TIỂU LUẬN KINH TẾ QUỐC TẾ " sự ra đời của liên minh châu âu và mối quan hệ với việt nam " - Pdf 17

TIỂU LUẬN KINH TẾ QUỐC TẾ
" SỰ RA ĐỜI CỦA LIÊN MINH
CHÂU ÂU VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI
VIỆT NAM "
MỤC LỤC
I. Mở đầu
II. Nội dung
1. Sự ra đời của liên minh châu Âu và các nước tiến tới nhất thể hóa toàn diện
2. Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của liên minh châu Âu
3. Tình hình phát triển của liên minh châu Âu
4. Quan hệ của Việt Nam với EU
5. Những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ Việt Nam với liên minh châu Âu
III. Kết luận
I. MỞ ĐẦU
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều tổ chức hay những liên minh khác nhau
cụ thể như: các liên minh về kinh tế- chính trị- văn hóa,…Những liên minh hay tổ
chức này được thành lập nên bởi nhiều nước cùng tham gia sáng lập và có nhiều
quy định khác nhau tùy thuộc vào những mục đích như thế nào mà các quốc gia
cùng liên kết với nhau lại thành lập nên. Những tổ chức hay liên minh này thành lập
ra để nhằm bảo vệ quyền lợi của những nước thành viên của nó, và tạo ra một bức
tường vững chắc cho sự phát triển về mặt kinh tế- xã hôi của các quốc gia. Và có
những tổ chức và liên minh được cả thế giới biết đến như: ASEAN, OPEC, WTO,
EU, Trong những tổ chức nói trên thì chúng ta đi tìm hiểu về liên minh châu Âu
(EU), tìm hiểu lịch sử hình thành và quá trình phát triển của nó như thế nào.
Trong quá trình phát triển thì liên minh châu Âu có những quan hệ hợp tác với các
nước khác nhau trên thế giới, trong đó có quan hệ hợp tác thương mại với Việt
Nam. Chúng ta tìm hiểu mới quan hệ giữa hai bên như thế nào và cả hai bên làm gì
để cho quan hệ ngày càng vững chắc hơn.
II. NỘI DUNG
1. Sự ra đời của liên minh châu Âu và các nước tiến tới nhất thể hóa
toàn diện

tay Pháp và Đức, hai quốc gia luôn có những căng thẳng chình trị- mối hiểm họa
tiềm tàng của hòa bình châu Âu. Chính trị trong bối cảnh đó, nhu cầu hợp tác
và liên kết chặt chẽ, toàn diện của các nước Tây Âu trở nên cấp thiết hơn bao
giờ hết. Chỉ bằng con đường hợp tác hòa bình, các nước Tây Âu mới giải quyết
hết những khó khăn chồng chất sau chiến tranh, phát triển nội lực và tăng thế
cạnh tranh bên ngoài. Chưa bao giờ các quốc gia Tây Âu lại có ý thức rõ ràng và
Cáp bách một vấn đề cộng đồng chung đến như vậy. Và một yêu cầu tất yếu, hết
sức cấp thiết đặt ra là phải thành lập một tổ chức quyền lực siêu quốc gia có sứ
mệnh điêu hành các hoạt động hợp tác giữa các quốc gia sao cho hiệu quả. Đòi
hỏi khách quan đó đã trở thành nguồn gốc của sự liên kết các quốc gia Tây Âu-
mở ra trang mới trong lịch sử phát triển Tây Âu nói riêng cũng như cả châu Âu
nói chung.
