ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ II
BỘ MÔN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
LỚP K49D (2010-2011)
ĐỀ TÀI
GV
HƯỚNG DẪN: PGS.TS. Phạm Đình Nghiệm
NHÓM NGHIÊN CỨU 16:
1. Nguyễn Thị Kim Cương (7032)
2. Lê Thị Thiên Lý (7141)
3. Nguyễn Thị Hằng Nga (7162)
4. Nguyễn Kim Hằng (7071)
5. Bùi Ngọc Loan Anh (7404)
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………………….3
LỜI CÁM ƠN……………………………………………………………………………… 3
A. LÝ DO NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
B. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
C. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU…………………………………………………………….3
D. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, KINH PHÍ NGHIÊN CỨU…………………………… 4
E. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……………………………………………………….4
F. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI…………………………………4
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………….…6
A. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KỸ NĂNG MỀM………………………………………….6
I. Giới thiệu chung về kỹ
năng…………………………………………………………….6
1. Khái niệm kỹ năng……………………………………………………………………… 6
2. Phân loại kỹ năng………………………………………………………………………….6
II. Phân loại kỹ năng
mềm………………………………………………………………….7
B. SỰ QUAN TÂM ĐỐI VỚI KỸ NĂNG MỀM………………………………………….7
5. Phương pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử…………………………………….31
3
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
PHẦN KẾT LUẬN…………………………………………………………… 34
A. Tổng kết…………………………………………………………………………………34
B. Phương hướng giải quyết………………………………………………………………34
I. Học qua trung tâm………………………………………………………………………34
II. Tự học…………………………………………………………………………………….34
PHẦN PHỤ LỤC……………………………………………………………………….36
A. Mẫu bảng hỏi………………………………………………………………………… 36
B. Các trung tâm………………………………………………………………………… 38
I. Trung tâm KDI…………………………………………………………………………… 38
1. Đôi nét về KDI……………………………………………………………………………38
2. Các khóa đào tạo kỹ năng mềm…………………………………………………………38
II. Trung tâm NTG - NEW THINKING GROUP……………………………………………40
1. Đôi nét về NTG………………………………………………………………………… 40
2. Các khóa đào tạo kỹ năng mềm………………………………………… 41
III. Nhà văn hóa Thanh niên……………………………………………………………………43
1. Đôi nét về nhà văn hóa thanh niên…………………………………………………… 43
2. Các khóa học về kỹ năng mềm………………………………………………….………43
C. Một số sách và diễn đàn tham khảo………………………………………………… 45
I. Sách “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế”………………………………………………………… 45
1. Nội dung…………………………………… …………………… ………………45
2. Mục lục………………………………………………………… ……………… 46
II. Sách “Đắc nhân tâm” ………………………………………………………………………46
1. Nội dung……………………………………………………………………………46
2. Mục lục…………………………………………………………………………….47
III. Sách “Sức mạnh của sự tập trung”……………………………………………………… 47
1. Nội dung……………………………………………………………………………47
2. Mục lục…………………………………………………………………………….48
đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới
là những thứ thường không được học trong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không
thể sờ nắm, không phải là kỹ năng cá tính đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người. Chính
các kỹ năng này quyết định bạn sẽ làm việc thế nào, ảnh hưởng rất lớn tới hiệu suất công việc; và hơn thế
nữa, khẳng định bạn là người thành công trong cuộc sống.
Chính vì những lẽ trên, chúng tôi quyết định chọn đề: “Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Đại học
Ngoại thương cơ sở II”
B. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Giới thiệu cho SV Ngoại Thương cái nhìn tổng quan về kiến thức kỹ năng mềm và tầm quan trọng
của chúng trong công tác học tập, nghiên cứu cũng như trong cuộc sống.
Giúp cho sinh viên Đai học Ngoại thương tự tìm thấy các phương pháp học tập và rèn luyện kỹ năng
mềm phù hợp và hiệu quả trong điều kiện thực tế của bản thân và xã hội.
C. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đưa ra được khái niệm kỹ năng mềm
Dựa vào thực tế, trình bày và khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng mềm trong công tác học tập,
nghiên cứu cũng như trong cuộc sống.
Khảo sát về cách nhìn nhận của đa số SV Ngoại thương trong vấn đề tự trang bị cho mình những kỹ
năng mềm. Liên hệ với SV một số trường khác.
