Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, và của Nhà nước7 - Pdf 17

Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, và của Nhà nước
Thị tộc và Nhà nước ở La Mã
VI
THỊ TỘC VÀ NHÀ NƯỚC Ở LA MÃ
Theo truyền thuyết về việc thành lập La Mã thì điểm dân cư đầu tiên được thành lập bởi một số thị tộc
Latin (theo truyền thuyết thì có tới một trăm) liên hợp thành một bộ lạc; không lâu sau, có một bộ lạc
Sabellian - hình như cũng gồm một trăm thị tộc - đến gia nhập; cuối cùng là một bộ lạc thứ ba, gồm nhiều
phần tử khác nhau, và theo truyền thuyết thì cũng có một trăm thị tộc. Toàn bộ chuyện này thoạt nghe
cũng chứng tỏ rằng không có cái gì là tự nhiên sinh ra cả, trừ thị tộc; nhưng ngay đến thị tộc, trong vài
trường hợp, cũng chỉ là phân nhánh của một thị tộc mẹ vẫn còn tồn tại trên vùng đất ban đầu. Rõ ràng,
các bộ lạc đều mang dấu ấn của sự hình thành nhân tạo, dù nói chung, chúng đều được tạo ra từ các phần
tử có họ hàng với nhau, theo kiểu các bộ lạc cổ, và đều tự hình thành chứ không phải được chế tạo nên;
nhưng vẫn có khả năng rằng hạt nhân của mỗi bộ lạc nói trên chính là một bộ lạc cổ có thật. Cái trung
gian là bào tộc thì gồm mười thị tộc, và được gọi là curia; tức là có tất cả ba mươi curia.
Thị tộc La Mã được thừa nhận là có thể chế giống như thị tộc Hi Lạp, và vì thị tộc Hi Lạp là sự phát triển
cao hơn của cái đơn vị cơ sở của xã hội, mà ta đã thấy hình thái nguyên thủy của nó ở người Indian châu
Mĩ; nên điều nói trên đương nhiên cũng đúng với thị tộc La Mã. Vậy ở đây ta có thể nói ngắn gọn hơn.
Thị tộc La Mã, ít ra là vào những thời xưa nhất của Rome, có thể chế như sau:
1. Quyền thừa kế lẫn nhau giữa các thành viên; tài sản vẫn ở trong thị tộc. Vì chế độ phụ quyền đã thịnh
hành ở thị tộc La Mã, cũng như thị tộc Hi Lạp, nên họ hàng theo nữ hệ không được tính đến. Theo Bộ
luật Mười hai Bảng, bộ luật La Mã thành văn cổ nhất mà ta biết, thì con cái là người thừa kế đầu tiên, nếu
không có con thì đến agnates (họ hàng theo nam hệ), và nếu không có agnates thì mới tới những người
cùng thị tộc. Với mọi trường hợp, tài sản đều ở lại trong thị tộc. Ở đây, ta thấy các luật lệ mới - sinh ra do
sự tăng lên về của cải, và do chế độ hôn nhân cá thể - đã dần thâm nhập vào tập quán thị tộc: quyền thừa
kế lúc đầu là bình đẳng cho mọi thành viên, thì trong thực tiễn đã bị giới hạn - có thể là từ rất sớm, như ta
đã nói ở trên - đầu tiên là trong phạm vi agnates, rồi sau cùng là trong phạm vi con cháu, tính theo nam
hệ. Trong Bộ luật Mười hai Bảng, việc này cố nhiên là được qui định theo trật tự ngược lại.
2. Một nghĩa địa chung. Khi di cư từ Regilli tới Rome, thị tộc quí tộc Claudii nhận được một mảnh đất,
ngoài ra còn được một nghĩa địa chung ngay trong thành phố. Ngay cả ở thời Augustus, thủ cấp của
Varus, người đã chết trong trận đánh ở rừng Teutoburg, cũng được đưa về Rome và chôn ở gentilitius
tumulus

9. Quyền bầu cử và bãi miễn thủ lĩnh thì không có chỗ nào nhắc đến cả. Nhưng từ những ngày đầu tiên
của Rome, mọi chức vụ - từ vua trở xuống - đều được bầu lên hoặc cử ra, và vì những thầy tu của các
curia đều được chính các curia này bầu lên; nên ta có thể cho là với các thủ lĩnh thị tộc thì cũng thế, tuy
nhiên việc bầu những người trong cùng một gia đình vào chức ấy có lẽ cũng là thông lệ rồi.
Đó là các chức năng của thị tộc La Mã. Trừ việc đã chuyển hẳn sang chế độ phụ quyền, thì những điều
trên giống hệt với thị tộc Iroquois; ở đây ta cũng thấy “người Iroquois lộ ra rõ ràng”.
