Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
LI M U
Ngày nay, có lẽ không ai phủ nhận vai trò của xuất khẩu, của xu hớng
khu vực hoá, quốc tế hoá đối với sự phát triển mọi mặt của một quốc gia. Việc
hội nhập với nền kinh tế quốc tế đối với Việt Nam càng trở nên quan trọng hơn,
bởi so với rất nhiều nớc trên thế giới, chúng ta vẫn là một nớc nghèo và đang trên
đờng thực hiện Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá.
Với điều kiện của nớc ta hiện nay, việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng may
mặc đang là một xu hớng tất yếu góp phần phát triển kinh tế đất nớc, đa nớc ta
thoát khỏi danh sách các nớc nghèo trên thế giới.
Thị trờng EU là một thị trờng có nhu cầu nhập khẩu hàng may mặc rất
lớn, đợc đánh giá là một thị trờng quan trọng và đầy tiềm năng của hàng may
mặc Việt Nam.
Là một doanh nghiệp kinh doanh hàng may mặc, trong nhiều năm qua thị
trờng EU vẫn luôn đợc coi là một trong những thị trờng truyền thống và quan
trọng đối với việc xuất khẩu hàng may mặc của Công ty may Chiến Thắng.
Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu của Công ty
sang thị trờng này lại có xu hớng giảm, do cả nguyên nhân khách quan và chủ
quan. Vì vậy, trong thời gian tới, thị trờng này cần phải đợc coi trọng hơn nữa
trong chiến lợc xuất khẩu của Công ty nhằm khai thác hết tiềm năng của thị trờng
này.
ý thức đợc điều này, sau một thời gian thực tập tại Công ty, em đã mạnh
dạn chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động xuất khẩu
hàng may mặc sang thị trờng EU ở Công ty may Chiến Thắng".
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua phân tích, đánh giá hoạt
động xuất khẩu của Công ty sang thị trờng EU để đa ra các giải pháp trong việc
duy trì và mở rộng xuất khẩu sang thị trờng này.
Kết cấu của đề tài gồm ba chơng:
Chơng 1. Lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu hàng may mặc
Chơng 2. Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của
Tiến hành hoạt động xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh
hàng may mặc tiếp cận nhanh hơn với nền kinh tế thị trờng, tích luỹ đợc nhiều
kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực tìm kiếm, mở rộng thị
trờng.
Chính vì vậy, hoạt động xuất khẩu hàng may mặc hiện nay đợc tiến hành ở
hầu hết các nớc trên thế giới, đặc biệt là những nớc có lợi thế về nhân lực và
Hàn Lu Anh Th TM 42a
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
nguyên liệu. Hoạt động xuất khẩu này mang lại những lợi ích rất lớn, đặc bịêt là
với một nớc đang phát triển nh nớc ta.
1.1.2. Đặc điểm của hàng may mặc xuất khẩu
Với mỗi ngời, ba nhu cầu ăn, mặc, ở là những nhu cầu thiết yếu và
không thể thiếu. Đáp ứng nhu cầu mặc, không thể có ngành nào thay thế đợc
ngành sản xuất hàng may mặc. Nhu cầu của ngời tiêu dùng hiện nay là mặc
đẹp chứ không phải là mặc ấm nh trớc kia; chính vì vậy việc phát triển hàng
may mặc là một tất yếu. Cùng với sự phát triển của thơng mại quốc tế, hàng may
mặc không chỉ đáp ứng nhu cầu của ngời tiêu dùng trong nớc mà còn đáp ứng
nhu cầu của ngời tiêu dùng ở rất nhiều nớc khác. Trong kinh doanh quốc tế, mặt
hàng may mặc là một trong những mặt hàng có quan hệ đối ngoại sớm nhất.
Hàng may mặc xuất khẩu có những đặc trng cơ bản sau:
Sản phẩm may mặc là sản phẩm không thể thay thế đợc
Sản phẩm của hầu hết các ngành công nghiệp khác đều là những sản phẩm
có thể thay thế đợc, nh thay vì sử dụng xe máy, ngời ta sử dụng xe đạp, xe buýt,..
thay vì sử dụng ti vi, ngời ta sử dụng radio,...Nhng đối với ngành công nghiệp sản
xuất hàng may mặc, ngời ta chỉ có thể lựa chọn chất liệu vải, màu sắc, kiểu dáng
khác nhau của các sản phẩm may mặc nhng không thể không sử dụng các sản
phẩm này. Đây là một đặc điểm cơ bản của hàng may mặc, nhờ đó mà sản phẩm
may mặc trở thành một trong những sản phẩm thiết yếu không thể thiếu của ngời
khéo léo, vì vậy, ngành công nghiệp sản xuất hàng may mặc thu hút rất nhiều lao
động, đặc biệt là lao động nữ. Đây là ngành công nghiệp có ý nghĩa quan trọng
đối với các nớc đang phát triển, các nớc đang ở thời kỳ đầu của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hoá nh nớc ta.
