LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 17

Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
Lời mở đầu…………………………………………………………………...1
Chương I: Lí luận chung về chất lượng phân tích tài chính khách hàng
của ngân hàng thương mại
1.1 Phân tích tài chính khách hàng của NHTM………….……………….....2
1.1.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp……………………...2
1.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính khách hàng trong NHTM ………3
1.1.3 Thông tin và phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính khách hàng5
1.1.3.1 Thông tin sử dụng …………………………………………………..5
1.1.3.2 Phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính khách hàng ………9
1.1.4 Nội dung phân tích tài chính khách hàng ……………………………11
1.1.4.1 Phân tích các tỉ lệ tài chính ………………………………………...11
1.1.4.2 Phân tích báo cáo nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp 21
1.1.4.3 Dự báo về bảng cân đối kế toán và báo cáo nguồn vốn và sử dụng
vốn…22
1.2 Chất lượng phân tích tài chính khách hàng ………………………… 22
1.2.1 Quan điểm về chất lượng phân tích tài chính khách hàng…………….22
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng phân tích tài chính khách hàng…….23
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính khách hàng.27
1.2.3.1 Nhân tố chủ quan……………………………………………………27
1.2.3.2 Nhân tố khách quan…………………………………………………30
Chương II: Thực trạng chất lượng phân tích tài chính khách hàng doanh
nghiệp tại chi nhánh Hà Nội NHTMCP Á Châu
2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại Á Châu …………………………...32
2.1.1 Quá trình ra đời và phát triển …………………………………………32
2.1.2 Hoạt động chủ yếu và khách hàng của ngân hàng ……………………34
2.1.3 Cơ cấu tổ chức ………………………………………………………..36
2.1.4 Kết quả kinh doanh trong thời gian qua ………………………………39
2.2 Thực trạng chất lượng phân tích tài chính khách hàng tại ACB Hà Nội….44
2.2.1Qui trình cho các DN vay vốn và thẩm định tài chính khách hàng …...44

LỜI MỞ ĐẦU
Phân tích tài chính doanh nghiệp cung cấp thông tin về tình hình
tài chính của doanh nghiệp cho những nhà đầu tư, nhà quản lí và cả
người cho vay. Từ đó giúp họ ra quyết định đúng đắn và hiệu quả.
Đối với những khách hàng có nhu cầu vay vốn ngân hàng cũng
cần phải thẩm định tài chính khách hàng, do vậy phân tích tài chính
khách hàng là một trong những bước quan trọng để đi đến quyết định
cho vay hay không.
Đối với những ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng Á
Châu nói riêng, hoạt động tín dụng là một phần vô cùng quan trọng, ảnh
hưởng tới sự phát triển và tồn tại của ngân hàng. Chính vì vậy hoạt động
phân tích tài chính khách hàng của ngân hàng Á Châu được quan tâm
chú trọng. Khách hàng mục tiêu của ngân hàng là những doanh nghiệp
vừa và nhỏ, nên mảng phân tích tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa vô
cùng quan trọng.
Trong thời gian thực tập tại chi nhánh ACB Hà Nội, tôi nhận thấy
rằng hoạt động phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp của ngân
hàng tuy đã có những chất lượng tương đối tốt nhưng vẫn còn một số
hạn chế cần khắc phục. Vì lí do đó tôi đã lựa chọn nội dung chất lượng
phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp để nghiên cứu tìm hiểu.
Nội dung nghiên cứu đi từ lí thuyết tới thực tiễn hoạt động tại ngân
hàng, từ đó tôi đề ra một số giải pháp với ngân hàng Á Châu và có kiến
nghị với các cơ quan ban ngành có liên quan giúp nâng cao chất lượng
phân tích tài chính khách hàng của ngân hàng.
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
3
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG I : LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2 Phân tích tài chính khách hàng của ngân hàng thương mại