Mốc lịch sử đánh dấu sự hình thành EU là bản tuyên bố Schuman của bộ trưởng
ngoại giao Pháp Robert Schuman vào ngày 09/05/1990 với đè nghị đặt toàn bộ
nền sản xuất gang thép của công hòa liên bang Đứcvà Pháp dưới một cơ quan
quyền lực chung, trong một tổ chức mở cửa để các nước châu Âu khác cùng
tham gia. Sau đó, hiệp ước thành lập cộng đồng gang thép châu Âu (ECSC), một
tổ chức tiền than của châu Âu ngày nay được ký kết. Từ đó đến nay, sự liên kết
của các quốc gia châu Âu đã không ngừng phát triển cả về chiêu rộng cũng như
chiều sâu với đỉnh cao là liêm minh châu Âu như chúng ta thấy ngày nay và cả
trong tương lai sẽ đạt tới một cấp độ liên kết cao hơn. Nhìn lại hơn 50 năm hình
thành và phát triển của liên minh châu Âu, có thể thây quá trình này gắn với các
hiệp ước chủ yếu sau đây ( từ năm 1952 đến nay).
- Hiệp ước Paris thành lập cộng đồng than- thép châu Âu (ECSC) được ký
ngày 18/04/1951 với sự tham gia của 6 nước: Pháp, Đức. Italia, Bỉ, Hà Lan và
Luxembourg, nhằm thống nhất việc sản xuất và phân phối hai sản phẩm
chính là thép và than trên toàn lãnh thổ châu Âu. Hiệp ước này đã chứa ý đồ
của các nhà sáng lập ECSC là gây dựng nền tảng cho việc nhất thể hóa kinh
tế châu Âu
- Hiệp ước Rome thành lập cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu

việc thống nhất chính trị và hài hòa về xã hội trong liên minh. Với mục tiêu
như vậy, EU đã thực sự bước vào một thời kỳ mới, tồn tại như một thực thể
thống nhất, hay nói đúng hơn là đóng vai trò như một đại quốc gia ở châu
Âu, ngôi nhà chung của châu Âu.
- Hiệp ước Amsterdam được ký kết vào ngày 02/10/1997 bởi các nguyên thủ
quốc gia của 15 nước thành viên ( năm 1995 EU đã kết nạp them 3 thành
viên nữa là: Thụy Điển, Phần Lan, Áo). Hiệp ước này được hình thành trên
cơ sở sữa đổi hiệp ước Maastricht nhằm đưa những cố gắng của EU trong
việc xây dựng một liên minh kinh tế- tiền tệ (EMU) trở thành hiện thực. hiệp
ước này đã tạo cơ sỏ pháp lý để đồng EU đồng tiền chung của các nước châu
Âu chính thức ra đời với tư cách đày đủ của một đồng tiền thưc thụ và đi vào
hoạt động từ ngày 01/01/1999 trong phạm vi 11 nước (EU-11): Đức. Pháp,
Ailen, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Italia, Luxembourg, Phần Lan. Theo kế
hoạch đã được định trước, đúng ngày 01/01/2002 đồng tiền EU bằng giấy và
bằng kim loại chính thức được lưu hành song song với các đồng tiền bản tệ
và bắt đàu giai đoạn đổi tiền. Và kể từ ngày 01/07/2002 , các đồng bản tệ của
11 nước thuộc EU- 11 đã chính thức kết thúc lịch sử tồn tại của mình vĩnh
viễn rút khỏi lưu thông, chính thức nhường chỗ hoàn toàn cho đồng EU đang
là đồng tiền chung, duy nhất lưu hành trong tất cả các quan hệ kinh tế- xã
hội những nước thành viên, một ngôi nhà chung châu Âu đã được hình
thành.
- Hiệp ước Nice (07/11- 12/2000) được tập trung vào các vấn đề cái cách thể
chế để đón nhận cấc thành viên mới gồm các vấn đề:
+ Cải cách thể chế: đổi mới thành phần ủy ban châu Âu (ủy ban châu Âu sẽ có
không quá 27 ủy viên, trong đó mỗi nước sẽ có một ủy viên, được chỉ định theo
nguyên tắc luân phiên, sẽ thực hiện từ năm 2005. Chủ tịch ủy ban sẽ được trao
thêm một số quyền mới, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại thương và trong lĩnh vực
ECsex được biểu quyết theo nguyên tắc đa số đủ thẩm quyền; phân định số
phiếu bầu trong Hôi đồng Bộ trưởng, cụ thể: Pháp, Đức, Anh, Italia có cùng số
phiếu bầu là 29, Tây Ban Nha có số phiếu bầu là 27 phiếu, Hà Lan có số phiếu

chất, dệt may, điện tử, công nghiệp vũ trụ và vũ khí.
