Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:
Quy hoạch sử dụng đất xã Tam Hiệp
Thanh Trì - Hà Nội.
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Qua hơn mười năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có một bộ mặt thay
đổi rõ nét. Để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều vấn đề bức thiết
cần phải đặt ra, trong đó có vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Quy hoạch sử dụng đất đai nói chung và quy hoạch sử dụng đất nông thôn nói
riêng là quá trình bố trí, sắp xếp các loại đất đai cho các ngành, các lĩnh vực trên địa
bàn nông thôn một cách hợp lý nhất. Nó là một khâu trong quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế xã hội, là một khâu không thể thiếu được trước khi đưa ra các chương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta.
Quy hoạch sử dụng đất nông thôn nó giải quyết thoả đáng mâu thuẫn giữa các
loại đất, xác định cơ cấu hợp lý sử dụng đất nông thôn. Mặt khác có thể kết hợp hài hoà
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, giúp cho quá trình sử dụng đất nông thôn đầy đủ,
tiết kiệm và hiệu quả cao hơn.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông thôn có ý nghĩa hết sức quan trọng góp
1. Vai trò và ý nghĩa của sử dụng đất đai
Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau:
"đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, boa gồm tất cả các cấu thành
của môi trường sinh thái ngay trên vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, bề mặt,
thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước ( hồ, sông, suối, đầm lầy, ). Các lớp trầm
tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực
vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người
trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát
nước, đường xá, nhà cửa. )".
Như vậy, "đất đai" là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng
đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động
vật, diện tích nước, tài nguyên nước ngầm và khóang sản trong lòng đất ), theo
chiều nằm ngang trên mặt đất ( là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, đại hình, thuỷ
văn,thảm thực vật cùng các thành phần khác ) giữ vai trò quan trọng và có ý
nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài
người.
Đất đai là tài sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với
quátrìnhlịch sử phát triển kinh tế-xã hội, đất đai là điều kiện lao động. Đất đai
đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nếu
không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngànhsản xuất nà, cũng như
không thể có sự tồn tại của loài người. Đất đai là một trong những tài nguyên vô
cùng quý giá của con người, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người
trên trái đất.
Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội.
Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc các công trình công
nghiệp, giao thông, thuỷ lợi vá các công trình thuỷ lợi khác. Đất đai cung
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
thành tựu kỹ thuật vật chất-văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng
cơ bản- sử dụng đất.
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế xã hội, khi mức sống của con
người còn thấp, công năng chủ yếu của đất đai là tập trung vào sản xuất vật
chất,đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp. Thời kì cuộc sống xã hội phát triển ở
mức cao, công năng của đất đâi từng bước được mở rộng, sử dụng đất đai cũng
phức tập hơn là căn cứ của khu vực 1, vừa là không gian và địa bàn của khu vực
2.Điều này có nghĩa đất đai đã cung cấp cho con người tư liệu vật chất để sinh
tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cần thiết về hưởng thụ và đấp ứng
nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại. Mục đích sử dụng đất nêu trên được biểu
lộ càng rõ nét trong các khu vực kinh tế phát triển.
kinh tế xã hội phát triển mạnh,cùng với sự tăng dân số nhanh đã làm cho
mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng những sai lầm liên tục của
con người trong quá trình sử dụng đất đã dẫn đến huỷ hoại mội trường đất, một
số công năng nào đó của đất đai bị yếu đi, vấn đề sử dụng đất đai càng trở nên
quan trọng và mang tính toàn cầu.
2. Khái nịêm và đặc điểm của qui hoạch sử dụng đất đai
2.1. Khái niện về qui hoạch và sử dụng đất đai
" Quy hoạch" ta có thể hiểu chính là việc xác địng một trật tự nhất định
bằng nhũng hoạt động như: phân bố, xắp xếp, bố trí, tổ chức.
" Đất đai " là một phần lãnh thổ nhất định( vùng đất, khoanh đất, vạc
đất,mảnh đất, miếng đất. ) có vị trí, hình thể, diện tích với nhữnh tính chất tự
nhiên hoặc mới được tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa
chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý
hoá tính ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sự dụng đất vào các mục
đích khác. Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm qui hoạch đây kà quá trình
-xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm
định hướng cho các cấp,các ngành trên địa bànlậpquy hoạch và kế hoạch sử dụng
đất đai chi tiết của mình; Xác lập ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý
nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển
sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hoá- xã
hội.