5
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
Đưa ra thông tin chi tiết về cách tiếp cận phù hợp những kỹ năng này dành cho SV Ngoại Thương:
các phương pháp để sinh viên tự học tâp và rèn luyện kỹ năng mềm; cung cấp cho sinh viên những
địa chỉ đáng tin cậy trong việc đào tạo và rèn luyện kỹ năng mềm như các tổ chức, clb, đội nhóm,…
D. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, KINH PHÍ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: sinh viên Đại học Ngoại thương cơ sở II – TP.HCM
Thời gian nghiên cứu: từ 6/10 tới 4/12/10
Kinh phí: 300 000 VND
E. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thu thập dữ liệu từ bảng hỏi:
- Tiến hành phát 280 phiếu khảo sát trong phạm vi các lớp thuộc Hệ chính quy Đại học Ngoại
2. Có tinh thần đồng đội, hòa đồng với tập thể; 3. Giao tiếp hiệu quả; 4. Tự tin; 5. Mài dũa kỹ năng sáng tạo;
6. Chấp nhận và học hỏi từ những lời phê bình; 7. Thúc đẩy bản thân và dẫn dắt người khác; 8. Đa nhiệm vụ
và xác định trước những việc cần làm; 9. Có cái nhìn tổng quan.
Bên cạnh việc đề cập một cách khái quát về kỹ năng mềm thì một số bài viết còn đi sâu phân tích tầm quan
trọng của kỹ năng mềm đối với một số lĩnh vực cụ thể, như bài viết “ Kỹ năng mềm cần thiết hay không cho
dân IT” tại trang web />khong-cho-dan-it.aspx. Bài viết đã nêu bật được tầm quan trọng của “kỹ năng mềm” ngay cả trong những
lĩnh vực được xem là chỉ yêu cầu cao về “kỹ năng cứng”.
Báo mạng Tin mới đã nêu lên thực trạng thiếu hụt kỹ năng mềm của sinh viên các trường đại học trong khối
nghành kinh tế nói chung và đại học Ngoại thương nói riêng. Thêm vào đó, bài viết còn nhấn mạnh sự cần
thiết của kỹ năng này trong lĩnh vực marketing.
Không chỉ được quan tâm tại Việt Nam mà ngay tại các quốc gia có trình độ phát triển cao như Mỹ, Anh,
Úc, “kỹ năng mềm” cũng thu hút được nhiều sự chú ý. Bên cạnh việc đề cao các kỹ năng này, các quốc gia
ấy đã xây dựng những chiến lược nhằm nâng cao những kỹ năng này cho người dân như:
Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyện các Kỹ năng Cần thiết (The
Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills - SCANS). Thành viên của ủy ban này đến
từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức…
nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao”.
( /> Chính phủ Anh cũng có cơ quan chuyên trách về phát triển kỹ năng cho người lao động. Bộ Đổi
mới, Đại học và Kỹ năng được chính chủ thành lập từ ngày 28/6/2007, đến tháng 6/2009 thì được
ghép với Bộ Kinh tế, Doanh nghiệp và Đổi mới Pháp chế để tạo nên bộ mới là Bộ Kinh tế, Đổi mới
và Kỹ năng. Bộ này chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, một
phần của giáo dục nâng cao, kỹ năng, khoa học và đổi mới. ( /> Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) và Phòng thương mại
và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của
Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education, Science and Training - DEST) và
Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản
cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002) trong đó những kỹ năng mềm được đưa lên
hàng đầu. Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc
phải có. Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được
việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp
hành có tính chất kỹ thuật nghề nghiệp. Đối với các kỹ năng cứng, khả năng tự tìm hiểu toàn
bộ gần như không thể, mà người ta bắt buộc phải trải qua những giai đoạn có xây dựng tính
hệ thống của tư duy lô-gich và dựa trên "vai các nhà khổng lồ."
b. Kỹ năng mềm
Kỹ năng mềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người
như: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thư
giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới Kỹ năng mềm chủ yếu là những kỹ năng
thuộc về tính cách con người, không mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải
là kỹ năng cá tính đặc biệt, chúng quyết định khả năng bạn có thể trở thành nhà lãnh đạo,
thính giả, nhà thương thuyết hay người hòa giải xung đột.
