được cách xử sự kì
lạ của người đàn bà. Sự đơn giản trong cái nhìn của “tôi” còn thể
hiện qua việc anh hỏi người đàn bà: “Lão ta hồi trước bảy nhăm
có đi lính ngụy không?” để tìm nguyên do của những hành động
dã man của gã chồng vũ phu.

Câu chuyện về cuộc đời người đàn bà do chính chị ta kể ở tòa án
mà người kể chuyện vừa là người chứng kiến (và kể lại) vừa là
người trực tiếp tham gia vào cuộc đối thoại với chị ta đã dần dần
cho anh câu trả lời về những điều nghịch lí mà anh đã chứng
kiến. Lão chồng vốn là “một anh con trai cục tính nhưng hiền lành
lắm” nhưng đã trở nên độc ác là vì khổ quá. Còn người đàn bà
lạy van những người đại diện công lí “đừng bắt con bỏ nó” là vì:
“…đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người
đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nôi nấng
đặng một sắp con nhà nào cũng trên dười chục đứa. Đàn bà trên
thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình
như trên đất được”.Câu nói giản di, chân chất của người đàn bà
đã có tác động sâu xa tới nhận thức của chánh án Đẩu và cũng là
nhận thức của người kể chuyện: “một cái gì vừa vỡ ra trong đầu
vị bao công của cái phố huyện vùng biển” thật ra cũng là “một cái


2.Đặc điểm, tính chất lời người kể chuyện

2.1.Tính chủ quan- chân thực

Việc chọn vai kể ngôi thứ nhất, người kể tự kể lại câu chuyện của
mình trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đã mang lại tính
chủ quan- chân thực cho lời kể.

Tính chủ quan- chân thực trước hết bộc lộ trong việc tả thiên
nhiên. Là nghệ sĩ cho nên người kể chuyện có khả năng phát
hiện, cảm nhận những phương diện nên thơ của cảnh vật thiên
nhiên. Đây là vẻ đẹp của vùng phá nước: “Vùng phá nước có một
cái gì đấy thật là phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu
đang ấp vào tâm hồn anh. Tôi trở nên ngây ngất vào buổi sang,
bầu trời không xanh biếc, cao thăm thẳm mà được một sắc giữa
xanh và xám, bầu trời như hạ thấp xuống và như ngưng đọng lại;
giữa trời và nước ấy chỉ có một chiếc thuyền của một gia đình
làm nghề vó bè đang tỏa khói bếp giữa phá- chiếc thuyền đứng
im như làm bằng các tông dán vào cảnh vật êm ả”. Và đây là vẻ
đẹp của chiếc thuyền ngoài xa: “ trước mặt tôi là một bức tranh
mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ
lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu
hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ
con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum,
đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những
cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới
một hình thù y hệt cánh của một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ
đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực
đơn giản và toàn bích”.

bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình một cách chân thành và thường
bộc lộ trực tiếp bằng những từ ngữ chỉ trạng thái tâm lí: “tôi kinh
ngạc đến mức trong mấy phút cứ đứng há mồm ra mà nhìn”, “tôi
cảm thấy (…) ngột ngạt quá”.

Tính chủ quan- chân thực còn được thể hiện qua tính hướng nội
của lời kể: Trong lời kể thường có những từ ngữ miêu tả trực tiếp
các hành vi bên trong, các ý nghĩ, cảm xúc, cảm giác của nhân
vật: tôi trở nên bối rối…, tôi tưởng chính mình vừa khám phá
thấy…, tôi chắc mẩm…, tôi kinh ngạc…, tôi cảm thấy…, tôi mới
sực nghĩ ra…,v.v…

Còn khi diễn tả những gì không thể trực tiếp quan sát được
người kể chuyện thường dùng những từ ngữ có tính chất phỏng
đoán:

“khuôn mặt (…) dường như đang buồn ngủ”, “có vẻ như những
điều phải nói với nhau họ đã nói hết”, “người đàn bà dường như
lúc này mới thấy đau đớn”, “hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ
rệt ra bề ngoài”.v.v…

Có thể thấy tính chủ quan- chân thực của là một đặc điểm nổi bật
của truyện ngắn này. Bởi các sự kiện trong truyện được kể lại từ
chính điểm nhìn chủ quan của người kể, những cảm xúc, suy tư
trước cảnh vật thiên nhiên, cuộc sống con người được chính
người kể bộc lộ.