Ngành công nghiệp sản xuất hàng may mặc đã diễn ra nhiều lần dịch
chuyển sản xuất giữa các nớc, các khu vực trên thế giới và trong nội bộ từng n-
ớc.
Công nghiệp sản xuất hàng may mặc là ngành công nghiệp sớm tham gia
vào thị trờng hàng hoá quốc tế và nó cũng đã trải qua nhiều lần dịch chuyển sản
xuất giữa các nớc và các khu vực trên thế giới. Có thể nói, ngành công nghiệp này
xuất hiện đầu tiên ở Anh từ thế kỷ XVIII, sau đó đợc dịch chuyển sang các nớc
châu Âu khác, rồi đến châu á (đặc biệt là các nớc Nics) và hiện nay, ngành công
nghiệp này đang trong quá trình dịch chuyển đến các nớc kém phát triển hơn nh
Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin... và có xu hớng dịch
chuyển sang các nớc kém phát triển hơn nữa, và có giá nhân công rẻ hơn.
Ngay trong nội bộ một nớc, công nghiệp sản xuất hàng may mặc cũng có
xu hớng dịch chuyển từ các đô thị đến các vùng nông thôn có giá nhân công rẻ.
Thu nhập bình quân và cơ cấu tiêu dùng chi cho hàng may mặc là nhân
tố có ảnh hởng quan trọng đến việc xác định xu hớng tiêu thụ mặt hàng này.
Hàn Lu Anh Th TM 42a
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Đối với các thị trờng có mức thu nhập bình quân cao thì yêu cầu về chất l-
ợng, mẫu mã, kiểu dáng... sẽ quan trọng hơn giá cả. Ngợc lại, đối với các thị tr-
ờng có mức thu nhập khá hoặc trung bình thì giá cả lại có ý nghĩa rất quan trọng
trong quyết định mua hàng của khách. Đặc điểm này có ý nghĩa rất lớn đối với
các doanh nghiệp khi quyết định tính chất mặt hàng kinh doanh trên từng khu vực
thị trờng và khách hàng.
Về đặc điểm thị trờng:
trọng nhất để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu và phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ mật thiết với nhau, xuất khẩu tạo ra
nguồn vốn để nhập khẩu; nhập khẩu tạo điều kiện để thúc đẩy xuất khẩu phát
triển Xuất khẩu quy định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu. Do đó, trong
kinh doanh phải luôn kết hợp xuất khẩu và nhập khẩu.
Đã từ nhiều năm nay, hàng may mặc nói riêng và dệt may nói chung luôn
là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, và trong những
năm gần đây kim ngạch xuất khẩu dệt may luôn đứng ở vị trí thứ hai trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của cả nớc, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển
kinh tế đất nớc và tạo ra một lợng ngoại tệ lớn để đầu t vào trang thiết bị máy
móc và xây dựng cơ sở hạ tầng của đất nớc, thể hiện ở những chỉ tiêu sau:
- Năm 2001, tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành dệt và may mặc đạt
1.975 triệu USD, tăng 8,8% so với năm 2000, chiếm tỷ trọng 13,1% trong tổng
giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nớc (dầu thô là 20,8%).
- Năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành dệt và may mặc đạt
2.752 triệu USD, tăng 39,3% so với năm 2001, chiếm tỷ trọng 16,5% trong tổng
giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nớc (dầu thô là 19,6%).
- Năm 2003, tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành dệt và may mặc ớc
đạt 3630 triệu USD, tăng 31,9% so với năm 2002, chiếm tỷ trọng 18,3% trong
tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nớc (dầu thô là 19%). Đây là lần đầu tiên
kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam vợt ngỡng 3 tỷ USD.
Có thể thấy rằng, kim ngạch xuất khẩu dệt may của nớc ta trong những
năm gần đây tăng lên khá nhanh, khoảng cách giữa tỷ trọng xuất khẩu dệt may và
dầu thô trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nớc ta ngày càng đợc rút ngắn, thể
hiện qua bảng sau:
Hàn Lu Anh Th TM 42a
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
cách tốt nhất và hiệu quả kinh doanh mang lại không cao.
Xuất khẩu phát triển tạo điều kiện thoả mãn tốt hơn nhu cầu của ngời dân
trên toàn thế giới. Thông qua hoạt động thơng mại quốc tế, một nớc có thể
chuyên môn hóa vào việc sản xuất mặt hàng nào mà nớc đó có lợi thế hơn, từ đó
góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nớc theo hớng chuyên môn hoá, nhờ đó
cơ cấu vật chất của sản phẩm sản xuất ra có sự thay đổi. Ngành may mặc là một
ngành mà nớc ta có thế mạnh rất lớn, vì vậy việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng may
mặc đã đợc Chính phủ quan tâm từ nhiều năm nay.