[Có thể nói lên sự nhầm lẫn còn tồn tại đến nay về vấn đề thị tộc La Mã, ở cả những sử gia hàng đầu của
chúng ta, chỉ bằng một ví dụ. Trong cuốn sách về các họ của người La Mã ở thời cộng hòa và thời
Augustus (“Nghiên cứu lịch sử La Mã”
4
, Berlin, 1864, t. I, tr. 8-11), Mommsen có viết:
“Các tên thị tộc thuộc về mọi thành viên nam giới của thị tộc đó, tất nhiên là trừ nô lệ, nhưng vẫn bao
gồm những người được thị tộc thu nhận hoặc bảo vệ; các tên ấy còn dành cho cả nữ giới nữa Bộ lạc (ở
đây Mommsen dịch từ gens thành “bộ lạc”) là một tập thể sinh ra từ một dòng dõi chung (hoặc là có
thật, hoặc là giả định, thậm chí còn được bịa ra nữa), gắn bó với nhau bởi các ngày hội chung, những nghi
thức tang lễ chung, và quyền thừa kế chung; tất cả những ai có quyền tự do cá nhân, do đó có cả phụ nữ,
đều có quyền và bổn phận gia nhập. Cái khó là xác định tên thị tộc của những phụ nữ đã có chồng. Chừng
nào mà đàn bà chỉ được phép kết hôn với một người cùng thị tộc, thì vấn đề đó không có; và có bằng
chứng rằng trong một thời kì dài, phụ nữ khó lấy chồng ở ngoài thị tộc của mình hơn, so với lấy chồng
trong cùng thị tộc; vì rằng cái quyền kết hôn ngoài thị tộc - gentis enuptio - này, mãi tới thế kỉ VI
5
vẫn là
một đặc quyền, được xem như một phần thưởng Nhưng khi đã có những cuộc kết hôn ngoài thị tộc như
thế, thì trong những thời xưa nhất, người đàn bà hẳn là phải chuyển sang thị tộc của chồng mình. Không
nghi ngờ gì nữa, trong chế độ hôn nhân mang tính tôn giáo thời xưa, nữ giới hoàn toàn tham gia vào
những quan hệ pháp lí và tôn giáo trong cộng đồng của chồng, và rời bỏ cộng đồng của chính mình. Ai
cũng biết là người phụ nữ đã có chồng sẽ mất quyền thừa kế và quyền để lại tài sản, đối với những thành
viên của thị tộc mình; nhưng lại có được các quyền đó đối với chồng con, cũng như các thành viên khác
của thị tộc nhà chồng. Và nếu đã được chồng mình thu nhận và nhập vào gia đình của chồng, thì lẽ nào
người phụ nữ ấy vẫn còn ở ngoài thị tộc của chồng được?”

và quan tư pháp, trong hiện tại và tương lai, theo dõi để việc nói trên không dẫn tới bất kì hậu quả bất
công nào đối với Fecenia. Do đó, giả định của Mommsen xem ra hoàn toàn không thể chấp nhận được.
Hoặc là giả định rằng người đàn bà kết hôn với một người thuộc thị tộc khác, nhưng vẫn ở lại trong thị
tộc trước kia của mình. Như vậy, theo đoạn văn nói trên, người chồng có quyền cho phép vợ mình kết
hôn ở ngoài thị tộc của chính người vợ. Điều này nghĩa là ông ta có quyền xử lí các công việc của một thị
tộc mà mình hoàn toàn không phải là một thành viên. Điều này vô lí rành rành, đến nỗi không cần phí
thêm lời nào nữa.
Vậy thì chỉ còn một giả thiết: lúc đầu, người đàn bà đi lấy chồng ở thị tộc khác, và do đó mà lập tức
chuyển sang thị tộc của chồng; như chính Mommsen đã thừa nhận trên thực tế, về những trường hợp như
vậy. Thế thì mọi thứ đều trở nên rõ ràng. Người đàn bà, do kết hôn mà rời bỏ thị tộc cũ của mình và nhập
vào thị tộc của chồng, có một vị trí đặc biệt trong thị tộc mới ấy. Cô ta quả là thành viên, nhưng lại không
có quan hệ huyết tộc đối với thị tộc đó. Nhờ được thu nhận làm thành viên do kết hôn, cô ta đã hoàn toàn
thoát khỏi việc cấm kết hôn trong nội bộ thị tộc nói trên, hơn nữa còn được thừa kế tài sản khi chồng
mình chết đi. Vậy, cái luật lệ buộc người đàn bà ấy phải kết hôn với một người cùng thị tộc với chồng
trước của mình, chứ không phải ai khác, để tài sản đó vẫn ở lại trong thị tộc, chẳng phải là rất tự nhiên ư?