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của nhà
nước nhầm tổ chức lại việc sử dụng đất đai,hạn chế sự chồng chéogây lạng phí
đất đai,tránh tình trạng chuyển mục đíchtuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ
đất lâm nghiệp, lâm nghiệp ( đặc biệt là đất trồng lúa và đất lâm nghiệp có
rừng ),ngăn ngừa được các hiện tượng tiêu cực, chanh chấp, lấn chiếm huỷ hoại
đất,phá vỡ môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất
hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và rất nhiều các hiện tượng
gây ra các hiệu quả khó lường về tình hìnhbất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở
tùng địa phương,đặc biệt là trong những năm gần đây khi nhà nước hướng nền
kinh tế theo hướng thị trường. Một cơ chế vô cùng phức tạp.
Hơn nữa quy hoạch sử dụng đất đai còn tạo điều kiện để sử dụngđất
đai hợp lý hơn. Trên cơ sở phân hạng đất đai, bố trí sắp xếp các loại đất đai quy
hoạch sử dụng đất đai tạo ra cái khung bắt các đối tượng quản lý và sử dụng đất
đai theo khung đó. Điều đó cho phép việc sử dụng đất đai sẽ hợp lý, tiết kiệm và
hiệu quả hơn. Bởi vì, khi các đối tượng sử dụng đất đai hiểu rõ được phạm vi
ranh giới và chủ quyền về các loại đất thì họ yên tâm đầu tư khai thác phần đất
đai của mình, do vậy hiệu quả sử dụng sẽ cao hơn.
Quy hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa rất quan trọng cho các ngành, các
lĩnh vực hoạt động trong xã hội. Nó định hướng sử dụng đất đai cho các ngành,
chỉ rõ các địa điểm để phát triển các ngành, giúp cho các ngành yên tâm trong
tổ chức sử dụng. Điều đó góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông
thôn, tạo điều kiện cho người dân làm chủ mảnh đất, tự tin trong sản xuất và đầu
tư, giúp cho việc bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. Đặc biệt, trong
nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu
thuẫn nội tại của tùng lợi ích kinh tế xã hội và môi trường nảy sinh trong quá
trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau.
b. Tính tổng hợp
Đất đai có vai trò quan trọng đối với đời ssống của con người và các hoạt
động xã hội. Cho nên quy hoạch sử dụng đấtđai mang tính tổng hợp rất cao, đề
cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế, xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa
học xã hội dân số và đất đai, sản suất công nông nghiệp, môi trường sinh thái.
Quy hoạch sử dụng đất đai hường động chậm đến việc sử dụng đất của sáu loại
đất chính: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
thị,đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng, cũng như ảnh hưởng đến toàn nhu cầu
sử dụng đất đai của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Quy hoạch sử dụng đất đai lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử
dụng dất, nó phân bố,bố trí và điều chỉnh các nhu cầu đất đai; điều hoà các mâu
thuẫn về đất đai các ngành, lĩnh vực xác định và điều phối hương thức, phương
hướng phan bổ sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế -xã họi, bảo đảm cho
nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững phát triển bền vững, đạt tốc độ cao
và ổn định.
c. Tính dài hạn
Tính dài hạn của quy hoạch sử dụng đất đâi được thể hiện rất rõ trong
phương hướng, kế hoạch sử dụng đất. Thường thời gian của qui hoạch sử dụng
đất đai trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Căn cứ vào các dự báo xu thế
biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng như: sự thay đổi về
e. Tính chính sách
Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính
sách xã hội. Mỗi đất nước có các thể chế chính trịnh khác nhau, các phương
hướng hoạt động kinh tế xã hộikhácnhau, nên chính sách qui hoạch sử dụng đất
đai cũng khác. Khi xây dựng phương án phải quán triện các chính sách và quy
định có liên quan đến đất đai của đảng và nhà nước, đảm bảo cụ thể mặt bằng đất
đai của các mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kinh tế chính
trị xã hội; tuân thủ các chỉ tiêu, các qui định khống chế về dân số, đất đai và môi
trường sinh thái. Trong một số trường hợp ta có thể hiểu qui hoạch là luật, qui
hoạch sử dụng đất đai để đề ra phương hướng, kế hoạch bắt mọi người phải làm
theo. Nó chính sách cứng, là cái khung cho mọi hoạt động diễn ra trong đó. Vì
vậy, quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện tính chính sách rất cao. Nhưng không
phải thế mà qui hoạch sủ dụng đất đai là vĩnh viễn, không thay đổi.