việc phân tích tài chính khách hàng. Qua kết quả của phân tích tài chính,
người cho vay sẽ nắm được tình hình sản xuất kinh doanh ở hiện tại
cũng như trong quá khứ của doanh nghiệp, phân tích tài chính sẽ trả lời
cho họ những câu hỏi như khách hàng có phương án sử dụng vốn hiệu
quả không? mục đích sử dụng vốn vay có hợp lí không? khách hàng có
thể trả nợ và lãi đúng hạn hay không? ngân hàng có quyền đối với tài
sản và thu nhập của khách hàng khi khoản vay có vấn đề và ngân hàng
có thể thu hồi vốn nhanh chóng với rủi ro và chi phí thấp được không?
…Do vậy phân tích tài chính khách hàng được xem là cơ sở quan trọng
để đưa ra các quyết định trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Do đó
phân tích tài chính trong thẩm định tín dụng của ngân hàng thương
mại là việc đánh giá một cách khách quan, khoa học, và có hệ thống
toàn bộ tình hình tài chính doanh nghiệp trên giác độ ngân hàng,
nhằm đảm bảo tính hiệu quả của khoản vay trước khi ra quyết định
cấp tín dụng cho doanh nghiệp.
1.2.2 Mục tiêu của phân tích tài chính khách hàng trong ngân hàng
thương mại
Những người ở những vị trí khác nhau có những mục tiêu khác
nhau khi tiến hành phân tích tài chính. Mối quan tâm của từng đối
tượng cũng như quyết định của từng đối tượng chỉ phù họp và được đáp
ứng khi tiến hàng phân tích tài chính. Mục đích chính của phân tích tài
chính là giúp các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá đúng tình hình
tài chính, khả năng sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp từ đó đưa ra
những quyết định phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm. Tuy nhiên
những báo cáo tài chính là những tài liệu mang tính chất lịch sử vì
chúng cho biết thông tin của một thời kì nhất định vì thế mục đích của
phân tích tài chính là giúp đối tượng quan tâm đưa ra quyết định và hành
động hợp lí trên cơ sở thông tin mang tính lịch sử của báo cáo tài chính.
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
5

Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
6
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy mối quan tâm hàng đầu của người phân tích tài chính là
đánh giá khả năng xảy ra rủi ro phá sản tác động tới doanh nghiệp mà
biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng
hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó,
các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán
về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh
nghiệp trong tương lai. Nói cách khác phân tích tài chính là cơ sở để dự
đoán tài chính. Tuy nhiên phân tích tài chính có thể đước ứng dụng theo
nhiều phương cách khác nhau nhưng trình tự phân tích và dự đoán đều
phải tuân theo những nghiệp vụ phân tích thích ứng với từng giai đoạn
dự đoán.
1.1.3 Thông tin và phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính
khách hàng
1.1.3.1 Thông tin sử dụng
Trong phân tích tài chính nhà phân tích phải thu thập, sử dụng
mọi nguồn thông tin: từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bên
ngoài doanh nghiệp, từ những thông tin số lượng đến thông tin giá trị.
Những thông tin này đều giúp nhà phân tích có thể đưa ra những nhận
xét kết luận chi tiết và thích đáng.
Trong những thông tin bên ngoài cần chú ý tới những thông tin
chung của ngành, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp như: cơ hội kinh
doanh, chính sách thuế, lãi suất, vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ
cấu ngành và các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần
của doanh nghiệp, các thông tin về pháp lí, kinh tế đối với doanh nghiệp
như tình hình quản lí, kế toán, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh
doanh… Ngoài ra nguồn cung cấp thông tin cũng là một yếu tố quyết
định tới độ chính xác và đáng tin cậy của thông tin sử dụng phân tích tài

là vốn chủ sở hữu và vốn vay. Các khoản mục bên phía tài sản được sắp
xếp theo thứ tự tính thanh khoản giảm dần còn bên nguồn vốn các khoản
mục được sắp xếp theo nghĩa vụ nợ giảm dần.
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
8
Luận văn tốt nghiệp
Bên tài sản bao gồm các khoản mục Tài sản lưu động, và tài sản
cố định. Trong tài sản lưu động lại gồm: tiền mặt, các loại chứng khoán
thanh khoản, các khỏan phải thu khách hàng hoặc phải thu nhà cung
cấp, nguyên vật liệu hàng, công cụ dụng cụ dự trữ, hàng hóa trong
kho… Tài sản cố định bao gồm máy móc, nhà xưởng, thiết bị, công
nghệ, các khoản đầu tư góp vốn dài hạn, thương hiệu, bản quyền, giấy
phép …
Bên nguồn vốn có nợ phả trả: các khoản nợ ngắn hạn như nợ nhà
cung cấp, phải trả khách hàng, lương công nhân viên chưa thanh toán,
nợ ngân hàng ngắn hạn, lãi ngân hàng sắp phải trả… nợ dài hạn gồm nợ
ngân hàng, trái phiếu, kí quĩ… vốn chủ sở hữu bao gồm vốn góp ban
đầu, lợi nhuận chưa chia, các quĩ khen thưởng, phúc lợi, vốn liên doanh
liên kết…
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh qui mô và kết cấu các loại tài
sản, bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả
năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp. Bên tài sản cũng như bên
nguồn vón của bảng cân đối kế toán thường đều có cột chỉ tiêu số dư
đầu kì cuối kì. Ngoài ra còn có một số chỉ tiêu ngoại bảng như: Tài sản
thuê ngoài, vật tư hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công , nhận bán hộ,
ngoại tệ các loại…
Thông tin trong bảng cân đối kế toán giúp nhà phân tích nhận biết
được loại hình doanh nghiệp, qui mô, mức độ tự chủ về tài chính. Bảng
cân đối kế toán là báo cáo tài chính quan trọng bậc nhất, thông qua đó
nhà phân tích có thể tính toán đánh giá được các chỉ tiêu như khả năng

