Ngôn ngữ thơ hôm nay - Pdf 17

NGÔN NGỮ THƠ HÔM NAY
GS.TS. Mã Giang Lân
Trường Đại học Khoa học xã hội- nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Chúng ta đã từng quen với hình thức ngâm thơ, bây giờ chúng ta lại trình diễn thơ để thơ
sống và đến với người đọc trong một tư thế mới hơn. Lối trình diễn với sự hỗ trợ của múa,
nhạc, màu sắc lời thơ như hòa vào, chìm lấp trong những thứ hỗn hợp ấy. Lời không rõ,
không nghe được lời thơ và như vậy thơ hay cũng như thơ dở. Nghệ thuật nguyên hợp thơ,
múa, nhạc thời nguyên thủy sống lại ở mức cao hơn, có ý thức hơn, hiện đại hơn. Thơ sống
nhờ vào các nghệ thuật khác, cũng như thơ ẩn cư trong ngôi nhà ngôn ngữ của văn xuôi.
Dù sao thì trình diễn thơ cũng chỉ tồn tại ở những đám đông, trong những lễ hội, những
lúc bốc đồng, lên đồng. Qua đi, thơ phải trở về với mình cả phần hồn và phần xác, không thể
cứ phải nhập hồn vào thân xác kẻ khác “hồn Trương Ba da hàng thịt”, rồi sẽ có bao nhiêu hệ
lụy, trớ trêu dở cười dở khóc. Muốn nói thế nào thì thơ (văn chương) vẫn là nghệ thuật ngôn
từ, một nghệ thuật dùng ngôn từ để khám phá và biểu hiện. Vậy thì muốn hiểu được, cảm thụ
được nghệ thuật đó phải bắt đầu từ ngôn từ. Ngôn từ sẽ làm hiện lên vẻ đẹp hình thức, tư
tưởng, tâm sự mà nhà thơ muốn gửi gắm vào đứa con tinh thần do chính họ tạo tác. “Các nghệ
thuật khác tuyệt đại bộ phận thường lấy chất liệu biểu đạt trong khách thể (màu sắc, đường nét,
âm thanh, hình khối, các loại vật liệu được gia công ). Văn chương có cái khác, chất liệu ngôn
ngữ nằm trong chủ thể (người nói) bởi vậy, việc sử dụng cái chất liệu đó có mối quan hệ rất
đặc biệt với sở biểu của sản phẩm. Người sáng tác, trực tiếp thể hiện khả năng tri nhận và khả
năng tái tạo thế giới trong ngôn ngữ riêng của chính mình. Họ không “lấy cái của thế giới để
mô tả thế giới” mà lấy ngay ở cái vốn riêng của bản thân mình. Đó là ngôn ngữ, ngôn ngữ
nghệ thuật”
(1)
.
Nhưng từ đây lại nẩy sinh ý định và quyết tâm đẩy ngôn ngữ thơ lên bình diện trung tâm,
giữ ưu thế tối cao, xem sáng tạo thơ là sáng tạo ngôn ngữ, kết cấu ngôn ngữ thơ là nội dung
thơ. Nhà thơ vượt ra ngoài chức năng giao tiếp bình thường của ngôn ngữ để thức tỉnh, giải
phóng độc giả khỏi cách diễn đạt khuôn mẫu tạo ra sự cảm nhận mới thì lại cần minh định một
vấn đề: giữa làm thơ và làm chữ. Làm thơ tức là ghi lại những rung động tâm hồn và chữ chỉ

mông mờ ảo về với cuộc đời, liên thông thiên đường với địa ngục, cái siêu thực dẫn vào hiện
thực, bất ngờ tạo ra những kết cấu lạ mà ở đấy lý trí rơi vào thân phận “con hầu”, lép vế. Thế
nhưng rất tài hoa, sáng tạo.
