Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––––
PHẠM HỒNG ÁNH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM
XÃ HỘI KHỐI NGOÀI QUỐC DOANH Ở TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. BÙI ĐÌNH HOÀ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu,
Phòng quản lý đào tạo sau Đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại
học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi
điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS. Bïi §×nh Hoµ đã trực tiếp hướng
dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc
Ninh, phòng Tổng hợp Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh đã tạo mọi điều kiện giúp
đỡ cho tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Bắc Ninh, ngày 09 tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Phạm Hồng Ánh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
iv
1.4. Sự chỉ đạo của BHXH Việt Nam đối với DNNQD về việc thực hiện chính
sách BHXH 31
1.5. Cơ sở thực tiễn về công tác thu BHXH khối DNNQD 32
1.5.1. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới 32
1.5.2. Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước 35
1.5.3. Một số bài học rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn 37
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1. Các câu hỏi đặt ra cần nghiên cứu 38
2.2. Phương pháp nghiên cứu. 38
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu. 38
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu. 38
2.3. Khung phân tích. 39
2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM
XÃ HỘI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH Ở TỈNH
BẮC NINH 44
3.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 44
3.1.1. Đặc điểm về tự nhiên và dân số 44
3.1.2. Đặc điểm về văn hoá, xã hội 44
3.1.3. Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh những năm qua 45
3.1.4. Khái quát tình hình các doanh nghiệp NQD ở tỉnh Bắc Ninh 46
3.1.5. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến công tác quản lý
thu BHXH khối NQD ở tỉnh Bắc Ninh 47
3.2. Tổ chức hệ thống BHXH tỉnh Bắc Ninh 47
3.2.1. Khái quát sự hình thành và phát triển 48
3.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của BHXH tỉnh Bắc Ninh 51
3.2.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của BHXH tỉnh Bắc Ninh 51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vi
4.2.1. Giải pháp chung cho khu vực KTNQD 86
4.2.2. Giải pháp cụ thể cho khu vực KTNQD trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 93
4.3. Một số kiến nghị 107
4.3.1. Kiến nghị đối với Nhà nước 107
4.3.2. Kiến nghị đối với BHXH tỉnh Bắc Ninh 109
4.3.3. Kiến nghị đối với các đơn vị ngoài quốc doanh 109
4.3.4. Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 110
ắc Ninh 110
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. ASXH: : An sinh xã hội
2. BHXH : Bảo hiểm xã hội
3. BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
4. BHYT : Bảo hiểm y tế
5. DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
6. DN : Doanh nghiệp
7. KTNQD : Kinh tế ngoài quốc doanh
8. NLĐ : Người lao động
9. SDLĐ : Sử dụng lao động
Hình 1.1: Nội dung quản lý thu BHXH theo mô hình chuỗi giá trị 20
Hình 3.1: Tỷ lệ các nguồn tìm hiểu thông tin về chế độ, chính sách BHXH của
người lao động và người sử dụng lao động 62
Hình 3.2: Tỷ lệ các nguồn tìm hiểu thông tin về chế độ, chính sách BHXH của
người lao động và người sử dụng lao động 64
Hình 3.3: Tỷ lệ đánh giá của người lao động và người sử dụng lao động về
trách nhiệm và thái độ phục vụ của cán bộ thu BHXH. 66
Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý thu BHXH bắt buộc 21
Sơ đồ 2.1 : Khung phân tích 40
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức quản lý của BHXH tỉnh Bắc Ninh 50
Biểu đồ 3.1: Đơn vị sử dụng lao động khu vực NQD tham gia BHXH 55
Biểu đồ 3.2:
Lao động trong các doanh nghiệp NQD tham gia BHXH
57
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
2
trọng góp phần phát triển sự nghiệp BHXH. Đảng và Nhà nước có chủ trương,
đường lối, chính sách khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh (KTNQD) tham gia BHXH. Bước đầu triển khai cho kết
quả rất khả quan. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bộc lộ nhiều yếu kém.