Khi ngành công nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu phát triển, nó
sẽ kéo theo sự phát triển của rất nhiều ngành có liên quan
Để sản xuất ra một sản phẩm may mặc phục vụ xuất khẩu, ngời ta cần
phải dùng đến nhiều nguyên phụ liệu khác nh bông, vải sợi, và các ngành công
nghiệp khác nh in, nhuộm, sản xuất nhựa polyme để bao gói, hoàn thiện sản
phẩm, sản xuất giấy để phục vụ cho việc cắt xén, tạo bản mẫu hay các thùng bìa
các-tông để đóng gói sản phẩm
Hơn nữa, khi ngành công nghịêp này phát triển ngày càng cao thì đòi hỏi
càng nhiều những máy móc thiết bị tiên tiến để phục vụ việc sản xuất ra những
sản phẩm có chất lợng cao và giảm bớt những chi phí cho phế liệu, phế phẩm. Từ
đó kéo theo sự phát triển của các ngành cơ khí, chế tạo máy phát triển.
Hàn Lu Anh Th TM 42a
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Hàng may mặc xuất khẩu của chúng ta thờng xuất khẩu với số lợng lớn,
nên thờng chọn phơng tiện vận chuyển đờng biển vì xuất khẩu bằng đờng biển
tốn kém ít chi phí vận chuyển và có thể vận chuyển những khối lợng hàng hoá
lớn, do vậy đòi hỏi phải có sự phát triển của ngành hàng hải.
Góp phần giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
Để tạo ra các sản phẩm phục vụ xuất khẩu, không thể không có sự đóng
góp của lực lợng lao động. Nhờ có sự phát triển của hoạt động xuất khẩu mà rất
Thông qua phơng thức gia công xuất khẩu, chúng ta có thể tranh thủ sự
giúp đỡ của các bạn hàng và có thể khai thác thông tin từ họ, khiến cho việc
quảng bá thơng hiệu hàng may mặc Việt Nam đợc thực hiện có hiệu quả hơn.
1.2. Các hình thức xuất khẩu hàng may mặc
Trong buôn bán quốc tế hiện nay tồn tại khá nhiều hình thức xuất khẩu,
trong đó các hình thức xuất khẩu chủ yếu sau đây thờng đợc áp dụng trong việc
xuất khẩu hàng may mặc:
1.2.1. Hình thức xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc nhà sản xuất trực tiếp tiến hành các giao dịch với
khách hàng nớc ngoài thông qua các tổ chức của mình.
Xuất khẩu trực tiếp cũng có thể là việc nhà xuất khẩu mua từ các doanh
nghiệp sản xuất trong nớc sau đó xuất khẩu những sản phẩm này ra nớc ngoài với
danh nghĩa là hàng của mình thông qua các tổ chức của mình.
Trong phơng thức này, các doanh nghiệp trong nớc sẽ tự mua nguyên liệu đầu
vào cần thiết thay vì đợc cung cấp miễn phí bởi ngời mua nớc ngoài. Do đó theo ph-
ơng thức này, doanh nghiệp trong nớc đợc thanh toán toàn bộ sản phẩm may mặc
xuất khẩu. Có thể phân thành ba loại xuất khẩu trực tiếp nh sau:
* Loại 1: Doanh nghiệp trong nớc mua nguyên vật liệu đầu vào để gia công từ
nhà cung cấp do ngời mua nớc ngoài chỉ định.
Theo phơng thức hợp đồng này, ngời mua nớc ngoài không chỉ lựa chọn nhà cung
cấp mà còn mô tả chính xác chủng loại, màu sắc và phụ kiện mà doanh nghiệp trong
nớc phải mua. Thêm vào đó, những vấn đề liên quan đến quy mô sản xuất, giá cả và
thời hạn giao hàng cũng đợc ngời mua quy định trớc. Thờng phát sinh trờng hợp
doanh nghiệp trong nớc phải kê khai giá cả nguyên vật liệu do ngời mua quy định và
trong giá thành xuất khẩu của sản phẩm may mặc. Hình thức hợp đồng theo phơng
thức xuất khẩu này, cả rủi ro về sản xuất lẫn rủi ro về marketing đều do ngời mua nớc
ngoài gánh chịu.
* Loại 2: Doanh nghiệp trong nớc nhận mẫu hàng từ ngời mua nớc ngoài.