II. Phân loại kỹ năng mềm
1
Từ điển bách khoa toàn thư
8
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
Theo Bộ Lao động Mỹ (The U.S. Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The
American Society of Training and Development) gần đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ
năng cơ bản trong công việc. Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công
trong công việc:
1. Kỹ năng học và tự học
2. Kỹ năng lắng nghe
3. Kỹ năng thuyết trình
4. Kỹ năng giải quyết vấn đề
5. Kỹ năng tư duy sáng tạo
6. Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn
7. Kỹ năng đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc
8. Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp
9. Kỹ năng giao tiếp và ứng xử
10. Kỹ năng làm việc nhóm
11. Kỹ năng đàm phán
động lực để rèn luyện kỹ năng mềm. Hơn thế các sinh viên Đại học Ngoại thương đã có ý thức rèn luyện
kỹ năng mềm một các chủ động được thể hiện ở bảng sau:Khối lớp
K46 K47 K48 K49
Mua sách về đọc, tự luyện tập theo hướng dẫn 12 15 8 7
Học qua thực tế là thông qua các buổi làm việc
nhóm, thuyết trình, văn nghệ
48 41 40 39
Tham gia các câu lạc bộ, diễn đàn 18 16 16 10
Tham gia các hội thảo của chuyên gia 10 9 7 4
Đi học tại trung tâm 8 6 5 3
Tổng cộng 55 49 49 44
Bảng 3
Tuy có ý thức rèn luyện nhưng đa số sinh viên (chiếm 85.3%) chỉ tự học thông qua thực tế (các buổi làm
việc nhóm, thuyết trình, văn nghệ, ). Trong khi đó, số lượng đi học bài bản tại trung tâm là quá ít chỉ
chiếm 11.2%. Còn lại là các hình thức tự rèn luyện khác.
Ngoài ra, ta còn thấy được có sự tăng tiến về mức độ quan tâm rèn luyện kỹ năng mềm của sinh viên từ
K49 – K46. Trong đó, càng lên lớp trên, sinh viên rèn luyện kỹ năng mềm nhiều hơn, nhiều nhất là K46.
Như vậy, ta thấy càng trưởng thành sinh viên càng hiểu được tầm quan trọng của kỹ năng mềm.
10
Đơn vị %
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
C. MỘT SỐ KỸ NĂNG MỀM CẦN THIẾT
I. Kỹ năng học và tự học
1. Hiện trạng
Có
(%)
Không
sinh viên Ngoại thương.
11
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
2. Giới thiệu chung
Từ khi bước vào giảng đường đại học, sinh viên được tiếp cận với những phương pháp học tập
mới, có nhiều khác lạ so với những phương pháp học ở phổ thông. Để có được hiệu quả, sinh
viên phải tự học nhiều hơn. Như ở trường đại học Ngoại thương, với một tín chỉ (gồm 15 tiết, 1
tiết 50 phút), sinh viên cần có ít nhất 30 tiếng để tự học tại nhà. Nhưng học và tự học như thế nào
là đúng cách vẫn còn là điều băn khoăn của nhiều sinh viên.
Để đạt kết quả tốt trong tự học, người tự học cần nắm vững những kỹ năng và phải rèn luyện để
hình thành cho mình những kỹ năng. Căn cứ vào chức năng của từng loại hoạt động có thể chia
kỹ năng tự học làm bốn nhóm.
Thứ nhất: Kỹ năng lập kế hoạch cho việc tự học
Các nguyên tắc quan trọng cần phải thực hiện như sau:
- Đảm bảo thời gian tự học tương xứng với lượng thông tin của môn học
- Xen kẽ hợp lý giữa các hình thức tự học, giữa các môn học, giữa giờ tự học, giờ nghỉ ngơi
- Thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự học như biết cách làm việc độc lập, biết tự kiểm tra, đánh
giá.
Thứ hai: Kỹ năng ghi chép
Quy trình gồm các khâu:
- Trước khi đến lớp, ôn bài cũ, làm quen với bài sắp học, hình dung các câu hỏi đối với bài
mới.
- Khi nghe giảng cần tập trung theo dõi sự dẫn dắt của thầy, liên hệ với kiến thức đang nghe,
kiến thức đã có với các câu hỏi đã hình dung trước và ghi chép một cách chọn lọc, sử dụng kí
hiệu riêng, ghi cả chính đề lẫn phản đề, ghi thắc mắc của chính mình.
Thứ ba: Kỹ năng ôn tập (gồm kỹ năng ôn bài và kỹ năng tập luyện)
Ôn lại bài bao gồm:
- Xem lại bài ghi, mối quan hệ giữa các đoạn rời rạc nhằm tái hiện lại bài giảng.