Các đơn vị doanh nghiệp (DN) tham gia chưa có sự hiểu biết rõ ràng về
BHXH. Họ chưa coi việc đóng BHXH là quyền lợi và nghĩa vụ của người sử
dụng lao động (SDLĐ) còn rất hạn chế. Đặc biệt với khối DNNQD thuộc diện
tham gia BHXH bắt buộc nhưng lại cố tình trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ tham
gia. Quyền lợi của NLĐ không được đảm bảo. Cần phải có các giải pháp để cải
thiện tình hình này, tạo cở sở thực hiện chính sách BHXH ở khu vực KTNQD
ngày càng tốt hơn. Đây được coi là vấn đề bức xúc hiện nay.
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác
quản lý thu BHXH khối ngoài quốc doanh ở tỉnh Bắc Ninh” là một vấn đề
cấp thiết, có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng thu BHXH khu vực NQD ở tỉnh Bắc Ninh thời
gian qua, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH
khu vực NQD ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm tới.
b. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH, quản lý thu
BHXH, doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Phân tích thực trạng quản lý thu BHXH khu vực NQD ở tỉnh Bắc
Ninh giai đoạn 2008-2012.
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý thu
BHXH khu vực NQD ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đơn vị, DN, NLĐ đã tham
NQD ở tỉnh Bắc Ninh.
Chƣơng 4: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH khu
vực kinh tế NQD.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU
BHXH KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. Vài nét về doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.1.1. Khái niệm và thành phần của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Khác với DN nhà nước, các DNNQD được ra đời sau và chủ yếu hình
thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường (trừ hợp tác xã ra đời năm
1950). Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với đường lối của Đảng
về việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, DNNQD mới có điều kiện
phát triển. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các đơn vị kinh tế thuộc thành phần
kinh tế NQD rất ít và không phát triển. Ngày 12/9/1999, Quốc hội nước ta đã
chính thức thông qua luật DN, thay thế cho luật doanh nghiệp tư nhân và Luật
công ty, tạo cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của các DNNQD như
doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần và công ty hợp danh.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thể hiểu bao hàm DN vừa và nhỏ,
cả các DN lớn khác do người dân thành lập và vận hành hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức
khác nhau, đó là: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên, Công ty hợp danh, DN tư nhân, công ty cổ phần và hợp tác
xã. DNNQD không bao gồm DN cổ phần chuyển từ nhà nước sang và các DN
có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, khu vực này đã tạo ra được một lượng lớn công việc, góp
phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống cho NLĐ đồng thời
ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, lượng lực lao động ở khu vực này rất đa
dạng, từ: lao động đã nghỉ hưu hoặc nghỉ mất sức, thôi việc; lao động đi xuất
khẩu về; học sinh, sinh viên mới ra trường; lao động làm hợp đồng ngoài giờ
ở khu vực nhà nước cho đến những lao động chưa qua đào tạo Sự đa dạng
này cho thấy khả năng thu hút lao động ở khu vực này là rất
lớn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
d. Về lĩnh vực kinh doanh
Khu vực KTNQD tham gia hoạt động kinh doanh trên rất nhiều lĩnh
vực nhưng tập trung vào một số ngành đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu thấp, thị
trường tiêu thụ rộng khắp và ít chịu sự cạnh tranh gay gắt của các doanh
nghiệp lớn như các ngành: chế biến nông, lâm, hải sản xuất khẩu; gia công
may mặc, đồ da, đồ trang sức; xây dựng cơ bản với các mặt hàng vật liệu xây
dựng như: gạch, ngói; gốm sứ, đồ mỹ nghệ xuất khẩu; giao thông vận tải,
thông tin và mới có thêm kinh doanh máy tính và sản xuất phần mềm.
e. Việc chấp hành các quy định của pháp luật
Theo thông tin từ các cơ quan quản lý [13], việc chấp hành pháp luật
của các DNNQD còn chưa nghiêm túc, tỷ lệ vi phạm các quy định của pháp
luật rất cao. Thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau:
- Gian lận trong khai báo các hoá đơn, các khoản thu chi.