Dựa trên những mẫu này, họ sản xuất sản phẩm tơng tự, sử dụng nguyên vật liệu do
họ tự mua mà không có gợi ý hay cam kết gì của ngời mua từ trớc. Nếu mẫu tơng
của mình ra nớc ngoài.
Xuất khẩu theo phơng thức này có rất nhiều u điểm, trong đó những u điểm
nổi bật phải kể đến là:
- Những ngời trung gian thờng là những ngời hiểu biết rất rõ về thị trờng, luật
pháp và tập quán địa phơng. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc xuất khẩu hàng
may mặc, vì những tập quán, thói quen tiêu dùng có ảnh hởng rất lớn đến xu hớng
thời trang và phong cách ăn mặc. Do vậy, nó giúp cho các nhà kinh doanh trong lĩnh
vực này có thể tránh bớt đợc những rủi ro và đẩy mạnh hoạt động mua bán.
- Trung gian thờng là những ngời có vốn, có cơ sở vật chất, vì vậy việc sử
dụng những trung gian sẽ giúp cho những nhà kinh doanh trong lĩnh vực may
mặc đỡ phải đầu t vốn trực tiếp ra nớc ngoài. Đây là một u điểm lớn của hình thức
Hàn Lu Anh Th TM 42a
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
xuất khẩu này và rất phù hợp với các doanh nghiệp kinh doanh hàng may mặc
của nớc ta, khi điều kiện của các doanh nghiệp này còn hạn chế về vốn và thông
tin thị trờng.
- Những trung gian có thể thực hiện việc tuyên truyền, quảng cáo hộ các
nhà kinh doanh. Nhờ vậy, các nhà kinh doanh có thể giảm bớt đợc những chi phí
cho quảng cáo sản phẩm, những chi phí trong việc tập trung hàng hóa, lựa chọn,
phân loại, đóng gói hàng hoá... nhờ những dịch vụ của các trung gian.
Hình thức xuất khẩu này có khá nhiều u điểm và rất phù hợp với những
doanh nghiệp mới tham gia vào thị trờng cũng nh các doanh nghiệp kinh doanh
hàng may mặc của nớc ta trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, nó cũng tồn tại
khá nhiều nhợc điểm đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh hàng may mặc xuất
khẩu cần phải cân nhắc trớc khi quyết định lựa chọn hình thức kinh doanh phù
hợp với điều kiện của mình, những nhợc điểm đó là:
Nhà kinh doanh không đợc gặp trực tiếp đối tác, nên sẽ bị tách khỏi thị tr-
ờng, do vậy khó có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trờng và thờng phải đáp
đặt gia công) để chế biến thành thành phẩm rồi giao cho bên đặt gia công
và nhận thù lao (tiền phí gia công).
Xuất khẩu theo hình thức gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu đ-
ợc áp dụng phổ biến ở các quốc gia có lợi thế về nhân công nhng thiếu
nguồn nguyên vật liệu, thơng hiệu và uy tín về sản phẩm trên thị trờng
quốc tế cha có hoặc không phổ biến. Mặt khác, xuất khẩu theo phơng thức
này, bên nhận gia công có thể tiêu thụ đợc một số nguyên vật liệu phụ đi
kèm, có cơ hội tiếp cận với những công nghệ mới và học tập đợc những
kinh nghiệm quản lý.
Chính vì vậy, hình thức xuất khẩu này đợc áp dụng rất rộng rãi trong
các doanh nghiệp kinh doanh hàng may mặc Việt Nam. Cho tới nay, xuất
khẩu hàng may mặc theo phơng thức gia công quốc tế chiếm tới trên 60%
lợng hàng may mặc xuất khẩu của nớc ta, trong đó xuất khẩu vào EU theo
phơng thức này chiếm tới trên 80%.
Xuất khẩu theo phơng thức gia công có thể giúp cho bên đặt gia công
tranh thủ đợc nguồn lao động rẻ của nớc ngoài, nhờ đó có thể hạ đợc giá
thành sản phẩm và nâng cao đợc sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị tr-
ờng; mặt khác họ có thể dễ dàng thay đổi cơ cấu ngành nghề để có lợi cho
nớc mình.
Dựa vào các căn cứ khác nhau, có thể chia thành rất nhiều các hình
thức gia công, đó là:
* Theo quyền sở hữu nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất sản phẩm, có
các hình thức sau:
Hàn Lu Anh Th TM 42a
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
- Hình thức nhận nguyên phụ liệu, giao thành phẩm: Bên gia công chịu
trách nhiệm bảo đảm toàn bộ nguyên phụ liệu cho bên nhận gia công, bên nhận
gia công chỉ phải lo tổ chức sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công. Quyền sở
1.2.6. Buôn bán đối lu
Buôn bán đối lu là phơng thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt
chẽ với nhập khẩu, ngời bán đồng thời cũng là ngời mua, lợng hàng hoá, dịch vụ
trao đổi thờng có giá trị tơng đơng.