f. Tính khả biến
Với xu hướng đi lên của xã hội, mọi sự vật hiện tượng luôn thay đổi. Vì
vậy, dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó định trước, đoán truớc,theo nhiều
phương diện khác nhau, qui hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải
pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc
phát triển kinh tế trong một thời lỳ nhất định. Càng ngày xã hội càng phát triển,
khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, đời sống của con người đòi hỏi càng cao, các
nhu cầu luôn biến đổi, cùng với những thay đổi đó các chính sách của nhà nước
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
và tình hình kinh tế cũng thay đổi theo. Do đó, các dự kiến qui hoạch là cần thiết.
Điều này thể hiện tính khả biến của qui hoạch. Quy hoạch sử dụng đất đai luôn
là qui hoạch động.
3. Những căn cứ quy hoạch sử dụng đất đai.
3.1. Căn cứ vào qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội.
bản tạo cơ sở vũng chắc cho công tác lập qui hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất đai, giúp
giải quyết về mặt nguyên tắc nhũng câu hỏi đặt ra: sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập
qui hoạch sử dụng đất đai.Trách nhiện lập qui hoạch sử dụng đất đai, nội dung lập
qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai thẩm quyền xét duyệt qui hoạch, kế hoạh sử
dụng đất đai.
a. Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập kế hoạch sử dụng đất đai
Hiến pháp nưqớc cộng hào xã hộa chủ nghĩa việt nam năm 1992 đã
khẳng định " đất đaithuộc quyển sở hữu toàn dân", " nhà nứoc thốn nhất quản lý
đất dai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu
quả" ( chương II điều 18 ).
Điều 1 luật đất đai năm 1993 cũng nêu rõ: " đất đai thuộc sở hữu toàn
dân donhà nứơc thống nhất quản lý ".
Điều 13 luật đất đai xác định một trong nhựng nội dung quản lý nhà nước
về đất là: " quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất ".
Điều 18,điều 1, điều 13 có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho t a biết đất đai
của nhà nước ta là do ngưòi dân làm chủ, nhân dân có quyền quýết định sử dụng
đất. Nhưng do tầm quan trọng của đất đai, nhà nước đúng ra làm người đại diện
cho nhân dân thống nhất quản lý đất đai và có quyển quyết định và định đoạt
việc sử dụng đất đai đúng mục đích và có hiệu quả. Nó cũng đặt ra yêu cầu phải
quản lý đất đai theo qui hoạch. Mặt khác, điều 19 luật đất đai cũng đã khẳng
định : “ căn cứ để quyết định giao đất là qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt “. Tức là việc giao đất cho các
đối tượng sử dụng là phải dựa trên qui hoạch và phù hợp với qui hoạch.
Ở điều 17 luật đất đai năm 1993 qui định rõ nội dung tổng quát của qui
hoạch sủ dụng đất. Vì vậy, công tác lập qui hoạch sử dụng đất đai mang tính chất
pháp lý rất cao. Do đó, để sử dụng và quản lý đất đai một cách có hiệu quả nhất
thiết là phải qui hoạch.
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
14
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
Một là, khoanh định việc sử dụng từng loại đất trong từng thời kỳ kế
hoạch. Thường thời gian qui định từ 10 đến 20 năm và lâu hơn nữa. Do đó, để
cho quá trình thực hiện nọi dung qui hoạch đã làm đựoc dễ dàng người ta chia
thời gian qui hoạch thành các kế hoạch 5 năm hoặc 10 năm để thực hiện dần.
Hai là, điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất đai cho phù hợp với qui hoạch kế
hoạch sử dụng đất đai được thực hiện trên cái khung mà qui hoạch sử dụng đất
đai chỉ ra. Do đó, kế hoạch sử dụng đất đai bị giới hạn trong cái khung đó và
được điều chỉnh cho phù hợp với qui hoạch.
d. Thẩm quyền xét duyệt qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.
Điều 18 ( luật đất đai năm 1993 ) quiđịnh thẩm quyền xét duyệt qui
hoạch,kế hoạch sử dụng đất đai :
* Quốc hội qui định qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong phậm vi
cả nước.