+ Về thương mại: EU là trung tâm thương mại lớn thứ hai sau Hoa Kỳ, với
doanh số 1.527,5 tỷ USD năm 1997, trong đó 50% là buôn bán giữa các thành
viên, năm 2002 giá trị xuất khẩu hành hóa của EU đạt 2.441,2 tỷ USD, trong đó
xuất khẩu hàng hóa nội khối đạt 1.502,2 tỷ USD, xuất khẩu hàng hóa ngoại khối
đạt 939 tỷ USD. Về nhập khẩu hàng hóa: năm 2002, EU đạt 2.437 tỷ USD, trong
đó nhập khẩu khối nội đạt 1.506 tỷ USD và ngoại khối đạt 931 tỷ USD. Như vậy,
thương mại của EU phần lớn phát triển mạnh trong nội bộ khối nhờ khối tác
động của chính sách nhất thể hóa kinh tế khu vực. Ngày 01/05/2004, EU có 25
nước thành viên sau khi kết nạp them 10 quốc gia mới, với việc mở rộng lần thứ
5 này. EU trở thành một khối kinh tế thị trường lớn nhất thế giới, với kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa dịch vụ chiếm khoảng 21,9% kim ngạch nhập khẩu của tập
đoàn thế giới.
2. Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của liên minh châu Âu
Nhằm thực hiện mục tiêu chung đã được đề ra trong các hiệp ước, EU đã xây
dựng cho mình một hệ thống thể chế siêu quốc gia để điều hành, giám sát quá
trình liên kết của các quốc gia thành viên. Hệ thống thể chế này bao gồm 5 cơ
quan chính sau:
- Hội đồng châu Âu: bao gồm những người đứng đầu nhà nước, chính phủ các
nước thành viên và chủ tịch ủy ban châu Âu. Hội đồng châu Âu có nhiệm vụ
xác định những định hướng lớn của EU và đóng vai trò như mọi diễn đàn
chính trị.
- ỦY ban châu Âu: là cơ quan hành pháp của EU, gồm 20 ủy viên được ủy
nhiệm dựa trên cơ sở sự thỏa thuận của các nước thành viên và phải được
quốc hội châu Âu tán thành. Ủy ban châu Âu đè xuất lên hội đồng bộ trưởng
các biện pháp phát triển chính sách chung và theo dõi việc tôn trong các hiệp
ước.
- Nghị viên châu Âu: là cơ quan lập pháp của EU, bao gồm 626 nghị sĩ của các
nước thành viên và được chia ra thành 18 ủy ban. Nghị viên châu Âu có chức
năng thông qua ngân sách, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách

Nhưng chỉ riêng với sự suy giảm này cũng chưa thể đưa ra một kết luận tiêu cực về
nền kinh tế EU, bởi ngay cả khi tốc độ tăng trưởng kinh tế bị chậm lại, lạm phát của
EU trong năm 1999 vẫn ở mức 1,1%- mức thấp chưa từng có trong lịch sử, tỷ lệ thất
nghiệp giảm lần đầu tiên trong thập kỷ 90 từ hơn 10% xuống còn 9,4% trong năm
1999 và thâm hụt ngân sách của các nước thành viên cũng ở mức thấp: 0,5%- 0,7%
GDP. Tình hình kinh tế EU trong năm 1999 đã được cải thiện và phát triển tích cực,
năm 200, GDP của Eu cao hơn năm 199 gần 1,1%, tăng truoengr tốc độ 3% trong
các năm 2001- 2002 do tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp đã tạo nguy cơ
chưa từng có chia rẽ nội bộ EU và ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế châu Âu.