Mục đích của việc xuất khẩu theo hình thức này không phải nhằm thu về
một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một lợng hàng có giá trị tơng đơng giá trị của
lô hàng đã xuất. Xuất khẩu theo hình thức này cần quan tâm đến những sự cân
bằng về mặt hàng, cân bằng về giá cả, cân bằng về tổng giá trị hàng hóa và cân
bằng về điều kiện cơ sở giao hàng.
Hình thức xuất khẩu này trớc đây đợc áp dụng khá phổ biến, song ngày
nay, do điều kiện thơng mại quốc tế phát triển nên nó đã trở nên ít đợc áp dụng,
đặc biệt là trong việc xuất khẩu các sản phẩm may mặc.
1.3. Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng may mặc
Xuất khẩu hàng may mặc là một hoạt động rất phức tạp, đòi hỏi phải đợc
thực hiện theo một quy trình kinh doanh tổng hợp và chịu sự ảnh hởng của nhiều
nhân tố khác nhau. Quy trình kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc phải đợc thực
hiện theo từng bớc, các bớc này có quan hệ mật thiết và không thể tách rời nhau.
Quy trình này thờng đợc tiến hành theo các bớc sau:
1.3.1. Nghiên cứu, tiếp cận thị trờng hàng may mặc
Vấn đề nghiên cứu thị trờng là việc làm đầu tiên và hết sức quan
trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh hàng may mặc nào khi
muốn tiếp cận với thị trờng thế giới. Nghiên cứu thị trờng trong kinh doanh
hàng may mặc có nghĩa là việc điều tra, tìm hiểu thị trờng để tìm triển vọng
bán hàng cho sản phẩm may mặc và phơng pháp tiếp cận thị trờng để thực
hiện mục tiêu bán hàng. Quá trình nghiên cứu thị trờng trong kinh doanh
hàng may mặc thực chất là quá trình thu thập các thông tin, số liệu về thị tr-
ờng, từ đó so sánh, phân tích những số liệu đó và rút ra kết luận.Việc nghiên
cứu thị trờng đợc thực hiện tốt sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hàng may
mặc đa ra đợc những quyết định đúng đắn để lập kế hoạch marketing.
Hàn Lu Anh Th TM 42a
động của cầu trong từng thời điểm. Thông qua những thông tin về dung lợng
thị trờng, các nhà kinh doanh có thể xác định đợc lợng sản phẩm để
sản xuất
và bán ra trên thị trờng dó cho kịp với thời vụ, đảm bảo cho việc xuất khẩu có
hiệu quả.
Hàn Lu Anh Th TM 42a
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
b. Phân tích thông tin về thị tr ờng xuất khẩu
Trên cơ sở các thông tin về thị trờng đã thu thập đợc, các doanh nghiệp
kinh doanh hàng may mặc cần phải phân tích các thông tin đó một cách đầy đủ
và chính xác để đa ra những quyết định kinh doanh phù hợp. Các thông tin mà
doanh nghiệp cần phân tích là:
* Phân tích thông tin về môi trờng xuất khẩu
Môi trờng xuất khẩu có tác động liên tục đến hoạt động xuất khẩu của
các doanh nghiệp theo những xu hớng khác nhau, những yếu tố về môi trờng xuất
khẩu vừa tạo điều kiện thuận lợi, nhng cũng gây ra không ít những khó khăn cho
các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trờng đó. Những thông tin về môi trờng mà
các doanh nghiệp cần phân tích là những thông tin về môi trờng kinh tế, môi tr-
ờng văn hoá, chính trị, luật pháp, môi trờng cạnh tranh để có những chiến l ợc
kinh doanh phù hợp trên thị trờng này.
* Phân tích thông tin về giá cả hàng hoá
Giá cả hàng hóa trên thế giới là một yếu tố rất quan trọng đối với bất kỳ
một doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nào. Đây là một công cụ cạnh tranh hữu
hiệu đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh hàng may mặc trên thế giới. Thông tin
về giá cả hàng hoá nếu bị sai lệch sẽ gây ra những tổn thất rất lớn cho các doanh
nghiệp. Vì vậy, những thông tin này cần phải đợc cập nhật và phân tích một cách
chính xác để các doanh nghiệp có thể đa ra một chiến lợc giá phù hợp.
* Phân tích thông tin về nhu cầu thị trờng
Có nhiều cách để lựa chọn đối tác giao dịch để xuất khẩu, nhng cách tốt
nhất là nên chọn những ngời nhập khẩu trực tiếp, hạn chế hoạt động trung gian để
giảm bớt những chi phí không cần thiết và có điều kiện quảng bá thơng hiệu sản
phẩm của Công ty mình trên thị trờng nớc ngoài. Kinh doanh trong lĩnh vực may
mặc thì việc lựa chọn các đối tác trực tiếp càng trở nên có hiệu quả hơn.