* Chính phủ xét duyệt qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các cán
bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, của uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương.
* Uỷ ban nhân dân cấp trên xét duyệt qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất
đai của uỷ ban nhân dân các cấp dưới trực tiếp.
Ngoài các văn bản chính có tính pháp lý ở mức độ cao ( hiến pháp và luật
phấp đất đai ). Còn có các văn bản dưới luật cũng như văn bản ngành trực tiếp
hoặc gián tiếp đề cập đến vai trò, ý nghĩa, căn cứ, nội dung và hướng dẫn
phương phấp lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai như: nghị định 404/CP,
ngày 7/11/79; nghị định 34/CP,ngày 23/4/1994; chỉ thị 247/ ttg, ngày 28/4/1995;
chỉ thị 245/ ttg, ngày 22/4/1996; thông tư 106/ QHKH?ĐC,ngày
15/4/19991;công văn 518/ CV-ĐC,ngày 10/9/1997; qquyết định
657QĐ/ĐC,ngày 28/01/1995 Tuy nhiên, trong nhữnh năm qua việc ban hành
- Thu thập và phân loại các thông tin, số liệu, tư liệu, bản đồ về đất
đai.thông qua các chỉ tiêu đặt ra, ta xuống tận cơ sở cần qui hoạch để thu thập
thông tin và ở các trung tâm lưu trữ tư liệu khác.
-Sau đó ta phải đánh giá độ tin cậy của các thông tin, số liệu thu thập
được, dùng các chỉ tiêu kinh tế, kĩ thuật và môi trường để đánh giá xem độ sát
thực của thông tin được bao nhiêu phần trăm.
- Từ đó ta nội nghiệp mới hoá thông tin, số liệu, bản đò.
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
- Xây dựng kế hoạch công tác ngoại nghiệp : Chính là xác định nhựng
nội dung, địa điểm cần khảo sát thực địa. Đưa ra các kế hoạch điều tra, đo vẽ bản
bổ sung, kế hoạch tiến hành khảo sát thực địa, xây dựng phương pháp, tổ chức
điều tra thông tin bổ sung. Sau đó ta phải kết hợp xử lý nội nghiệp và ngoại
nghiệp chuẩn hoá các thông tin, số liệu, bản đồ.
- Tổng duyệt các tài liệu, số liệu điều tra cơ bản, thông tin, bản đồ và
chọn các số liệu gốc.
- Xác định cơ sở pháp lý của bộ số liệu gốc.
4.2. Đánh giá thực trạng sử dụng đất và kinh tế xã hội
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất đai: ta phải dựa trên các chỉ tiêu về qui
mô đất, cơ cấu đất đai, chủng loại đất đai và chất lượng đất đai. Từ đó đánh giá
mức độ biến động đất đai qua các năm. Phân tích nguyên nhân dẫn đến những
biến động đó. Đánh giá tình hình sử dụng đã hợp lý chưa, phân bổ, bố trí địa
điểm có phù hợp không. Rút ra nhũng mặt tồn tại và đã đạt được.
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội gây áp lực đối với đất đai,
dựa vào rất nhiều các chỉ tiêu như: GDP chung và GDP bình quân đầu người, thu
nhập, tiêu dùng tích luỹ của dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ( theo ngành.theo
lãnh thổ ).
Về dân số, dân số trong nông nghiệp và phi nông nghiệp, dân số đô thị và
công nghệ trong các gia đoạn. Từ đó có thể dễ dàng xác định được nhu cầu sử
dụng đất ứng với số vốn và khoa học kỹ thuật.
- Căn cứ vào lực lượng lao động, lịch sử và thực trạng năng suất cây
trồng, mức tăng trưởng bình quân hàng năm của từngngành. Lực luợng lao dộng
mà có trình độ tay nghề cao thì khả năng mở rộng qui mô sản xuất lớn và ngược
lại.
Thực trạng năng suấtcây trồng mà cao thì qui mô và cơ cấu cây trồng
cũng thay đổi. Do vậy, việc dự báo nhu cầu sử dụng đất luôn phải căn cứ vào các
nhân tố này.