- Bổ sung bài ghi bằng những thông tin nghiên cứu được ở các tài liệu khác, nhận diện
cấu trúc từng phần và toàn bài
- phân chia thời gian cân đối cho tất cả các việc, trong đó cần ưu tiên cho việc học,
đảm bảo ít nhất 30 giờ mỗi tuần để tự học.
- xếp thời gian học cụ thể, rõ ràng cho mỗi môn học, trong đó ưu tiên cho các môn
học cần thiết, quan trọng và yêu thích nhất; xen kẽ bằng những môn học chưa
quan trọng, ít tốn thời gian hơn.
iii. Học ở đâu
Chúng ta có thể học ở bất kỳ nơi nào: thư viện, phòng đọc sách, phòng riêng là tốt nhất.
Điều quan trọng là nơi đó không làm phân tán sự tập trung của chúng ta.
iv. Học khi nào
Nên học lúc chúng ta thoải mái, minh mẫn, vào đúng khoảng thời gian đã lên kế hoạch để
học. Nguyên tắc là không học trong vòng 30 phút sau khi ăn, và trước khi đi ngủ, không
học ngốn vào giờ chót trước khi đến lớp.
v. Học cho giờ lý thuyết
Khi chuẩn bị bài cho giờ lên lớp, cần đọc trước tất cả những tài liệu và ghi chú thích
những điểm chưa hiểu. Sau giờ lên lớp, cần chú ý xem lại những thông tin ghi chép được.
vi. Học cho giờ cần phát biểu, trả bài
Ngay trước các giờ học, luyện tập kỹ năng phát biểu với các học viên khác (nếu cần).
vii. Sửa đổi kế hoạch học tập
Kế hoạch là cách để dự tính sẽ dùng quỹ thời gian như thế nào, cho nên một khi kế hoạch
không hiệu quả, ta có thể sửa đổi nó vì việc lập kế hoạch là giúp ta có thói quen học tốt
hơn và khi đó việc lập kế hoạch sẽ trở nên dễ dàng hơn.
viii. Rèn Luyện Kỹ năng ghi bài
Nếu chỉ nghe thầy cô giảng, bạn bè nói về môn học, ta chỉ nhớ được khoảng 20% kiến
thức, và chỉ đạt được tối đa là 3-4 điểm. Nếu ta quan sát thầy cô giảng bài, quan sát các
13
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
bạn học tập, phát biểu, chữa bài tập, bạn sẽ nhớ được nhiều hơn, bạn sẽ đạt được khoảng
5-6 điểm. Nếu ta chép lại các kiến thức trọng tâm của bài học, tự mình làm lại các bài tập
đã chữa và các dạng bài tương tự, ta sẽ nhớ được khoảng 80% kiến thức bài học và nhận
Để giảm lượng kiến thức ghi chép mà vẫn nắm bắt được bài học, ta có thể dùng bút dạ
quang đánh dấu những phần quan trọng trong sách.
b. Rèn luyện Kỹ năng ôn tập (bao gồm cả ôn bài và luyện tập)
i. Ôn bài
Ôn bài giúp hoàn chỉnh việc tổ chức tư liệu học trong tư duy của mình và đưa vào bộ
nhớ. Ôn lại để đánh giá xem mình đã đựợc gì sau quá trình học tập. Ôn lại những gì đã
ghi chép sau buổi học hay trước khi đi ngủ sẽ giúp nhớ bài tốt hơn. Sau 9 tuần, những
sinh viên xem lại bài trong ngày còn nhớ 75% bài, những sinh viên không làm điều đó
không nhớ đến 50% sau một ngày và ít hơn 25% sau 9 tuần. Trong lúc ôn tập nên xem
14
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
lại những điều ghi chép để làm sáng tỏ những điểm bị bỏ sót hay chưa hiểu. Quá trình
ôn tập thường diễn ra trong 1 khoảng thời gian dài, không nên chờ đến trước ngày thi
mới ôn lại mà ôn lại trước ngày thi là lần ôn tập sau cùng.
ii. Luyện tập
Để luyện tập hiệu quả nên sử dụng nhiều phương pháp học tập như đọc bài, ghi chép,
làm bài tập, học nhóm …Sau khi làm các bài tập chuyên sâu, cơ bản, ta cần tham khảo
các dạng mở rộng, tổng quát. Làm bài tập nhiều sẽ tạo thành thói quen phản xạ, chuẩn
bị tốt kĩ năng làm bài lẫn tâm lý trước khi thi. Phương pháp học tùy theo người học, và
cũng tùy theo môn học.
b. Rèn luyện Kỹ năng đọc sách
“Trước tiên, bạn nên cẩn thận với “bẫy biết tuốt” trong quá trình đọc sách. Bởi lẽ, câu chữ,
lập luận của sách thường rất logic, rõ ràng, không ít khi ta tưởng mình đã hiểu nhưng thực ra
mình không hiểu gì cả hoặc hiểu sai hoàn toàn.