Sau khi tìm kiếm đợc đối tác và lựa chọn đợc mặt hàng kinh doanh cũng
nh một số nghiệp vụ khác thì giai đoạn đầu tiên của công tác nghiên cứu thị trờng
lúc này có thể tạm thời chấm dứt.
1.3.2. Công tác xúc tiến xuất khẩu hàng may mặc
Sau giai đoạn nghiên cứu tiếp cận thị trờng và tìm kiếm đợc bạn hàng
kinh doanh, các doanh nghiệp cần tiến hành việc xúc tiến xuất khẩu để chuẩn bị
giao dịch xuất khẩu.
Có nhiều phơng tiện khác nhau để thực hiện việc xúc tiến xuất khẩu, nh-
ng phơng tiện hữu hiệu nhất để xúc tiến xuất khẩu trên thị trờng nớc ngoài là
quảng cáo.
Quảng cáo là sự tuyên truyền, giới thiệu về hàng hoá và dịch vụ nhằm
gây sự chú ý của những khách hàng tiềm năng, gây sự thích thú cho họ để họ trở
Hàn Lu Anh Th TM 42a
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
thành khách hàng thực tế của doanh nghiệp. Quảng cáo giúp cho khách hàng biết
đến sản phẩm và nhãn hiệu của doanh nghiệp, từ đó việc xuất khẩu sản phẩm
sang thị trờng này đạt đợc hiệu quả cao hơn. Đây là bớc quan trọng với hoạt động
kinh doanh xuất khẩu, đặc biệt đối với các thị trờng khó tính, quan tâm nhiều đến
tên tuổi, uy tín và nhãn hiệu hàng hoá.
Xúc tiến xuất khẩu mở ra cơ hội cho hàng may mặc của Việt Nam tham
gia vào thị trờng nớc ngoài, xúc tiến xuất khẩu không chỉ giúp khách hàng biết
đến hàng hoá của Việt Nam mà còn giúp các doanh nghiệp kinh doanh hàng may
mặc Việt Nam nắm bắt đợc thông tin về thị trờng, chủ động tìm kiếm bạn hàng
Bớc 2: Hoàn giá (mặc cả): trong trờng hợp ngời nhận nhận đợc đơn chào
hàng nhng không chấp nhận hoàn toàn với những điều kiện đã đợc đa ra mà họ đa
ra một lời đề nghị mới thì đề nghị mới này đợc gọi là hoàn giá. Khi có hoàn giá,
chào hàng trớc coi nh không còn hiệu lực.
Bớc 3: Chấp nhận giá: là sự đồng ý hoàn toàn với mọi điều kiện có liên
quan đến việc mua bán hàng hóa. Đến giai đoạn này, về cơ bản gần nh việc thoả
thuận mua bán giữa hai bên đã thực hiện xong.
Bớc 4: Xác nhận giá: là sự khẳng định những điều mà hai bên đã thỏa
thuận để phân biệt với những điều kiện mua bán đợc đa ra ban đầu. Việc xác
nhận giá phải đợc thể hiện bằng văn bản.
1.3.5. Công tác ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng may mặc
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn đến việc ký kết hợp đồng.
Hợp đồng trong buôn bán quốc tế là văn bản trong đó ghi rõ các điều khoản hai
bên đã thoả thuận, có chữ ký và con dấu của hai bên, thể hiện đầy đủ quyền hạn,
nghĩa vụ cụ thể của các bên tham gia ký kết. Hợp đồng trong kinh doanh thơng
mại quốc tế là rất cần thiết bởi các nớc khác nhau có sự khác biệt về ngôn ngữ,
chính trị, văn hoá, tôn giáo, tập quán và hợp đồng chính là sự biểu hiện cho sự
thoả thuận đã đi đến thống nhất.
Việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu phụ thuộc vào các điều khoản đã thỏa
thuận trong hợp đồng đã ký kết giữa các bên, đặc biệt là các điều khoản về hình
thức hợp đồng và cách thức giao hàng. Việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu thông
thờng tiến hành qua các bớc sau:
1.3.6. Đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu
Hàn Lu Anh Th TM 42a
19
Ký kết
HĐXK
Kiểm
nghiệm
hàng hoá
nó cho phép doanh nghiệp đánh giá đợc hiệu quả của của một hợp đồng xuất
khẩu. Qua việc đánh giá hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ biết đợc những
mặt làm đợc và cha làm đợc của mình, từ đó rút ra đợc u và nhợc điểm để kịp
thời sửa chữa những khiếm khuyết và phát huy những u điểm.