2.2.Tính khách quan- đáng tin

Trong Chiếc thuyền ngoài xa, vai kể ngôi thứ nhất đem lại tính

dân đàn ông đánh các trong vùng này- do phong tục để lại”. Còn
người đàn bà thường xuyên bị chồng đánh đập lại cho rằng
chồng mình trở nên độc ác như vậy là vì hoàn cảnh. Chị xác
nhận: “ Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng
hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Qua những cách nhìn
khác nhau ấy về người đàn ông, người đọc nhận thấy không thể
nhìn nhận, đánh giá một con người một cách đơn giản, một chiều
mà cần phải tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa đẫn đến những
hành vi của con người trước khi kết luận về tính cách hay phán
xét họ. Người đàn ông ấy vừa đáng bị lên án bởi tính vũ phu, tính
ích kỉ nhưng anh ta cũng có chỗ đáng được cảm thông, chia sẻ,
bởi xét đến cùng, anh ta cũng chỉ là một nạn nhân của hoàn cảnh
sống quá khắc nghiệt.

Thật ra tất cả những cái nhìn khác nhau của các nhân vật đều là
sự khúc xạ cái nhìn của tác giả. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà
Nguyễn Minh Châu lại chọn người kể chuyện là một nghệ sĩ đã
từng là người lính. Từ điểm nhìn của một người lính đã từng
chiến đấu bảo vệ mảnh đất này, lời kể gợi ra một cuộc chiến đấu
mới không kém phần gay go, gian khổ so với cuộc chiến đấu
chống kẻ thù xâm lược. Đó là cuộc chiến đấu bảo vệ nhân tính,
vẻ đẹp tâm hồn của con người trong cuộc sống hòa bình.

Đưa vào trong lời kể chuyện những cách nhìn khác nhau, cái
nhìn chủ quan của vai kể đã được khách quan hóa, tạo ra tính đối
thoại, thể hiện khuynh hướng dân chủ hóa của văn học. Nhà văn
không áp đặt thông điệp của mình cho người đọc mà bằng cách
để cho vấn đề hiện lên một cách đa chiều, phức tạp buộc người
đọc phải vào cuộc để cùng tìm câu trả lời với tác giả.


Suy nghĩ ấy chứa đựng triết lí về mối quan hệ giữa tài năng và
ngẫu nhiên. Anh còn suy ngẫm về bản chất của cái đẹp: “Chẳng
biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo
đức?”. Rõ ràng lời kể thuật lại những suy ngẫm có tính cá nhân
nhưng những suy ngẫm ấy đã vượt qua giới hạn của những hiện
tượng cá biệt, vươn tới tầm khái quát.

Tính triết luận còn thể hiện qua những hình ảnh mang tính biểu
tuợng: “Chiếc thuyền ngoài xa” với vẻ đẹp thực đơn giản và toàn
bích” không chỉ là một hình ảnh cụ thể mà còn là biểu tượng cho
vẻ đẹp của cuộc sống khi người nghệ sĩ tiếp cận nó ở cự li,
khoảng cách “xa”- xa ở đây không đơn thuần về mặt không gian,
địa lí. Tất cả những nghịch lí mà Phùng chứng kiến đều có liên
quan đến chiếc thuyền ngoài xa ấy là một trong muôn vàn những
cảnh ngộ éo le có thể gặp trong cuộc sống đời thường. Nhưng nó
còn là biểu tượng cho những phương diện khuất lấp, phức tạp
của cuộc sống mà với cái nhìn hời hợt, đơn giản, người nghệ sĩ
khó có thể phát hiện ra. Hình ảnh cuối truyện: “…tuy là ảnh đen
trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng
hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng
hỏng, và nếu nhìn lâu hơn bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy
đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là người đàn bà vùng biển cao
lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có
miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì
kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân
dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông…” là ấn
tượng chủ quan của người kể chuyện. Ấn tượng ấy là sự khúc xạ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status