Và nếu có ngoại lệ, thì còn ai đủ thẩm quyền để trao nó cho bà ta, nếu không phải là chính người chồng,
cũng là người đã để lại tài sản cho vợ mình? Khi lập di chúc để trao tài sản cho vợ, và cho phép vợ
chuyển nó sang thị tộc khác, nhờ kết hôn hay do kết hôn; thì của cải này lúc ấy vẫn thuộc về người chồng,
vậy là thực ra ông ta chỉ đang định đoạt tài sản của mình mà thôi. Còn về bản thân người vợ và quan hệ
của bà ta với thị tộc nhà chồng, thì cũng chính người chồng đã đưa vợ vào thị tộc của mình, bằng một
hành động tự nguyện: ấy là kết hôn; nên nếu ông ta có thẩm quyền để cho phép vợ mình tái giá và chuyển
sang thị tộc khác, thì điều đó cũng là tự nhiên thôi. Tóm lại, ngay khi ta vứt bỏ cái quan niệm kì quái về
chế độ nội hôn của thị tộc La Mã, và - giống như Morgan - coi là nó theo chế độ ngoại hôn; thì vấn đề sẽ
trở nên đơn giản và dễ hiểu.
Còn một giả định cuối cùng, cũng được người ta bênh vực, và có lẽ được nhiều người bênh vực nhất.
Theo đó, đoạn văn của Titus Livius chỉ có nghĩa là
“các nô tì được giải phóng (libertae), nếu không được phép đặc biệt, thì không thể e gente nubere (nghĩa
là “kết hôn ngoài thị tộc”), hay có bất kì hành vi nào capitis deminutio minima
6
; không thì người đó sẽ

tộc thế tập; những gia đình này tự gọi mình là “quí tộc”, và đòi được độc quyền tham gia viện nguyên lão
cũng như nắm các chức vụ khác. Dần dần, nhân dân đã chấp nhận yêu cầu đó, và nó biến thành một
quyền chính thức; điều này xuất hiện trong truyền thuyết về việc Romulus đã trao danh vị quí tộc và các
đặc quyền quí tộc cho những nguyên lão đầu tiên và con cháu của họ. Cũng như boule ở Athens, viện
nguyên lão có quyền quyết định tối hậu trong nhiều công việc, có quyền thảo luận trước về các vấn đề
quan trọng, nhất là các đạo luật mới. Các đạo luật ấy lại được thông qua bởi đại hội nhân dân, được gọi là
comitia curiata (đại hội các curia). Quần chúng nhân dân họp lại theo từng curia, và trong mỗi curia thì có
thể là theo từng thị tộc; mỗi curia được bỏ một phiếu khi biểu quyết. Đại hội các curia thông qua hoặc bác
bỏ mọi đạo luật; bầu ra các viên chức cao cấp, kể cả rex (được coi là “vua”); tuyên chiến (nhưng viện
nguyên lão thì kí hòa ước); và với tư cách tòa án tối cao, có quyền quyết định trong mọi trường hợp kết án
tử hình một công dân La Mã, nếu các bên hữu quan kháng án. Cuối cùng, bên cạnh viện nguyên lão và
đại hội nhân dân, còn có rex; chức vụ này hoàn toàn giống với basileus ở Hi Lạp, và tuyệt nhiên không
phải là ông vua gần như chuyên chế mà Mommsen từng mô tả
1*
. Rex là thủ lĩnh quân sự, pháp sư tối cao,
và là chánh án trong một số vụ xử nhất định. Ông ta không có quyền hạn dân sự nào, cũng như không có
quyền gì đối với sinh mạng, tài sản và tự do của công dân; trừ khi chúng bắt nguồn từ quyền giữ gìn kỉ
luật của một thủ lĩnh quân sự, hay quyền thi hành án của quan chánh án. Rex không phải là chức vụ thế
tập; ngược lại, ông ta được đại hội các curia bầu lên, có thể là theo đề cử của người tiền nhệm, rồi được
làm lễ nhậm chức trọng thể ở lần đại hội thứ hai. Rex cũng có thể bị cách chức; số phận của Tarquinius
Superbus đã chứng tỏ điều đó.