Chính vì vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu đối với các
doanh nghiệp kinh doanh hàng may mặc càng trở nên quan trọng, vì thông qua
đó, các doanh nghiệp có thể rút ra đợc những kinh nghiệm kinh doanh và lựa
chọn cho mình phơng thức xuất khẩu phù hợp.
1.4. Các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu hàng may
mặc Việt Nam sang thị trờng EU
Kinh doanh trên thị trờng quốc tế đòi hỏi các donah nghiệp phải luôn
nhạy bén và thờng xuyên nắm bắt đợc những nhân tố tác động đến hoạt động
xuất khẩu cũng nh đến hàng hoá mà mình kinh doanh.
Hàng may mặc, nh đã nói ở trên, là một mặt hàng nhạy cảm và có nhu
cầu luôn biến động. Hơn nữa, kinh doanh trên thị trờng EU - một thị trờng khó
tính thì việc nghiên cứu các nhân tố tác động đóng một vai trò quan trọng
trong hoạt động xuất khẩu mặt hàng này. Nhóm những nhân tố tác động đến
việc xuất khẩu hàng may mặc của nớc ta sang thị trờng EU là:
1.4.1. Các nhân tố khách quan
Nhóm các nhân tố khách quan kể ra ở đây là những yếu tố thuộc về môi tr-
ờng kinh doanh quốc tế. Nhóm các nhân tố này có ảnh hởng rất lớn và có tính
chất quyết định đến hoạt động xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam thông qua các
tác động của chúng về tiềm năng thị trờng ở mọi thời điểm với định hớng hiện
thực hoá thị trờng. Các nhân tố phải kể đến là:
1.4.1.1. Nhân tố về xu hớng phát triển thị trờng hàng may mặc thế giới
Hàn Lu Anh Th TM 42a
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Trên thế giới, việc sản xuất hàng may mặc đang có xu hớng tiếp tục
Mặt khác, theo Hiệp định ATC/WTO, bắt đầu từ năm 2005, các nớc phát
triển sẽ bỏ hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt và may mặc cho các nớc là thành viên của
Hàn Lu Anh Th TM 42a
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
WTO. Điều này khiến cho việc nỗ lực gia nhập WTO là việc làm cần thiết của Việt
Nam hiện nay để đợc hởng những u đãi trong việc xuất khẩu hàng may mặc sang thị
trờng EU, tăng khả năng cạnh tranh với các nớc trong khu vực có tiềm năng xuất
khẩu hàng may mặc.
1.4.1.3. Nhân tố các đối thủ cạnh tranh
Những đối thủ cạnh tranh gần gũi nhất trên thị trờng EU của hàng may mặc
Việt Nam phải kể đến là các nớc thành viên khác của Asean, đặc biệt là 6 nớc thành
viên cũ. Các nớc này vốn có những điều kiện thuận lợi hơn Việt Nam rất nhiều trong
việc sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc; những điều kiện thuận lợi đó là họ sẵn có
thị trờng tiêu thụ, chi phí sản xuất và giá nhân công không cao và những điều kiện
khác phục vụ sản xuất có u thế hơn nớc ta. Đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ khu vực năm 1997, đồng tiền bản địa mất giá đã khiến cho cá sản phẩm
may mặc của nớc ta trở nên đắt hơn do chi phí nhân công của ta tăng lên so với các
nớc khác trong khu vực.
Một điều kiện thuận lợi khác là các nớc này hầu hết đã tự túc đợc những
nguyên phụ liệu có chất lợng cao phục vụ sản xuất hàng may mặc xuất khẩu nên giá
thành sản phẩm của họ càng đợc giảm tơng đối.
Hơn nữa, hàng may mặc của các nớc Asean đã tạo dựng đợc nhiều nhãn hiệu
quen thuộc, có uy tín trên thị trờng EUvà thế giới. Hầu hết uy tín của các nớc này đ-
ợc tạo ra nhờ sản phẩm có chất lợng cao, thời gian giao hàng đúng hẹn, giá cả cạnh
tranh.
Một đối thủ cạnh tranh rất lớn khác đối với hàng may mặc Việt Nam là Trung
Quốc. Trung Quốc đợc coi là một trong những nớc có lợi thế cạnh tranh lớn nhất về
hàng may mặc trên thế giới. So với Việt Nam, giá cả lao động trong ngành may mặc
Với EU, Việt Nam không chỉ là bạn hàng quan trọng trong quan hệ kinh tế
quốc tế mà với vị trí địa lý, chính trị và những tiềm năng to lớn về tài nguyên, con
ngời, kinh tế, văn hoá, Việt Nam còn là cửa ngõ quan trọng giúp EU mở rộng
mối quan hệ với các nớc Asean.