Ở dạng thứ hai, tiếng Việt biến hóa trong tay nhà ảo thuật:
- Các từ không tuân theo một trật tự lôgic thông thường. Đứng cạnh nhau mà các từ không
có liên quan về ngữ nghĩa, cứ ngơ ngác vô hồn:
Em từ đọ mặt mốt mai
Từ em thánh nữ ra ngoài tiên nương
Em đi nhảy vọt phi trường
Tầm sương sái diện đoạn trường chào em
(Em từ)
- Các từ nằm trong trò chơi đảo chữ, nói lái, vô nghĩa:
Một hôm gầu guộc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Bôm ha? Đạn hả? Bao gồm
Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen
(Ngẫu hứng)
- Các từ “lơ lớ” của người ngọng:
Âm u ô úc ôn tù niệm
Yếm ố ư uyên uyển tội từ
(Hán hương u hương)
Tất cả đều không có nghĩa. Thế nên thơ Bùi Giáng, ở dạng thứ hai này, chúng ta không
thể/ không nên để công vào khảo sát. Đây là ngôn ngữ của bệnh nhân tâm thần. Nói thế nhưng
chúng ta lại cần lưu ý đến hiện tượng có nhà thơ như bị thôi miên, bị “tâm thần hóa”, “điên
hóa” trong những khoảnh khắc sáng tạo và xuất thần có được những câu thơ bài thơ trác tuyệt,
2
lung linh, ám ảnh, khó mà lý giải. Muốn lý giải phần nào hiện tượng này, theo tôi, phải dựa
vào/ vận dụng tư duy hệ thống. Tư duy hệ thống đòi hỏi cách nhìn nhận vũ trụ cũng như từng
vấn đề (trong tự nhiên cũng như trong xã hội) là một toàn thể thống nhất, không tách rời các bộ
phận cấu thành, các hiện tượng đều tác động qua lại nhau, không độc lập mà liên thuộc hữu cơ

và những quy tắc diễn đạt tạo ra cách tư duy, tạo ra những mô thức văn chương. Vậy thì,
tôi đọc văn chương Việt, hiểu thơ Việt từ chiếc chìa khóa tiếng Việt để “giải mã” những gì
đã “mã hóa”. Ai cũng biết, tiếng Việt khác với tiếng Nga, tiếng Pháp, các ngôn ngữ
phương Tây, nói chung. Khác về ngữ âm, ngữ pháp, về hình thái cấu trúc từ Và như thế
cách tư duy của họ khác với cách tư duy của người Việt. Họ sáng tác nghệ thuật theo
những mô thức khác với chúng ta. Họ làm thơ không giống với tâm thế làm thơ của người
Việt.
Mặt khác, mỗi thời đại có thể loại riêng của nó và quan niệm về từng thể loại cũng có
những chuyển dịch. Xã hội thay đổi, biệt tính thể loại thay đổi dẫn đến những thay đổi về quan
niệm (bao gồm quan niệm về ngôn ngữ thơ) trong tư duy người sáng tạo và cả phía tiếp nhận.
Đến nay, cần chú ý thêm, trên cơ sở/ cái nền của thành tựu sáng tạo thơ, quan niệm về thơ,
quan niệm về ngôn ngữ thơ đã trở nên hết sức phong phú.
3
Nhiều nhà nghiên cứu đã tốn công sức để phân biệt ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi.