Để tránh bẫy này, bạn cần phải vượt qua được vỏ bọc bên ngoài của câu chữ, ngôn ngữ để
tìm và hiểu được nội dung bên trong, cái hồn, cái thần của sách. Cái này không phải dễ làm.
Bởi vì tất cả chúng ta đều có xu hướng tìm kiếm điều mình cần, mình thích và từ chối những
điều trái mong đợi của mình. Nên nếu ngôn ngữ, vỏ bọc của sách hợp với mình thì mình
ngấu nghiến ngay và hiểu theo “cách của mình” và bỏ qua những “viên ngọc” còn giấu bên
trong. Ngược lại, câu chữ, vỏ bọc của sách trái ý mình thì mình bỏ đi, không đọc nữa, thậm
14.6% tổng số lựa chọn; “mất nhiều thời gian” chiếm 15.6%; “không dám bác bỏ ý kiến người
khác” 9.7% và “không hiệu quả bằng làm việc cá nhân” 9.1%.
Nhìn chung, đây là một hiện trạng đáng lo ngại vì, tuy sinh viên Ngoại thương là những người có
năng lực, nhưng nếu cứ tiếp tục mắc phải những khó khăn do tâm lý chủ quan, thái độ chưa thật
tích cực của mỗi cá nhân thì làm việc sẽ không đạt hiệu quả cao. Chính vì thế, chúng tôi mong
muốn giới thiệu một cách nhìn tổng quát về kỹ năng làm việc nhóm sao cho hiệu quả.
2. Giới thiệu chung
a. Bản chất của làm việc nhóm
Làm việc nhóm là tập hợp hai hoặc nhiều người tạo thành một nhóm để hoàn thành mục tiêu
nhất định, dựa trên những nguyên tắc chính là “độc lập, tương tác và ảnh hưởng qua lại lẫn
nhau”
3
. Trong đó, “mỗi thành viên nhận thức bản thân họ như một thực thể xã hội, chịu
trách nhiệm qua lại lẫn nhau để đạt mục tiêu chung”
4
.
Khái niệm làm việc theo nhóm (Teamwork) được cấu thành bởi 3 yếu tố:
- “Chia sẻ mục tiêu
- Cùng hợp tác hướng về mục tiêu chung
- Phát huy vai trò của từng thành viên trong nhóm”
5
3
Trang www.kynang.edu.vn
4
Trang www.kynang.edu.vn
5
Trang www.kynang.edu.vn
16
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
Những điều kiện trên đòi hỏi mỗi thành viên phải có tinh thần tự phê bình, chủ động đóng
tuyển dụng và khó khăn trong quá trình làm việc sau này.
Nguyễn Hoàng Anh, Công ty Bảo hiểm Dầu khí từng tâm sự rằng:
“Khi bắt đầu bước chân vào công ty, tôi đã phải làm việc teamwork, từ những buổi học nghiệp
vụ, đi dã ngoại, triển khai các dự án lúc nào cá nhân cũng phải gắn vào tập thể. Ban đầu tôi
thực sự mệt mỏi. Tôi cảm thấy căng thẳng với cách làm việc của mọi ngườ trong cơ quan, họ
không thiện chí và tiếng nói của tôi chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi đã nghĩ đến việc từ bỏ. Tuy
nhiên sau một thời gian làm việc, tôi phải khẳng định rằng, sức mạnh tập thể to lớn như thế nào.
Có những việc một cá nhân giỏi nhất cũng không thể làm được nhưng khi có sự góp sức của
nhiều bàn tay thì thuận lợi hơn rất nhiều. Thêm vào đó, khi làm việc tập thể, các cá nhân có thể
học hỏi lẫn nhau, bạn sẽ không bao giờ cảm thấy đơn độc.”