chính, hoạt động bất thường.
Trên cơ sở dòng tiền xuất và nhập có thể dự báo cho nhu cầu
trong thời gian tới của doanh nghiệp, cũng từ đó có thể thực hiện cân đối
ngân quĩ với số dư ngân quĩ đầu kì để xác định số dư ngân quĩ cuối kì.
Từ đó lập mức dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm
bảo khả năng chi trả cho doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
10
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy để thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp các nhà
phân tích cần phải đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, thông qua đó
họ nhận biết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính có liên quan
trực tiếp tới mục đích mà họ hướng tới. Đối với hoạt động phân tích tài
chính khách hàng doanh nghiệp trong ngân hàng thương mại mục đích
chính của ngân hàng là tìm hiểu về tình hình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, khả năng chi trả, diễn biến của dòng tiền xuất quĩ nhập
quĩ, khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì thế phân tích tài
chính cần sử dụng thông tin đa dạng, từ nhiều nguồn, không chỉ là
những báo cáo tài chính, mà còn có cả những thông tin khác có liên
quan như tình hình quan hệ tín dụng của doanh nghiệp đối với tất cả các
tổ chức tín dụng, với bạn hàng, khách hàng của doanh nghiệp, ngoài ra
còn có những thông tin chung về hiện trạng và xu hướng phát triển của
ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm mà doanh nghiệp đang tham gia hoạt
động.
Vì yêu cầu của việc phân tích, nhân viên tín dụng không thể sử
dụng những thông tin đơn thuần từ các báo cáo tài chính. Để hiểu thật kĩ
hoạt động của khách hàng, có khi cần phải sử dụng số liệu chi tiết. Như
tìm hiểu những khoản phải thu, phải trả của chi tiết từng đối tác của
khách hàng, nhờ đó mà nhân viên tín dụng mới có thể tìm hiểu tập quán
bán hàng cũng như mua hàng của doanh nghiệp. Chính sách bán hàng

doanh nghiệp trong ngành.
Bên cạnh đó phương pháp phân tích tài chính Doupont cũng
thường được sử dụng. với phương pháp này các nhà phân tích tách một
tỉ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như tỉ suất thu
nhập trên tài sản( ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu( ROE)
thành tích của một chuỗi các tỉ số có mối quan hệ nhân quả với nhau.
Điều đó cho phép nhà phân tích thấy được sự ảnh hưởng của các tỉ số đó
với tỉ số tổng hợp. từ đó nhà phân tích sẽ nhận biết được nguyên nhân
của những hiện tượng, diễn biến trong hoạt động của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
12
Luận văn tốt nghiệp
1.1.4 Nội dung phân tích tài chính khách hàng
1.1.4.1 Phân tích các tỉ lệ tài chính
Thông tin từ các bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của
doanh nghiệp thường được bổ sung bằng việc phân tích các chỉ số tài
chính, cán bộ tín dụng sẽ lựa chọn những thông tin từ những báo cáo tài
chính mà khách hàng đã cung cấp để từ đó phân tích, tìm hiểu những
vấn đề có ảnh hưởng quan trọng tới tình hình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp như khả năng kiểm soát chi phí của doanh nghiệp, mức độ
hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp trong việc tận dụng các nguồn lực
để tạo ra doanh thu và các luồn tiền, khả năng tiêu thụ sản phẩm, khả
năng trang trải các chi phí tài chính, khả năng thanh toán nợ vay, tình
hình biến động về khả năng sinh lời và thu nhập theo thời gian, qui mô
nợ hay nợ so với vốn chủ của doanh nghiệp, và liệu trong tương lai
doanh nghiệp có phải đối mặt với những khoản phải trả bất thường làm
tăng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai hay không.
Các chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng để đo lường khả năng
kiểm soát chi phí của doanh nghiệp bao gồm:
Tiền công và tiền lương / Doanh thu thuần