- Nhu cầu về nguyên liệu cho ngành công nghiệp ( gỗ cho xây dựng, gỗ
để xản xuất hàng tiêu dùng, đất để sản xuất vật liệu xây dựng,…) khi nền công
nghiệp vàng phát triển, nhu cầu về nguyên vật liệu cho ngành công nghiệp cũng
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
như các ngành khác ngày càng gia tăng. Điều đó, dẫn đến nhu cầu sử dụng đất
đai đáp ứng cho các ngành luôn thay đổỉ.
- Căn cứ vào tốc độ gia tăng dân số, phất triển đô thị, các điều kiện về kết
cấu hạ tằng, tính kịch sử các tụ điẻm dân cư và các điều kiện địa hình, thuỷ văn.
4.4. Xây dựng phương án qui hoạch sử dụng đất đai
Sau khi ta dự báo đầy đủ nhu cầu sử dụng đất đai ( 6 loại đất chính ), xác
định được nhu cầu biến động của từng đất đai. Từ đó, ta xâu dựng dự án qui
hoạch sử dụng từng loại đất đai.Nội dung chính của bước xâu dựng phương án
qui hoạchsử dụng đất này là phân bố, bố trí từng loại đất đai cho các nhu cầu đẫ
dự báo theo các phương ánlựa chọn. Xác định rõ ràng vùng này là đất gì, qui mô
bao nhiêu, chuyển bao nhiêu đất nông nghiệp sang các ngành khác, phân bổ như
thế nào( bao nhiêu cho đất trồng cây hàng năm, lâu năm, đất vườn tạp trong khu
vực dân cư, đất ở dành ho chăn nuôi ). Tương tự như vậy, ta cũng phân bố quĩ
đất các loại cho các nhu cầu theo các chỉ tiêu đặt ra.
để tháo gỡ.
5. Quan hệ giữa qui hoạch sử dụng đất đai với các qui hoạch khác
5.1. Quan hệ giữa qui hoạch sử dụng đất đai với qui hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội.
Quy hoạch tổng thể phất triển kinh tứ xã hội là tài liệu mang tính khoa
học, sau khi được phê duyệt sẽ mang tính chiến lược chỉ đạo sự phát triểnkinh tế
xã hội, được luận chứng bằng nhiều phương án kinh tế - xã hội về phát triển và
phân bố lực lượng sản xuất theo không gian có tính đến chuyên môn hoá và phát
triển tổng hợp sản xuất của các vùng và các đơn vị cấp dưới.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một trong những tài liệu
tiền kế hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việi xây dựng các kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội. Trong đó, có đề cập đến dự kiến sử dụng đất đai ở mức độ
phương hướng với một nhiệm vụ chủ yếu. Còn đối tượng của qui hoạch sử dụng
đất đai là tài nguyên đất. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là căn cứ vào yêu cầu của
phát triển kinh tế và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội điều chỉnh cơ cấu và
phương hướng sử dụng đất, xây dựng phương án qui hoạch phân phối sử dụng
đất đai thống nhất và hợp lý.
Như vậy, qui hoạch sử dụng đất đai là qui hoạch tổng hợp chuyên
ngành,cụ thể hoá qui hoạch tổng thể phất triển kinh tế xã hội, nhưng nội dung
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
của nó phải được điếu hoà thống nhất với qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã
hội.
5.2. Quan hệ giữa qui hoạch sử dụng đất đai với qui hoạch phát triển
nông nghiệp.
Qui hoạch phát triển nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu của phát triển kinh
tế - xã hội đối với sản xuất nông nghiệp để xác định hướng đầu tư, biện pháp,
bước đi về nhân tài, vật lực đảm bảo cho các ngành trong nông nghiệp phát triển
hoạch sử dụng đất đaicả nước là căn cứ của qui hoạch sử dụng đất đai các địa
phương ( tỉnh, huyện, xã ). Qui hoạch sử dụng đát đai cả nước chỉ đạo việc xây
dựng qui hoạch cấp tỉnh,qui hoạch cấp huyện xây dựng trên qui hoạch cấp
tỉnh.Mặt khác, qui hoạch sử dụng đất đai của các địa phương là phần tiếp theo, là
căn cứ dể chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện qui hoạch sử dụng đất đai của cả
nước.