7
Các chuyên gia kinh tế đã dự báo rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ làm việc theo nhóm, vì tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội, ngay cả văn học và nghệ thuật, một cá nhân cũng không thể
đảm đương được. Đó cũng là những suy nghĩ mà anh Hoàng Nam, phòng Nhân sự, Công ty
Canon đã chia sẻ:
“Trong cuộc sống, bạn không thể chắc chắn rằng bạn có thể làm tất cả mọi việc. Nhưng khi có
sự hỗ trợ từ những người xung quanh, công việc đơn giản đi rất nhiều. Đây cũng là lý do mà rất
nhiều các công ty hiện nay, đặc biệt là các công ty nước ngoài yêu cầu ứng viên phải có khả
năng làm việc theo nhóm: Khi đi xin việc làm, hình như mỗi người chỉ trang bị cho mình bằng
cấp, khả năng quản lý, còn kỹ năng làm việc trong một tập thể lại bỏ đâu mất.
Thế là khi đi làm thì mặc sức mà đấu đá, tranh giành điểm với sếp, mặc cho công việc ra thế nào
thì ra, miễn sao cái tôi của mình được thỏa mãn. Nếu một người không biết hài hòa lợi ích cá
nhân và lợi ích tập thể, luôn đố kỵ, ghen ghét với các đồng nghiệp thì sẽ không tạo nên một tập
thể đoàn kết, vững mạnh. Tính cá nhân trong khi làm việc sẽ dẫn đến hậu quả là bảo thủ, cứng
nhắc và không chịu thừa nhận sai lầm. Chúng tôi sẵn sàng “hy sinh” một người để tạo không
khí làm việc thoải mái cho những người khác. Tuy nhiên để cá nhân có thể làm việc hiệu quả
hơn trong một tập thể thì một nguyên tắc bất di bất dịch là quyền lợi của họ vẫn được đảm bảo.
Khi những nhu cầu đó được đáp ứng một cách công bằng, chắc chắn mỗi cá nhân sẽ dễ dàng
hơn trong việc liên kết với những cá nhân khác trong tập thể…”
8
- Giúp sinh viên nắm vững các khái niệm và áp dụng vào các tình huống cần đến các kỹ
năng suy nghĩ đào sâu.
- Học hỏi được cách xử lý mọi nhiệm vụ đơn giản hay khó khăn.
- Mang lại cơ hội cho các thành viên thể hiện năng lực bản thân.
- Học hỏi và rèn luyện thói quen tôn trọng thời hạn công việc, tinh thần trách nhiệm, tinh
thần đồng đội, khả năng lắng nghe, kỹ năng làm việc cũng như quản lý nhóm.
- Sinh viên sẽ tích cực tham gia, hiểu và nhớ bài lâu hơn, nắm vững các kỹ năng quan trọng
để có thể thành công trong môn học.
9
Trang web www.anninhthudo.vn
19
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
- Tạo tác phong tự tin, năng động để trong tương lai có thể đạt hiệu suất cao trong công
việc.
5. Phương pháp rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm
a. Tổ chức nhóm
Để một nhóm làm việc tốt và mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch mang lại hiệu quả cần có
sự tổ chức nhóm: Phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể để chuyên môn hóa các khâu, phát huy
ưu điểm của từng cá nhân.
i. Nhóm trưởng
- Tìm kiếm các thành viên mới và nâng cao tinh thần làm việc.
- Khả năng phán đoán tuyệt vời về những năng lực và cá tính của các thành viên trong
nhóm.
- Giỏi tìm ra các cách vượt qua những điểm yếu của nhóm.
- Có khả năng thông tri hai chiều.
- Biết tạo bầu không khí hưng phấn và lạc quan trong nhóm.
- Không có tính bảo thủ, độc đoán, linh hoạt trong mọi tình huống ứng xử.
- Khi phát sinh mâu thuẫn trong nhóm, nhóm trưởng cần tạo điều kiện để mỗi người
đều được đưa ra ý kiến nhằm xoa dịu tình hình và giải quyết vấn đề.
ii. Các thành viên còn lại trong nhóm
- Chuẩn bị sẵn bài thuyết trình và trả lời những câu hỏi thường gặp.Chọn người đứng
lên thuyết trình đề tài, trả lời câu hỏi, ghi chú và một số người dự bị (nếu có).
iv. Những điểm cần ghi nhớ
- Để đạt được những kết quả cao nhất, các mục tiêu còn phải được kết hợp giữa những
mục tiếu chung và mục tiêu riêng.
- Đừng bao giờ miệt thị ý kiến nào trong buổi họp vì sự chỉ trích làm giảm óc sáng tạo
- Nhiều ý kiến tưởng chừng ngớ ngẩn lại có thể đưa đến những giải pháp đáng giá.