Sự thực thì sự phân chia đã có khi/ có thời đúng và mặc nhiên kết luận đã được công nhận
trong nhiều trường hợp. Nhiều nghệ sĩ ngôn từ cũng từng quan niệm như thế: Thơ và văn xuôi
cảm nhận cuộc sống khác nhau, ngôn ngữ thơ khác ngôn ngữ văn xuôi. Người viết văn xuôi có
thể tách mình ra khỏi ngôn ngữ tác phẩm của mình và ngôn ngữ trở nên một khách thể thẩm
mỹ. Nhà thơ thì không thể đứng ngoài, phải làm chủ toàn bộ ngôn ngữ tác phẩm và chịu trách
nhiệm về mọi thành tố của ngôn ngữ khiến nó phục vụ theo ý tưởng của mình. Trong công
trình Ngôn ngữ thơ
(4)
, nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Cảnh nêu lên nguyên lý của văn xuôi:
“nhằm vào việc miêu tả bức tranh hiện thực, văn xuôi làm việc trước hết bằng thao tác kết
hợp”, các đơn vị từ không được lặp lại. “Chính cái điều văn xuôi rất kỵ ấy lại là thủ pháp làm
việc của thơ: trong thơ tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng
các thông báo”. “Sự tương đương của các đơn vị ngôn ngữ làm nên chiết đoạn tạo thành thông
báo bao giờ cũng bao hàm một sự tương đương về ý nghĩa. Nghĩa là, sức mạnh của cơ cấu lặp
lại, của kiến trúc song song chính là ở chỗ đã tạo ra được một sự láy lại, song song trong tư
tưởng”. Ông chú ý và đặt trọng tâm vào tính tương đồng, trùng điệp (điệp từ, điệp ngữ, điệp

dụng ngôn ngữ một cách nghệ thuật. Văn chương hướng tới một mục đích: giúp con người tri
nhận cá nhân mình trong quá trình tri nhận/ đối chiếu với thế giới xung quanh thông qua ngôn
ngữ.
Ở đây tôi dẫn ba văn bản:
1. “Con kênh nhỏ nằm vắt qua một cách đồng rộng. Và khi chúng tôi quyết định dừng lại,
mùa hạn hung hãn dường như cũng góp hết nắng đổ xuống nơi này. Những cây lúa chết non
trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn” (Cánh
đồng bất tận - Văn nghệ 2005).
2. “Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông”
(Những người đàn bà xuống gánh nước sông - Nxb. Văn học 1995)
3. “Thế là con đã tự mình kiếm được miếng ăn thay vì ở thời ấu thơ, đôi mắt con phải
trông chờ bàn tay mẹ cha từng bữa
Thế là trên nẻo đường thực phẩm chúng ta đã bắt đầu chia tay nhau
Giờ đây, dù mâm cơm của con đặt ở nơi xa cha cũng còn mang tới cho con vài món ăn
mà cổ nhân gọi là kinh nghiệm”
(Nghĩ về con vừa kiếm được việc làm - Văn nghệ 2006)
Đấy là ba đoạn mở đầu truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư và thơ của Nguyễn Quang Thiều,
Lê Văn Ngăn. Theo ngữ dạng học thì thế nào? Chúng ta phải phát hiện ra những gì mà người
viết có trong ý thức, tìm ra những mối quan hệ giữa các hình thức ngôn ngữ trên và các nhà văn
nhà thơ đã sử dụng các hình thức ấy. Từ đó chỉ ra cái được thông báo lớn hơn cái được nói trên
văn bản. Cái phổ biến, phổ quát ở đây là cuộc đời thật giản dị gần gũi, không xa lạ mà thân
thương đến cảm động. Tất cả được “ghi lại” bằng một thứ ngôn ngữ bình thường, đời thường,
không “mỹ lệ hóa” mà tạo hiệu ứng tối đa, diễn đạt đúng những ý tưởng cần thiết. Căn cứ vào
chức năng từ loại, thống kê, chúng ta sẽ thấy sự xuất hiện các danh từ, tính từ, động từ và những
cấu tạo phức hợp của chúng dựa trên những từ loại gốc, đã nói lên nhiều ý nghĩa:
- Văn bản 1 có 23 từ và tần số danh từ, tính từ, động từ là 10/23, 5/23, 8/23.
- Văn bản 2 có 17 từ và tỉ lệ trên là 11/17, 3/17, 3/17.
- Văn bản 3 có 22 từ và tỉ lệ trên là 17/22, 0/22, 5/22.