việc tạo ra doanh thu, luồng tiền mặt và quá trình doanh thu được
chuyển thành tiền mặt được tiến hành như thế nào. Các tỉ lệ thường
được sử dụng là:
Vòng quay dự trữ
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Kì thu nợ trung bình
Vòng quay tiền
Các chỉ số hoạt động được dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài
sản của doanh nghiệp, vốn của doanh nghiệp được sử dụng để đầu tư
cho các loại tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động. Do
đó nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử
dụng tổng tài sản mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
14
Luận văn tốt nghiệp
phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu doanh thu được
sử dụng chủ yếu trong tính toán các chỉ số này để xem xét khả năng hoạt
động của doanh nghiệp.
Vòng quay tiền được xác định bằng cách chia doanh thu trong
năm cho tổng số tiền và các loại tài sản tương đương tiền bình quân
trong năm, nó cho biết vòng quay của tiền trong năm.
Vòng quay dự trữ là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó được xác định bằng tỉ
số giữa doanh thu trong năm và giá trị dự trữ bình quân. Dự trữ của
doanh nghiệp thông thường có: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản
phẩm dở dang, thành phẩm. Nhìn chung những doanh nghiệp có vòng
quay dự trữ càng cao thì càng tốt cho ngân hàng và chủ nợ vì tỉ lệ này
cho biết số lần trong năm doanh nghiệp đó chuyển hàng tồn kho thành
hàng hóa. Tỉ lệ này càng thấp có thể cho thấy khách hàng ít chấp nhận

= (Doanh thu thuần – giá vốn hàng bán)/Doanh thu thuần
Lợi nhuận biên = Thu nhập sau thuế / Doanh thu thuần
Lợi nhuận gộp biên tính toán cả điều kiện thị trường, nhu cầu thị
trường về sản phẩm của doanh nghiệp, mức độ cạnh tranh mà doanh
nghiệp phải đối mặt, thị phần hay sức mạnh của doanh nghiệp trên thị
trường. Lợi nhuận biên cho biết lợi nhuận từ mỗi đồng doanh thu sau
khi trừ tất cả các chi phí bao gồm cả thuế, nó phản ánh mức độ hiệu quả
của chính sách kiểm soát chi phí và mức độ cạnh tranh của chính sách
định giá của doanh nghiệp.
Một nguyên tắc quan trọng khi ngân hàng ra quyết định cho vay
đó là doanh nghiệp phải có cơ sở đảm bảo cho việc hoàn trả cả gốc và
lãi đúng hạn, đầy đủ. Để đánh giá sự bảo vệ đối với ngân hàng nhà phân
tích thường dùng các tỉ lệ như tỉ lệ hoàn trả lãi, tỉ lệ hoàn trả gốc và lãi,
tỉ lệ hoàn trả các khoản cố định.
Tỉ lệ hoàn trả lãi = Thu nhập trước lãi và thuế/ Lãi phải trả
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
16
Luận văn tốt nghiệp
Tỉ lệ hoàn trả lãi và gốc = Thu nhập trước lãi và thuế / {( Phần trả
lãi – Phần trả gốc/( 1 – Tỉ lệ thuế thu nhập )}
Tỉ lệ hoàn trả các khoản cố định
= Thu nhập trước lãi, thuế và tiền thuê/ (Phần trả lãi + Tiền thuê)
Trạng thái thanh toán của người vay biểu thị khả năng của họ
trong việc tăng tiền mặt một cách kịp thời khi cần với chi phí hợp lí, bao
gồm khả năng trả lãi tiền vay, các khoản nợ ngắn hạn đúng hạn. Các chỉ
số thường được sử dụng là: tỉ lệ thanh toán hiện hành, tỉ lệ thanh toán
nhanh, tỉ lệ dự trữ trên vốn lưu động ròng.
Tỉ số thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động/ Nợ ngắn hạn
Tỉ số thanh toán nhanh
= ( Tài sản lưu động – Dự trữ)/ Nợ ngắn hạn

