So sánh sự giống và khác nhau ODA và FDI? ODA có phải là đầu tư quốc tế không? - Pdf 18

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI TẬP NHÓM
MÔN:
QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI
CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN NGƯỜI THỰC HIỆN : Nhóm 1
LỚP : CH K22 KTQT

Hà Nội, tháng 5 năm 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI TẬP NHÓM
MÔN:
QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI
CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

NHÓM 1: Đoàn Thị Hậu

 Giống nhau: ODA và FDI là nguồn vốn đến từ ngoài biên giới quốc gia. Các
nước cung cấp 2 nguồn vốn này chủ yếu là các nước phát triển, có tiềm lực kinh tế
mạnh. Đây là hai nguồn vốn gắn liền với rủi ro thông thường và rủi ro hối đoái.
 Khác nhau:
Tiêu chí
ODA
FDI
Chủ sở hữu
Các chính phủ, tổ chức liên chính phủ, tổ chức phi
chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hiệp
quốc, các tổ chức tài chính quốc tế
Cá nhân hay công ty của một nước đầu tư
sang nước khác
Đối tượng nhận vốn
Chính phủ của các nước đang và chậm phát triển
Cá nhân hay công ty nước ngoài nắm
quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh
Bản chất
Quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn được
tách rời
Chủ đầu tư là người nắm quyền sở hữu
vốn và sử dụng vốn.
Mục đích
ODA mang mục đích viện trợ, hỗ trợ phát triển
chính thức. Nó là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc
không hoàn lại với những điều kiện về chính trị, xã
hội nhất định.
FDI mang mục đích đầu tư, kiếm lợi
nhuận.
Thời gian

• Licensing: Cấp phép
• Franchising: Nhượng quyền
• Outsourcing: Thuê ngoài.
Tiêu chí
ODA
FDI
Quyền quản lý và sử
dụng vốn
Nước nhận ODA có quyền sử dụng vốn nhưng
phải đúng mục tiêu đã đề ra. Khi sử dụng vốn phải
tuân thủ những điều kiện đã thỏa thuận trước đó
(% chuyên gia thực hiện, máy móc kỹ thuật)
Bên chủ đầu tư có quyền sử dụng và quản
lý vốn. Việc sử dụng vốn chỉ tuân theo cá
nhân hay công ty sở hữu vốn mà không
phải phụ thuộc vào nước nhận đầu tư
Điều kiện thu hút
GDP bình quân đầu người thấp, mục tiêu sử dụng
vốn
Môi trường đầu tư
Lãi suất
Thấp
Không có
Tính chất
ODA nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều
chỉnh của dư luận. ODA có tính chất ràng buộc
(nước cho vay có thể ràng buộc nước nhận về mặt
sử dụng vốn). ODA là công cụ để thiết lập và duy
trì lợi ích kinh tế và vị thế chính trị
Các yếu tố về kinh tế, chính trị có ảnh

Phụ thuộc vào môi trường đầu tư (luật
pháp, hành chính, văn hóa….)
Địa bàn hoạt động
Các khu vực kém phát triển, vùng sâu, vùng xa
Tập trung ở khu vực đồng bằng, thành thị,
nơi có cơ sở hạ tầng tốt.
Tác động tích cực
• Bổ sung cho ngân sách nhà nước để đầu tư phát
triển
• Cải thiện cơ sở hạ tầng (hệ thống giao thông,
+ FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ
sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế – xã
hội trong nước
Tiêu chí
ODA
FDI
điện lưới )
• Phát triển nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo.
• Tăng cường năng lực thể chế (hỗ trợ công cuộc
cải cách pháp luật, cải cách hành chính )
• Phát triển quan hệ đối tác giữa các nước.
+ Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý
+ Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
+ Tăng lượng việc làm và đào tạo nhân
công
+ Nguồn thu ngân sách lớn.
- FDI không để lại gánh nợ cho chính phủ
nước Tiếp nhận đầu tư về chính trị, kinh tế
như hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác

FDI
nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ
đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng
sinh lời cao
* Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho
các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các
sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù
hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước
nghèo. Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào
tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các
chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90%
(bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương
cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao
so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy
trên thị trường lao động thế giới).
* Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các
điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các
sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc
nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản
ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất.
* Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý
sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục
dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của
nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án
nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức
nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
• ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ (sự thay
đổi của tỷ giá có thể làm cho giá trị hoàn lại của
vốn ODA tăng lên). Tình trạng thất thoát, lãng phí;
xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng

hiệu quả đầu tư. Với mục đích sử dụng như vậy nên ODA là nguồn vốn mang tính ưu đãi
cần thiết cho các nước đang và chậm phát triển.
Trong ngôn ngữ ngoại giao, người ta coi ODA là biểu hiện của tình ưu ái của người
cho đối với người nhận. Trên thực tế, các nước viện trợ ODA cho các nước nghèo nhằm
mục đích chính trị, xã hội là chính. Ngoài khoản lợi nhuận thu được từ mức lãi suất của
khoản viện trợ (khoản lợi nhuận rất nhỏ do mức lãi suất thấp khoảng từ 0,25% đến
2%/năm), nước viện trợ sẽ được hưởng các ưu đãi từ nước nhận viện trợ về mặt chính trị,
xã hội. Viện trợ song phương tạo điều kiện cho các công ty của bên cung cấp hoạt động
thuận lợi hơn tại các nước nhận viện trợ một cách gián tiếp. Cùng với sự gia tăng của vốn
ODA, các dự án đầu tư của những nước viện trợ cũng tăng theo với những điều kiện
thuận lợi, đồng thời kéo theo sự gia tăng về buôn bán giữa hai quốc gia. Ngoài ra, nước
viện trợ còn đạt được những mục đích về chính trị, ảnh hưởng của họ về mặt kinh tế -văn
hoá đối với nước nhận cũng sẽ tăng lên.
Ngoài ra, một rủi ro rất lớn của vốn ODA là cả trong thực tế và trong lý thuyết, khi
thanh toán đều thường phải quy ra USD dẫn tới nảy sinh rủi ro chéo - rủi ro giữa đồng
tiền thực tế vay mượn và đồng tiền quy ra để hạch toán nợ. Khi tỷ giá có sự biến động
(VD: nội tệ mất giá) thì giá trị của khoản vay theo thời gian sẽ thay đổi và gây ra bất lợi
đối với nước nhận viện trợ.
Như vậy, ODA cũng là một nguồn vốn đầu tư quốc tế vì có mang trong mình yếu tố
nước ngoài, có mang lại lợi nhuận và có tính rủi ro. Mặc dù vậy, ODA vẫn có những đặc
điểm đặc thù so với các nguồn vốn khác và được xếp vào nhóm tín dụng quốc tế đặc biệt.

KẾT LUẬN
ODA và FDI đều là hai nguồn vốn quan trọng và có tác động lớn đối với sự phát
triển kinh tế của nước nhận đầu tư cũng như mang lại những lợi ích nhất định về kinh tế,
chính trị, xã hội cho nước đầu tư. Hơn nữa, ODA và FDI còn có mối quan hệ với nhau.
ODA hỗ trợ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, các dự án đầu
tư vào giáo dục, phát triển nguồn nhân lực… nhờ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu
hút nguồn vốn đầu tư FDI. ODA là nguồn vốn đi trước, tạo tiền đề cho FDI phát triển.
Trong tương lai, nguồn vốn ODA sẽ có xu hướng giảm dần, nhường chỗ cho FDI tiếp tục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status