(Trên Mã Pí Lèng - Cao Xuân Thái)
“Những con đường tối sẫm và bóng ướt (vì luôn được phun nước lúc hai mươi hai giờ)
như cái cống ngầm, nổi trên mặt đất? Không biết kết thúc ở đâu với những người đàn ông
như cá vừa mắc lưới những người đàn bà như con mèo giả bộ hiền lành”
(Mùa đông cuối cùng - Vi Thùy Linh)
Ở đây những từ vựng diễn tả xuất hiện liên tiếp, sự vật này lấn sang sự vật khác, hành
động này nối với hành động kia, kéo dài, đều đều, mệt mỏi. Và người đọc nhận ra cấu trúc câu
thơ giống cấu trúc câu văn. Câu thơ của Vi Thùy Linh kéo dài như một đoạn văn, các biện
pháp nghệ thuật tu từ giảm thiểu, ngữ điệu như bị triệt tiêu, nhịp điệu văn xuôi/ nhịp điệu nói
chi phối toàn bộ.
*
Từ một phía khác, góc nhìn rộng hơn, ngôn ngữ thơ đa số áp đảo là quen thuộc, ở quan
niệm và cách thể hiện. Điều đó chứng tỏ thị hiếu, trình độ thẩm mỹ của nhà thơ, của người đọc
của thời đại là bền vững và cách tân cũng cần phải kiên trì. Ngôn ngữ thơ chung sống với ngôn
ngữ văn xuôi, nhịp điệu văn xuôi lấn át, thực sự chỉ có tính chất tình thế, trong những trường
hợp, những tác phẩm có sự giao thoa thể loại: thơ - văn xuôi. Cũng cần lưu ý, không phải cách
tân bao giờ cũng tạo ra chuẩn mực, cũng đồng nghĩa với thành công. Và trong nghệ thuật cũng
không hẳn sáng tạo sau bao giờ cũng hơn sáng tạo trước. Bằng chứng là nhiều tìm tòi đổi mới
không tồn tại với thời gian, mới xuất hiện đã biệt tăm tích.
Gần với ngôn ngữ văn xuôi là ngôn ngữ thơ thô tháp, lấm lem, bụi đất. Khẩu ngữ, lời ăn
tiếng nói hàng ngày giúp cho thơ gần cuộc sống hơn trong cách ứng xử thân tình, bỗ bã, dí
dỏm, phóng túng và tạo nên một nét đậm trong phong cách thơ Nguyễn Duy:
Giọt rơi hơi bị trong veo
Mắt đi hơi vị vòng vèo lôi thôi
Chân mây hơi bị cuối trời
6
Em hơi bị đẹp, anh hơi bị nhàu
(Chạnh lòng 1)
Rủ nhau cơm bụi giá bèo
Yêu nhau theo mốt nhà nghèo vô tư

Chúng ta khó mà quên những bài thơ như những bài ca của tâm hồn. Verlaine, Apollinaire
phổ nhạc vào nhịp điệu nhờ sự trợ giúp của hình ảnh. Thơ Aragon, Éluard, Néruda và thơ
kháng chiến của chúng ta dùng những nhịp mạnh, những hình ảnh gây ấn tượng, gây hưng
phấn thúc đẩy người ta hành động. Đó là thơ chủ động tích cực. Một vài người chơi chữ, lắp
ghép, lai tạo chữ thì được và cần nhưng đua nhau tung hô câu, chữ thì sẽ làm nghèo thơ, thơ
mất đi cái đa diện, đa sắc vốn có của nó.
5 - 2008
______________
7
Ghi chú:
(1) Đinh Văn Đức: Các bài giảng về lịch sử tiếng Việt (thế kỷ XX). Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội,
2005, tr.146.
(2) Xem Phan Đình Diệu: Tư duy hệ thống và đổi mới tư duy. Sách Một góc nhìn của trí thức, tập II.
Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2002.
(3) Người đưa tin, tạp chí của UNESCO tháng 2-1994.
(4) Nxb. Đại học và GDCN, H, 1987, tr.47-48, 54-55, 62.
(5) Sách Một số vấn đề về lý luận và lịch sử văn học. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
(6) Lê Đạt: Bóng chữ. Nxb. Hội Nhà văn, H, 1994, tr.50.
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status