vòng nhanh với nợ ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản
có thể nhanh chóng chuyển thành tiền bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn
hạn, các khoản phải thu. Tài sản dự trữ là những tài sản khó chuyển
thành tiền hơn trong tài sản lưu động và dễ bị lỗ nhất nếu đem bán. Do
vậy tỉ số khả năng thanh toán nhanh thể hiện khả năng hoàn trả các
khoản nợ không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ, hàng tồn kho. Tỉ
số dự trữ trên vốn lưu động ròng cho biết dự trữ chiếm bao nhiêu phần
trăm vốn lưu động ròng. Điều nay có liên quan tới cơ cấu vốn, cơ cấu tài
trợ cũng như cơ cấu tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Nếu như các chỉ số trên phản ánh hiệu quả từng hoạt động riêng
biệt trong doanh nghiệp thì tỉ số về khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp
hiệu quả hoạt động của toàn doanh nghiệp, từ hoạt động sản xuất kinh
doanh tới hiệu quả quản lí. Các tỉ số thường được sử dụng như: doanh
lợi tiêu thụ sản phẩm, tỉ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu, hoặc
trên tổng tài sản. Thu nhập mà nhà phân tích thường sử dụng đó là thu
nhập trước thuế hoặc thu nhập sau thuế, đó chính là lượng thu nhập của
chủ doanh nghiệp sau khi trừ đi các chi phí.
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Thu nhập sau thuế/ Doanh thu
Tỉ số thu nhập sau thuế trên tổng tài sản
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
18
Luận văn tốt nghiệp
ROA = Thu nhập sau thuế / Tổng tài sản
Tỉ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu
ROE = Thu nhập sau thuế / Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu doanh lợi tiêu thụ sản phẩm phản ánh số lợi nhuận sau
thuế thu được trên mỗi đồng doanh thu, còn chỉ tiêu ROE, ROA phản
ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu hoặc tổng vốn đầu tư, ROE
được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư,
tăng doanh lợi vốn chủ sở hữu là mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt

Một yếu tổ khác có ảnh hưởng tới tình hình thu nhập của doanh
nghiệp đó là các khỏan phải trả bất thường, nó không xuất hiện thường
xuyên trong bảng cân đối kế toán nhưng nó có thể chuyển thành các
quyền đòi hỏi thực sự về tài sản của doanh nghiệp, làm giảm các quĩ
hiện hành giành cho trả nợ. Một số khoản phải trả bất thường như: chi
phí cho những vụ kiện cáo, tranh chấp, những khoản lương hưu phải trả
cho người lao động trong tương lai, thuế chưa nộp, những chi phí liên
quan tới môi trường… thông thường những khỏan trả bất thường này
không nằm trong chi phí dự kiến của doanh nghiệp nhưng vì một lí do
nào đó như sự thay đổi của những qui định về môi trường, việc tăng
thuế của chính phủ hoặc so tranh chấp thương mại. bản quyền... Việc dự
báo đánh giá ảnh hưởng của những khoản chi này tới thu nhập doanh
nghiệp sẽ cung cấp thêm cơ sở cho hoạt động phân tích tài chính.
Những tỉ số tài chính được sử dụng trên đây sẽ cho thấy một bức
tranh khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp, ngoài những tỉ
số trên các nhà phân tích còn đặc biệt quan tâm tới một số những chỉ
tiêu khác có liên quan tới chủ sở hữu và giá trị thị trường như:
Tỉ lệ hoàn vốn cổ phần = Thu nhập sau thuế/ Vốn cổ phần
Thu nhập cổ phiếu = Thu nhập sau thuế/ Số lượng cổ phiếu
thường
Tỉ lệ trả cổ tức = Lãi cổ phiếu/ Thu nhập cổ phiếu
Tỉ lệ giá/ Lợi nhuận = Giá cổ phiếu/ Thu nhập cổ phiếu
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
20
Luận văn tốt nghiệp
Khi sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont nhằm đánh
giá tác động tương hỗ giữa các tỉ số tài chính, nhà phân tích có thể thực
hiện việc tách ROE như sau:
ROE = TNST/VCSH = TNST/ TS x TS/ VCSH = ROA x EM
( Trong đó EM là số nhân vốn)