Khoảng cách giữa các quốc gia trong khối ngày càng thu hẹp. Trong số các quốc gia
thuộc EU thì các nước nhỏ Bắc Âu tỏ ra tiến mạnh mẽ nhất, nước Đức khổng lồ
thường bị tụt hậu mấy năm gần đây cũng đã bắt kịp với tốc độ tăng trưởng kinh tế
chung của cả khối. Chỉ có Italia, hơi yếu về khả năng cạnh tranh cũng đã vươn lên
tốc độ tăng trưởng 2,6% trong năm 200, tuy nhiên vẫn bị coi là mức thấp nhất khối.
Theeo ủy ban châu Âu, kinh tế EU vẫn đang phát triển khả quan. Các chuyên gia
kinh tế của IMF và OECD cũng rất lạc quan vào sự tiếp tục phát triển của EU bởi
ngân hàng trung ương châu Âu tiếp túc kiểm soát chặt chẽ mức cấp tiền và duy trì
mức lãi suất khá ổn định ở mức 4,5%. Theo dự báo của OECD, trong năm 2003, tốc
độ tăng trưởng của kinh tế EU vẫn sẽ ổn định ở mức tren dưới 2,6%, tỷ lệ thất
nghiệp sẽ giảm đáng kể từ 8,8% năm 2003. Các nhà kinh tế cho rằng Eu tăng
trưởng chậm nhưng chắc và vẫn tin tưởng khẳng định xu hướng đi lên của kinh tế
EU trong năm 2010 và tầm nhìn tới năm 2020.
4. Quan hệ của Việt Nam với EU
Quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều theo những hướng hay những con
đường khác nhau nhưng nhìn chung thì trong quá trình phát triển đó cần phải có sự
hợp tác với các quốc gia hay những tổ chức khác nhau nhằm mực đích tìm kiếm thị
trường để tiêu thụ sản phẩm đó là những vấn đề cấp bách đối với các nước phất
triển, còn đối với các nước nghèo hay là các nước đang phát triển thì hợp tác là để
tìm vốn đầu tư hay là học hỏi kinh nghiệm phát triển, quản lý của họ.
Đối với Việt Nam quá trình phát triển kinh tế cũng giống như các nước khác là cần

trên cơ sở cùng có lợi và giành cho nhau quy chế tối huệ quốc; Trợ giúp phát triển
kinh tế bền vững ở Việt Nam và đặc biệt chú trong đến việc cải thiện đời sống choc
ho các tầng lớp nhân dân nghèo; Trợ giúp các nỗ lực của Việt Nam trong việc cơ
cấu lại nền kinh tế theo cơ chế thị trường; Trợ giúp nhằm bảo vệ môi trường và sử
dụng lâu dài nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hướng phát triển bền vững.
Quan hệ thương mại: quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước thành viên
của liên minh EU phát triển mạnh mẽ từ đầu những thập kỷ 90 sau khi Việt Nam ký
một loạt hiệp định song phương với EU như hiệp định khung về hợp tác kinh tế
khao hoc và kỹ thuật (năm 1990), hiệp định dệt may (1994, 1996, 1997, 2000, 2003),
hiệp định giày dép (2000). Kim ngạch buôn bán hai chiều tăng tứ 300 triệu USD
năm 1990 lên 2 tỷ USD năm 1995, trên 4,1 tỷ USD năm 2000, xấp xỉ 5 tỷ USD năm
2002 và hơn 6,3 tỷ USD năm 2003, năm 2006 kim ngạch hai chiều đạt gần 10 tỷ USD
và luôn tăng trưởng ở mức cao 15- 20% năm. Các nhà đàu tư EU có mặt hầu hết
các ngành kinh tế quan trong của Việt Nam với 562 dự án, tổng vốn đăng ký khoảng
7 tỷ USD. Các dự án đầu tư của châu Âu có hàm lượng và tỷ lệ chuyển giao công
nghệ cao, phương pháp quản lý tiên tiến, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam. EU luôn là những đối tác viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, mức
cam kết năm 2007 là 940 triệu USD.