- Cần ghi lại mọi ý kiến lên bảng
- Tạo bầu không khí thông hiểu nhau giữa các thành viên nhất là thông tin về tiến độ và
những thay đổi đường lối làm việc
III. Kỹ năng thuyết trình
1. Hiện trạng
Tình huống
Luôn
luôn
Thường
xuyên
Thỉnh
thoảng
Ít Rất ít
Khi phát biểu ý
kiến trước lớp,
đám đông hay
thuyết trình
a. Bạn diễn đạt lưu loát, trôi chảy 6.6 28.2 43.2 15.5 6.6
b. Bạn trình bày trọn vẹn nội dung cần nói 10.3 32.4 39.4 11.7 6.1
c. Bạn có ý tưởng hay mà không dám nói 7.6 18.5 29.4 29.9 14.7
d. Bạn cảm thấy căng thẳng và áp lực 7.6 21.3 32.7 22.3 16.1
Bảng 6
Đối với kỹ năng phát biểu, thuyết trình trước đám đông:
qua vai trò,nhiệm vụ, mục tiêu phát triển và hành động hướng đến mục tiêu chung
- Các buổi huấn luyện chuyên môn tất cả cùng thống nhất về cách thức, cơ cấu, qui
trình làm việc; có sự phản hồi, tranh luận để hạn chế tối đa những sai sót.
- Hội thảo quảng bá sản phẩm thu hút khách hàng Thu hút sự chú ý và thuyết phục
khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ của công ty, tiếp thu ý kiến phản hồi.
Trong xã hội:
- Tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, kế hoạch hóa…
- Tuyên truyền và thuyết phục mọi người dân thực hiện nếp sống văn minh
- Tổ chức thuyết trình về an toàn xã hội, an sinh giáo dục, môi trường
3. Những hạn chế khi thiếu kĩ năng thuyết trình
a. Không hoàn thành được nhiệm vụ học tập
Lên đại học, chúng ta dường như “sống chung với những buổi thuyết trình” vì sinh viên luôn
phải tự nghiên cứu và thuyết trình liên tục. Chúng ta đã được tiếp xúc với kĩ năng thuyết trình
ngay từ những buổi học chính trị đầu khóa, rồi đến những môn học cơ bản, cơ sở,… Vậy
chúng ta sẽ gặp phải những trở ngại gì khi không có kỹ năng thuyết trình?
Những yêu cầu của giáo viên trong quá trình học tập, liệu chúng ta có hoàn thành được nhiệm
vụ của mình nếu không có kĩ năng thuyết trình không? Đó mới chỉ là nhiệm vụ cơ bản nhất
mà chúng ta phải thực hiện được. Không quá khó để chứng kiến những sự cố của SV mỗi khi
thuyết trình trong lớp học hay một cuộc thi nào đó: vẻ bề ngoài chưa phù hợp với bối cảnh -
chủ đề; ngôn ngữ cơ thể "nghèo nàn"; slide trình chiếu còn quá nhiều lỗi về thiết kế; cách thể
hiện buồn chán, thiếu đam mê Những điều này thể hiện sự yếu kém của chúng ta về kỹ năng
thuyết trình. Và nếu tình trạng này vẫn cứ tiếp diễn thì chắc chắn kết quả học tập của chúng ta
sẽ không cao. Vì vậy, hạn chế đầu tiên của việc thiếu kĩ năng thuyết trình chính là việc chúng
ta sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong quá trình học tập.
22
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
b. Mất đi nhiều cơ hội
Học đại học đâu chỉ là để lấy thành tích về điểm số. Trong quá trình học tập chúng ta còn phải
tham gia nhiều cuộc thi, rồi phải tham gia phỏng vấn nếu như chúng ta muốn đi làm thêm. Khi
đó, nếu thiếu kĩ năng thuyết trình sẽ làm chúng ta có ít cơ hội chiến thắng trong cuộc thi, cũng
cho sinh viên phát huy kỹ năng thuyết trình ở mức tốt nhất. Qua rồi cái thời học sinh chỉ biết
thụ động đọc – chép. Phương tiện giảng dạy hiện đại luôn có sẵn, nội dung bài học luôn đòi
hỏi các chúng ta phải tích cực tìm kiếm tài liệu để nghiên cứu thêm, hoặc ứng dụng thực tiễn.