Giống như người Hi Lạp ở thời đại anh hùng, người La Mã - ở thời của những người được gọi là “vua”
đó - cũng sống dưới chế độ dân chủ quân sự, trên cơ sở thị tộc, bào tộc và bộ lạc; và phát triển lên từ
những cái đó. Dù các curia và bộ lạc là những tổ chức phần nào mang tính nhân tạo, thì chúng vẫn được
hình thành trên những kiểu mẫu xác thực và nguyên thủy, của cái xã hội đã sinh ra chúng và vẫn còn vây
quanh chúng từ mọi phía. Và dù bọn quí tộc nguyên thủy đã có được chỗ đứng vững chắc, dù các rex cố
gắng mở rộng dần quyền lực của mình, thì điều đó vẫn không làm thay đổi tính chất cơ bản ban đầu của
thể chế, và đó là cái quan trọng.
Trong lúc đó, ở thành Rome và lãnh thổ La Mã - vốn được mở rộng nhờ việc xâm lược - thì dân số đã
tăng lên, một phần do việc nhập cư, phần khác là do có thêm dân cư từ các vùng bị chinh phục, chủ yếu là

Đại hội các centuria mới này đã nắm lấy mọi quyền chính trị của đại hội các curia trước đây, trừ vài
quyền lợi danh nghĩa. Các curia, và những thị tộc hợp thành chúng, đều do đó mà thoái hóa thành các
đoàn thể tư nhân và tôn giáo, giống như ở Athens, và tiếp tục sống vất vưởng như thế trong một thời gian
dài; còn đại hội các curia thì mau chóng bị tê liệt. Để loại trừ ba bộ lạc thân tộc cũ khỏi Nhà nước, bốn bộ
lạc khu vực đã được lập ra, mỗi bộ lạc mới này ở một khu trong thành và được hưởng một số quyền lợi
chính trị.
Vậy là ở La Mã cũng thế, trước khi xóa bỏ cái gọi là vương quyền, thì cái trật tự xã hội cũ - dựa trên quan
hệ huyết thống giữa các cá nhân - đã bị phá bỏ, thay vào đó là một thể chế Nhà nước mới mẻ và hoàn
chỉnh, dựa trên sự phân chia địa phương và sự chênh lệch về tài sản. Ở đây, quyền lực đó được tập trung
vào tay những công dân được làm nghĩa vụ quân sự; để chống lại không chỉ nô lệ, mà cả những người gọi
là “vô sản”, tức là những người không được làm nghĩa vụ quân sự và không có vũ trang.
Việc trục xuất rex cuối cùng - kẻ đã tiếm đoạt một vương quyền thật sự - là Tarquinius Superbus, và việc
thay rex bằng hai thủ lĩnh quân sự (quan chấp chính) có quyền lực giống nhau (như ở người Iroquois),
đơn thuần là một bước phát triển hơn nữa của chế độ mới này. Chính trong chế độ ấy, toàn bộ lịch sử của
nước Cộng hòa La Mã đã diễn ra, với tất cả những cuộc đấu tranh giữa quí tộc và bình dân để giành giật
các chức vụ và chia chác ruộng đất của Nhà nước, và việc bọn quí tộc cuối cùng bị hòa tan vào cái giai
cấp mới của những kẻ lắm tiền nhiều ruộng. Bọn này đã dần nuốt hết ruộng đất của nông dân, vốn đã bị
nghĩa vụ quân sự làm cho phá sản; chúng đã dùng lao động của nô lệ để canh tác trên những điền trang
lớn, có được do việc thâu tóm ruộng đất; chúng đã làm cho dân số nước Ý bị vơi đi, do đó đã mở rộng
cửa không chỉ cho đế chế, mà còn cho những kẻ kế thừa nó nữa: đó là những người Germania dã man.
Chú thích của Engels
1* Từ Latin rex đồng nghĩa với từ righ (trưởng bộ lạc) trong tiếng Celt-Ireland, và với từ reiks trong tiếng
Goth; từ đó, ban đầu cũng giống với từ Fürst trong tiếng Đức (nghĩa là “người đứng đầu”, cũng như từ
first trong tiếng Anh, hay từ förste trong tiếng Đan Mạch), có nghĩa là “trưởng thị tộc” hay “trưởng bộ
lạc”. Điều này được chứng minh bởi sự kiện sau: từ thế kỉ IV, người Goth đã có một từ riêng để chỉ người
về sau được gọi là “vua”, thủ lĩnh quân sự của cả một bộ tộc: thiudans. Ở bản dịch Kinh thánh của Ulfilas,
Artaxerxes và Herod không bao giờ được gọi là reiks, mà là thiudans; đế chế của hoàng đế Tiberius thì
không được gọi là reiki, mà là thiudinassus. Với tên gọi thiudans của người Goth, hoặc như ta vẫn dịch
nhầm tên của vua Thiudareiks thành Theodoric hay Dietrich, thì hai tên gọi trên đã hợp thành một.
Chú thích của người dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status