thể.
Ngoài ra các nhà phân tích tài chính còn sử dụng những chỉ tiêu
tài chính trung gian, kết hợp những đánh giá về trạng thái tĩnh với
những đánh giá về trạng thái động để đưa ra bức tranh tòan cảnh về tình
hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu như trạng thái tĩnh thể hiện qua
bảng cân đối kế toán thì trạng thái động được phản ánh qua bảng kê
nguồn vốn và sử dụng vốn (bảng tài trợ) qua các kết quả kinh doanh.
Thông qua các báo cáo tài chính này, các nhà phân tích có thể đánh giá
sự thay đổi về vốn lưu động ròng, về nhu cầu vốn lưu động, từ đó có thể
đánh giá những thay đổi về ngân quĩ của doanh nghiệp. Như vậy giữa
những báo cáo tài chính có mối liên hệ rất chặt chẽ. Những thay đổi trên
bảng cân đối kế toán được lập đầu kì và cuối kì cùng với khả năng tự tài
trợ đước tính từ báo cáo kết quả kinh doanh, được thể hiện trên bảng tài
trợ và liên quan mật thiết tới ngân quĩ của doanh nghiệp.
Khi phân tích trạng thái động, trong một số trường hợp nhất định
nhà phân tích còn chú trọng tới các chỉ tiêu trung gian nhằm đánh giá
chi tiết hơn tình hình tài chính và dự báo những điểm mạnh điểm yếu
của doanh nghiệp. Những chỉ tiêu này là cơ sở xác lập nhiều hệ số rất có
ý nghĩa về hoạt động, cơ cấu vốn,… của doanh nghiệp.
Lãi gộp = Doanh thu – Giá vốn hàng bán
Thu nhập trước khấu hao và lãi
= Lãi gộp – Chi phí quản lí, bán hàng
Thu nhập trước thuế và lãi
= Thu nhập trước khấu hao và lãi – Khấu hao
Thu nhập trước thuế = Thu nhập trước thuế và lãi – Lãi vay
Thu nhập sau thuế = Thu nhập trước thuế - thuế thu nhập DN
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
22
Luận văn tốt nghiệp
Trên cơ sở đó nhà phân tích có thể xác định mức tăng tuyệt đối và

Luận văn tốt nghiệp
1.1.4.3 Dự báo về bảng cân đối kế toán và báo cáo nguồn vốn và sử
dụng vốn
Việc xem xét các số liệu tài chính trong quá khứ về tình hình
nguồn vốn và sử dụng vốn là quan trọng nhưng chúng ta cũng cần quan
tâm tới việc dự báo tình hình nguồn vốn, sử dụng vốn của và điều kiện
tài chính của người xin vay trong tương lai. Ngân hàng thường yêu cầu
khách hàng chuẩn bị các số liệu dự tính và sau đó cán bộ phân tích tài
chính trong ngân hàng sẽ chuẩn bị tài liệu dự tính của riêng ngân hàng,
và họ sẽ sử dụng hai nguồn thông tin này để so sánh. Thông thường
những dự báo của chủ doanh nghiệp thường lạc quan và đánh giá chủ
quan hơn so với ngân hàng, còn nhìn từ phía ngân hàng, cán bộ tín dụng
cần xác định một cách chính xác bằng cách nào khách hàng sẽ có được
khoản vốn dự định vay thêm và ước tính hậu quả xấu nhất có thể xảy
đến với ngân hàng.
Thông thường cán bộ phân tích tín dụng sẽ lập nên bảng cân đối
kế toán dự định và dự báo về tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
Việc dự tính chi phí doanh thu lợi nhuận giúp ngân hàng xác định
được mức cấp tín dụng tối ưu cho khách hàng. Hạn chế tình trạng tài trợ
vốn dư thừa cho doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả cho vay, ảnh hưởng
tới khả năng trả thu nợ của ngân hàng. Đồng thời nó cũng giúp ngân
hàng tư vấn cho khách hàng khi vay vốn sử dụng cho mục đích gì thì
nên dùng loại sản phẩm tương ứng, đảm bảo chi phí tối ưu và cân đối
nguồn vốn cho doanh nghiệp.
1.2 Chất lượng phân tích tài chính khách hàng của NHTM
1.2.1 Quan điểm về chất lượng phân tích tài chính khách hàng
“Chất lượng” là một khái niệm trừu tượng, nó chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố chủ quan và khách quan của người đánh giá chất lượng.
Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học (Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa

gian phân tích tín dụng, trong đó có thời gian phân tích tài chính, tuy
nhiên tùy vào tình hình cụ thể của từng đối tượng khách hàng mà thời
Nguyễn Thị Thảo – TCDN 45C ĐH Kinh tế Quốc dân
25

Trích đoạn Hoạt động chủ yếu và khách hàng của ngân hàng Cơ cấu tổ chức Kết quả kinh doanh trong thời gian qua Qui trình cấp tín dụng cho doanh nghiệp Nội dung tờ trình thẩm định khách hàng xin vay vốn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status