Do vậy, thuyết trình bằng giáo án điện tử là một trong những cách “trực quan sinh động”
nhằm làm tăng hiệu quả học tập. Mỗi lần thuyết trình sẽ giúp chúng ta hiểu biết hơn về chủ
đề đó và nắm bắt được kiến thức một cách tổng quát hơn.
b. Thuyết trình giúp thể hiện được khả năng của bản thân
10
Trang web www.kynang.edu.vn
11
Trang web www.kynang.edu.vn
23
Một số kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên Ngoại Thương cơ sở II
Để có được một bài thuyết trình tốt, chúng ta phải đầu tư kĩ lưỡng cho nó không những về
phần nội dung mà còn cả hình thức. Vì thế, qua mỗi bài thuyết trình, chúng ta có thể thể hiện
được tầm hiểu biết của mình về lĩnh vực mà mình đang muốn thuyết trình cũng như khả năng
sử dung thành thạo phần mềm PowerPoint. Ngoài ra, chúng ta còn có thể có những ý tưởng
sáng tạo, độc đáo giúp bài thuyết trình của bạn thêm cuốn hút hơn. Đó là phần chuẩn bị, còn
trong quá trình học tập cũng như mọi hoạt động khác, kỹ năng thuyết trình đóng một phần
quan trọng dẫn đến sự thành công của mỗi cá nhân cũng như tập thể.
Có được kỹ năng thuyết trình tốt, chúng ta sẽ dễ dàng truyền tải được tư tưởng, mong muốn
và quan điểm của mình đến người nghe. Với kĩ năng thuyết trình chuyên nghiệp chúng ta
cũng sẽ dễ dàng thuyết phục được thầy cô, ban giám khảo dù là khó tính nhất.
c. Thuyết trình giúp bạn tự tin hơn
Việc thuyết trình nhiều lần trước đám đông sẽ làm bản thân chúng ta cảm thấy thoải mái, tự
tin hơn. Bởi vì lúc đó chúng ta đã vượt qua được rào cản của bản thân. Qua những buổi thuyết
trình chúng ta sẽ tạo cho mình được sự tự tin khi làm bất cứ việc gì.
5. Phương pháp rèn luyện kỹ năng thuyết trình
Vd: Thuyết trình bằng PowerPoint thì chúng ta cần phải chuẩn bị máy chiếu và
các thiết bị hỗ trợ khác cho bài thuyết trình của mình như thiết bị âm thanh,…
Yêu cầu đối với người thuyết trình
- Giọng nói: Tiếng nói chuẩn là cần thiết, chúng ta cũng nên tập thở bằng
bụng để cho hơi được dài, thường xuyên đọc văn và hành văn để có lời nói
hay, cũng cần phải tập sử dụng nhiều giọng điệu khác nhau. Không phải ai sinh
ra cũng có giọng nói hay, nhưng nếu kiên trì tập luyện, giọng nói của chúng ta
sẽ có sức lôi cuốn khán giả.
- Ứng khẩu: Viết dàn bài ra giấy, tập nói một mình nhiều lần, chúng ta sẽ
luyện được khả năng xử lý ngôn từ nhanh. Đồng thời, thường xuyên thu thập
dụng ngữ , lời hay, cách dùng từ ngữ lạ từ sách báo, trong khi nói chuyện.
- Cử chỉ: Tập sử dụng các cử chỉ của tay, nét mặt để thể hiện tình cảm trong
khi thuyết trình.
ii. Khi thuyết trình:
Phần phụ:
- Thực hiện một số điệu bộ nhằm thu hút sự chú ý của khán giả. Một cử chỉ
liên quan đến chủ đề của bài nói cũng giúp cho người nghe hình dung được
sơ lược về đề tài chúng ta sắp đề cập. Thường thì chúng ta có thể đưa nó
vào sau bài diễn thuyết.
- Đưa ra một thông báo hoặc thống kê theo cách làm cho người khác phải
giật mình.
- Nên bông đùa một chút và dĩ nhiên là có liên quan đến chủ đề. Không phải
ai cũng thích sự hài hước và sẽ hơi mạo hiểm nếu chúng ta hoàn toàn không
biết gì về người nghe, nhưng thực sự sẽ không có cái gì có thể đánh gục
khán giả của chúng ta hiệu quả bằng những tiếng cười thoải mái.
- Đưa ra những trích dẫn phù hợp ( hoặc câu danh ngôn nổi tiếng )
- Ngoài việc trình bày cho mọi người hiểu về chủ đề, chúng ta cũng có thể
tạo ra sự tín nhiệm từ phía người nghe bằng cách chứng minh rằng ta bạn
nắm rõ về đề tài mình nói đến mức có thể tìm ra những trích dẫn vô cùng
phù hợp.