Cho tới nay, quan hệ giữa Việt Nam EU đã có một quá trình phát triển
trên 13 năm kể từ khi thiết lập mối quan hệ ngoại giao chính thức ngày 22 tháng
10 năm 1990.
Sau khi mối quan hệ ngoại giao này đợc thiết lập, Việt Nam và EU luôn
coi trọng mối quan hệ hợp tác này. Hiệp định khung về hợp tác đợc ký kết ngày
17/7/1995 tại Brusels và việc nỗ lực trong triển khai thực hiện có thể coi là bằng
chứng và là nền tảng thúc đẩy mối quan hệ trên tất cả các lĩnh vực phát triển, mở
ra một giai đoạn hợp tác toàn diện và có hiệu quả giữa hai bên.
Hàn Lu Anh Th TM 42a
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoa Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Tiếp theo sự khởi đầu tốt đẹp đó, quan hệ thơng mại hai bên đã có những
bớc tiến triển đáng khích lệ: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng
trung bình 37,6%/năm thời kỳ 1990 2000. Nếu năm 1990, Việt Nam mới xuất
khẩu đợc 147 triệu USD thì đến năm 2000 đã đạt 2875,7 triệu USD; năm 2002 là
3149,9 triệu USD tăng 4,9%; năm 2003 là 3.796,2 triệu USD, Chiếm 19% tổng
kim ngạch xuất khẩu của cả nớc. Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ EU
trong những năm gần đây cũng tăng đáng kể: Năm 1999 là 1052,8 triệu USD;
Năm 2000 là 1302,6 triệu USD, tăng 23.7% so với năm 1999; Năm 2001 là
1527,4 triệu USD, tăng 17,2% so với năm 2000; Năm 2002 là 1842,1 triệu USD,
tăng 20,5% so với năm 2001.
Đến nay, Việt Nam đã mở rộng mối quan hệ với tất cả các nớc EU, đặc
biệt là Đức, Anh, Pháp, Hà Lan với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là hàng may
mặc, giày dép, thuỷ sản, nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ..
Ngày 1/5/2004, 10 quốc gia thuộc Trung Đông và Ba Lan chính thức trở
khuôn khổ pháp lý giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng cờng xuất khẩu vào
EU.
Nội dung của hiệp định này chủ yếu đề cập đến chế độ áp dụng cho buôn bán
hàng may mặc xuất từ Việt Nam sang EU, nh các quy định về phơng thức xuất nhập
khẩu các mặt hàng theo hạn ngạch của các bên. Việc xếp loại các mặt hàng đợc căn
cứ trên cơ sở biểu thuế thống kê của EU. Theo nh hiệp định này, hạn ngạch về hàng
may mặc Việt Nam xuất khẩu sang EU đợc tăng lên đáng kể so với hiệp định đợc ký
kết năm 1992: tăng hạn ngạch ở 23 Cat nóng từ 20% đến 25%, giảm số Cat có hạn
ngạch từ 105 xuống còn 54.
Hiệp định khung năm 1995 đợc ký kết đã tạo ra một cơ hội mới thúc đẩy
hàng may mặc Việt Nam phát triển với tốc độ nhanh hơn trớc. Việt Nam đợc tự do
chuyển đổi Quota giữa các mặt hàng một cách rộng rãi hơn và dễ dàng hơn, đồng
thời EU cũng dành cho phía Việt Nam đợc hởng quy chế tối huệ quốc trọn vẹn.
Hiệp định buôn bán hàng may mặc Việt Nam EU giai đoạn 1998 2000
đợc ký kết tháng 11/1997 cho phép nâng hạn ngạch may mặc từ Việt Nam sang
EU tăng 40% so với giai đoạn 1993 1997 với mức tăng tr ởng 3-6%/năm.
Nh vậy, đến Hiệp định này, EU đã nâng mức tăng trởng hạn ngạch từng năm
từ 1,5-2,5% thời gian trớc đó lên 3-6%/năm . Quan trọng hơn, EU đã giảm bớt các
mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch từ 54 Cat xuống còn 29 Cat, trong đó có 13 Cat
tăng từ 36-116%. Hiệp định mới này đã đa 25 loại hàng ra khỏi danh mục quản lý
bằng hạn ngạch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu tự do các mặt hàng này
vào EU.
Tháng 3 năm 2000, Việt Nam đã ký kết với EU Hiệp định song phơng về
hàng may mặc và giày dép, theo đó EU sẽ tăng hạn ngạch hàng may mặc của Việt
Nam xuất khẩu vào thị trờng này lên 27%. Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực từ
15-06-2000 và kéo dài đến hết năm 2002.
Hàn Lu Anh Th TM 42a
25