Về xuất khẩu: năm 2003, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU đạt
hơn 3,8 tỷ USD, tăng 20 lần so với năm 1990. Có 5 mặt hàng chủ lực là giày dép 1,6
tỷ, dệt may 537 triệu USD, cà phê và chè gần 268 triệu USD, thủ công mỹ nghệ 172
triệu USD và hải sản hơn 153 triệu USD
Về nhập khẩu: từ năm 1999, Việt Nam nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị công
nghệ trực tiếp từ các nước thành viên EU…Năm 2003 tổng kim ngạch nhập khẩu
của Việt Nam từ EU đạt 2,5 tỷ USD, tăng 15 lần so với năm 1990. Các mặt hàng
nhập khẩu chính đạt hơn 1,538 tỷ USD. Trong đó máy móc thiết bị gần 1,3 tỷ USD,
tân dược hơn 110 triêu USD, nguyên phụ liệu dệt may da 76,3 triệu USD, sắt thép
71,4 triệu USD và phân bón hơn 9,3 triệu USD.
Ngoài quan hệ trực tiếp nói trên, các doanh nghiệp EU còn tham gia xuất nhập
khẩu với Việt Nam qua nước thứ 3 như: Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài

Nam.
Những khó khăn: nhìn chung, quan hệ của Việt Nam với EU đã đạt được nhiều
thành tựu cũng như các kết quả khả quan nhưng bên cạnh đó còn có những khó
khăn đối với việc quan hệ nhất là về mặt kinh tế. Đó là, nạn quan liêu tham nhũng
là trở ngại lớn nhất với các nhà đầu tư EU, việc trì trệ trong tiến hành cấp phép đầu
tư, khiến nhà đầu tư mất nhiều thời gian hơn và gây tâm lý chán nản. Thủ tục đầu
tư càng minh bạch, càng nhanh chóng sẽ khiến nhà đầu tư hấp dẫn hơn khi rót vốn
đầu tư vào Việt Nam, vấn đề quan trọng nữa là Việt Nam cần mở cửa hơn nữa
trong lĩnh vực ngân hàng cũng như đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động của
chính phủ, để đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.
Các nguồn lực phát triển kinh tế nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng của Việt
Nam còn bị hạn chế hoặc nằm trong tình trạng khó khai thác, sức cạnh tranh của
hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới còn thấp, trình độ công nghệ, trình độ
quản lý còn hạn chế, là nước đi sau nên gặp nhiều khó khăn vì phải cạnh tranh gay
gắt và phải đối phó với hàng rào bảo hộ mậu dịch tinh vi thông qua các tiêu chuẩn
kỹ thuật.
III. KẾT LUẬN
Qua chặng đường hơn 50 năm phát triển, từ khi thành lập đến nay liên minh châu
Âu (EU) đã có những bước phát triển hết sức mạnh mẽ bó qua những khó khăn hay
những tình hình kinh tế trên thế giới đầy biến động.
Từ khi mới thành lập bằng hiệp ước Paris thành lập cộng đồng Than- thép châu Âu
(ECSC) lúc đó với 6 nước tham gia để nhằm thống nhất việc sản xuất và phân phối
sản phẩm chính là thép và than trên toàn lãnh thổ châu Âu, hiệp ước này đã chứa
đựng ý đồ của các nhà sáng lập ECSC là dựng nền tảng cho việc nhất thể hóa kinh
tế châu Âu và bây giờ là liên minh châu Âu (EU). Trong quá trình thành lập đó cho
đến nay EU có tới 27 thành viên đã có những bước tiến mạnh mẽ biến Eu trở thành
một trung tâm kinh tế lớn hàng đầu thế giới, EU đã có được một nền hòa bình thịnh
vượng. Mỗi nước thành viên của EU đều đóng góp vào sự thống nhất châu Âu và ổn
định của nền đân chủ ở đây. Với 27 nước thành viên, EU ngày nay đã trở thành
động cơ hòa bình thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status