- Có khoảng hơn 25% số hộ cá thể không có giấy phép kinh doanh,
khoảng 30% số DN kinh doanh không đúng với nội dung đăng ký, trong đó
hộ cá thể có giấy phép kinh doanh thì hơn 20% số hộ vi phạm nội dung đã
đăng ký.
kinh tế phi xã hội chủ nghĩa nên đã xoá bỏ những nhà DN tư nhân, chỉ còn lại các
DN trong khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã. Đội ngũ các nhà DN trong
khu vực kinh tế quốc doanh được đào tạo trong cơ chế cũ tỏ ra bất cập trước
những yêu cầu nhiệm vụ và đòi hỏi của nền kinh tế trong thời kỳ chuyển sang cơ
chế thị trường và nhất là trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.
Nhờ đổi mới và phát triển khu vực KTNQD, chúng ta đã từng bước
hình thành được đội ngũ các nhà DN tư nhân hoạt động trong hầu hết các
lĩnh vực, các ngành nghề của nền kinh tế quốc dân với số lượng lớn. Đây
thực sự là một thành quả có ý nghĩa trong việc xây dựng đội ngũ các nhà DN,
phát huy nguồn lực con người thời mở cửa. Đội ngũ các nhà DN tư nhân mặc
dù không tránh khỏi còn nhiều hạn chế nhưng họ sẽ cùng với các DN nhà
nước thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển, thực hiện thành công sự nghiệp
công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
1.1.3.4. Kinh tế khu vực NQD thúc đẩy chuyển dịch thành phần kinh tế
Tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng cầu thị trường nội địa, thúc đẩy
cạnh tranh trong nền kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường và
đặc biệt tăng hiệu quả kinh tế nhờ thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường.
Hiện nay trừ một số lĩnh vực, ngành nghề mà kinh tế quốc doanh và Nhà
nước độc quyền, cấm kinh doanh, còn lại hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực sản
xuất kinh doanh khu vực KTNQD đều tham gia. Trong đó, nhiều lĩnh vực,
ngành nghề khu vực KTNQD đã chiếm tỷ trọng áp đảo (như sản xuất lương
thực, thực phẩm, đồ gỗ mỹ nghệ, đúc đồng, sản xuất giấy…). Chính sự phát triển
phong phú đa dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại sản phẩm dịch
vụ của khu vực KTNQD đã góp phần mở mang ngành nghề lưu thông hàng
hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở từng địa phương và cả nước. Đã xuất hiện
nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động tốt, tạo được chỗ đứng trên thị
thuê trong các D N N Q D bên cạnh những người làm công ăn lương trong
các DN nhà nước. Xuất hiện quan hệ chủ thợ, quan hệ thuê mướn lao động
thông qua hợp đồng kinh tế; thị trường lao động được hình thành và ngày
càng mở rộng, tạo cơ hội tìm kiếm việc làm theo năng lực, kiến thức được
đào tạo thay thế cho việc phân bổ lao động vào các DN theo chỉ tiêu.
Quan hệ phân phối cũng ngày càng trở nên linh hoạt, đa dạng, ngoài
phân phối theo hình thức chủ yếu dựa trên lao động còn sử dụng các hình thức
phân phối theo vốn góp, tài sản, theo cổ phần và các hình thức khác,
1.2. Khái quát về bảo hiểm xã hội
1.2.1. Sơ lược sự ra đời và lịch sử phát triển của BHXH
Bảo hiểm xã hội ra đời là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài
giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản. Kết quả này đã được
các nước trên thế giới ghi nhận và cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống
BHXH phù hợp. Qua nhiều năm nghiên cứu về BHXH, giáo sư Henri Kliller
thuộc Trường đại học Solray của Bỉ đã khẳng định rằng nguồn gốc của
BHXH xuất phát từ những vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội sau đây:
Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa
tư bản và sản xuất hàng hoá. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
nhân công trở nên phổ biến. Giai cấp công nhân làm thuê cho giới chủ và được
giới chủ trả tiền lương, tiền công. Lúc đầu giới chủ cam kết trả tiền lương, tiền
công. Người lao động bị bóc lột tàn bạo và bị đối xử không công bằng. Giờ làm
việc của họ thường bị kéo dài và cường độ lao động rất cao, nhưng tiền công
được trả rất thấp. Hiện tượng ốm đau, tai nạn lao động xảy ra phổ biến. Và với
tiền công được trả đó họ không thể đảm bảo cuộc sống của mình cũng như gia
đình mình. Thêm vào đó, Nhà nước cũng như giới chủ không hề quan tâm hay
giúp đỡ họ. Đứng trước tình hình đó, giai cấp công nhân đã liên kết lại với nhau
- Năm 1894 và 1896 nước Bỉ và Hà Lan đã được ban hành Bộ luật đầu
tiên về các tổ chức tương tế.