5.5. Quan hệ giữa qui hoạch sử dụng đất đai với qui hoạch các ngành
Quan hệ giữa qui hoạch sử dụng đất đai với qui hoạch các ngành là quan
hệ tương hỗ vừa phát triển vừa hạn chế lẫn nhau. Qui hoạch các ngành là cơ sở
và bộ phận hợp thành của qui hoạch sử dụng đất đai, nhưng lại chịu sự chỉ đạo
và khống chế qui hoạch của qui hoạch sử dụng đất đai.
Quan hệ giữa qui hoạch sử dụng đất đai với qui hoạch các ngành là quan
hệ cá thể và tổng thể, cục bộ và toàn bộ, không có sự sai khác về qui hoạch theo
không gian ở cùng một khu vực cụ thể. Tuy nhiên chúng có sự khác nhau rất rõ
về tủ tưởng chỉ đạo và nội dung: Một bên là sự sắp xếp chiến thuật, cụ thể, cục
bộ ( qui hoạch ngành ); một bên là sự định hướng chiến lược có tính toàn diện và
toàn cục ( qui hoạch sử dụng đất ).
6. Những phương pháp chính xây dựng qui hoạch.
6.1. Phương pháp cân đối.
Quá trình xây dựng và thực thi qui hoạch tổng thể sử dụng đất là quá
trình diễn thể của hệ thống sủ dụng đất dưới sự điều khiển của con người, trong
đó đề cập đến sự không cân bằng của hệ thống cũ và xây dựng hệ thống mới.
Thông qua điều tiết khống chế vĩ mô, thực hiện sự cân bằng tương đối về tình
trạng sự dụng đất ở một thời điểm nào đó.
Mục đích của việc áp dụng phương phấp cân đối:
Bộ môn: Kinh tế-Quả lý địa chính Lớp: Kinh tế-Quản lý địa chính
K39
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
- Điều hoà mối quan hệ giữa các ngành: nông nghiệp -lâmnghiệp -ngư
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Lê Sỹ Hải
Trong quá trình sử dụng phương pháp cân đối phỉa quán triệt hai vấn đề
sau đây:
Một là, kết hợp phân tích định tính và định lượng. Phân tích định tính là
sự phán đoán các mối quan hệ tương hỗ giữa phát triển kinh tế, xã hội với sử
dụng đất, giữa các ngành và các bộ phận với sử dụng đất trên cơ sở điều tra và
xử lý. Đây là công cụ để giúp nhận thức được các số liệu có tính qui luật trong
sử dụng đất. Phân tích định lượng là dựa trên phương pháp số hoạ để lượng hoá
mối tương quan giữa sử dụng đất với phất triển kinh tế xã hội và với sự phát
triển các ngành, các bộ phận.
Quy hoạch sử dụng đất đai là công việc phức tạp và khó khăn. Nhiều vấn
đề sử dụng đất có tính qui luật, phương pháp định tính là công cụ đắc lực giúp
nhận thức đúng và làm rõ những qui luật đó. Trong trường hợp thông tin tư liệu
chưa hoàn thiện, việc phối hợp thống nhất giữa tri thức khoa học và phán đoán
kinh nghiệm có tác dụng vô cùng quan trọng. Phương pháp kết hợp đó được thể
hiện theo trình tự từ phân tích định tính,nghiêncứu đánh giá hiện trạng sử dụng
đát,phát hiện những vấn đề tồn tại và xu thế phát triển. Sau đó trên cơ sở những
thông tin,căn cứ thu thập được sẽ luợng hoá bằng phương phápsố học.Như
vậy,kết quả qui hoạch sẽ phù hợp vớ thực tế hơn.
Hai là, kết hợp phân tích vĩ mô và vi mô. Phân tích vĩ mô là nghiên cứu
phân bố và sử dụng đất trên bình diện rộng: tổng thể nền kinh tế quốc dân. Phân
tích vi mô là nghiên cứu phân bổ và sử dụng đất mang tính cục bộ từng
ngành,từng bộ phận.
Quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai bất đầu từ vĩ mô để xác định tư
tưởng chỉ đạo,mục tiêu chiến lược của qui hoạch tổng thể,đồng thời căn cứ tình
hình thực tế của các đối tượng sử dụng đất, cụ thể hoá, làm sâu thêu, hoàn thiện
và tối ưu hoá qui hoạch.
6.2. Các phương pháp toán kinh tế và ứng dụng công nghệ tin học trong
qui hoạch sử dụng đất đai.
Do đặc điểm của đất đai rất đa dạng với nhiều chức năng sử dụng, nên