- Ở Mỹ, đạo luật đầu tiên về ASXH (trong đó BHXH là hạt nhân) được
ban hành vào năm 1935. Trong đạo luật này, có quy định về chế độ bảo hiểm
tuổi già, tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp cho NLĐ.
- Ngày 25/6/1952, hội nghị toàn thể của tổ chức lao động quốc tế (ILO)
đã thông qua công ước số 102 (công ước về ASXH).
Ở Việt Nam, BHXH đã có mầm mống dưới thời phong kiến Pháp thuộc.
Sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh
quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên
chức Nhà nước (Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày
20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950). Cơ sở pháp lý tiếp theo của
BHXH được thể hiện trong Hiến pháp năm 1959 đã thừa nhận công nhân viên
chức có quyền được trợ cấp BHXH. Quyền này được cụ thể hóa trong Điều lệ
tạm thời về BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo
Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành
kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ. Suốt trong những
năm tháng kháng chiến chống xâm lược, chính sách BHXH nước ta đã góp
phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức,
quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người, sức
của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, sự thay đổi
mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã
hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ:
quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và
bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và
người SDLĐ. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ
quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là NLĐ
và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
Ba là, những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc
làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan
của con người như: ốm đau, tai nạn lai động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng
có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già,
thai sản v.v Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá
trình lao động.
Bốn là, phần thu nhập của NLĐ bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải
những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ
tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp
là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.
Năm là, mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu
của NLĐ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm.
1.2.2.2. Chức năng của Bảo hiểm xã hội
- Thay thế, bù đắp sự thiếu hụt về thu nhập cho NLĐ và gia đình họ.
BHXH tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi gặp rủi ro, nhằm đảm
bảo đời sống cho bản thân và gia đình họ. Tất cả các nguồn đóng góp của
NLĐ, người SDLĐ, nhà nước đều liên quan trực tiếp đến vấn đề sản xuất kinh
doanh của đơn vị, đến giá thành sản phẩm, đến chính sách tài chính quốc gia.
- Phân phối lại thu nhập giữa những NLĐ tham gia BHXH: Giữa những
NLĐ trẻ khỏe và những người hết tuổi lao động hoặc suy giảm khả năng lao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
động; những người độc thân và những NLĐ có thân nhân phải nuôi dưỡng; giữa
1.2.3.2. Vai trò của BHXH đối với xã hội
- Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người SDLĐ và NLĐ, mối quan
hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan
hệ của BHXH. Tuy nhiên mối quan hệ này thể hiện trên nhiều giác độ khác nhau.
Người lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình
đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người sử dụng lao
động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho
NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã
hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH.
- Bảo hiểm xã hội thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH tạo cho
những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để
khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích
cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của
chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”.
BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng cho mọi người, không phân biệt chính
kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới
một xã hội nhân ái, một cuộc sống công bằng, bình yên.
- Bảo hiểm xã hội thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau
tương thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng
đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện
những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển
lành mạnh và bền vững.
1.2.3.3. Vai trò BHXH đối với nền kinh tế thị trường
- Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp
trong xã hội trở nên rõ rệt. Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa
các ngành nghề khác nhau trong xã hội. Những rủi ro xảy ra trong cuộc sống
không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó
khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng quẫn. BHXH đã góp phần
ổn định đời sống cho họ và gia đình họ.