Những vấn đề chung về tỷ giá hối đoái, chính sách tiên tệ và mối quan hệ giữa chúng - Pdf 18


Lời giới thiệu

Quá trình quốc tế hoá và toàn cầu hoá kinh tế diễn ra sôi động với quy mô,
phạm vi và tốc độ...ngày càng lớn. Tính liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế trên toàn cầu ngày càng chặt chẽ. Do đó cân bằng ngoại tệ của nền
kinh tế, trạng thái cán cân thanh toán, mức tỷ giá là một trong những mục tiêu u
tiên của các chính sách kinh tế vĩ mô của một quốc gia. Tỷ giá hối đoái là một
trong những yếu tố quan trọng , đóng vai trò quyết định trong chính sách kinh tế
đối ngoại của mỗi quốc gia. Nó là công cụ để các nhà kinh tế và các doanh nhân
phân tích và xác định cho mình đối sách thích hợp trong buôn bán quốc tế.
Việt Nam là nớc có nền kinh tế mới chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung
chuyển sang kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ chế thị trờng không lâu nên cần
mở rộng kinh tế đối ngoại tăng thu hút đầu t từ nớc ngoài, tăng nguồn thu ngoại tệ.
Từ đó tạo nên khả năng dự trữ ngoại tệ cũng nh mở rộng mua bán ngoại tệ, hình
thành giá cả của các đồng tiền.
Tuỳ điều kiện xuất phát và đặc điểm phát triển kinh tế của mỗi nớc mà xác
định cho mình một chính sách tiền tệ khác nhau nhằm ổn định và nâng cao sức
mua của đồng tiền. Mỗi nớc muốn ổn định đồng tiền thì không thể cùng một lúc lu
hành nhiều đồng tiền của nớc ngoài . Muốn vậy , phải hình thành một thị trờng có
tổ chức , đợc kiểm soát và sử dụng nh một công cụ của chính sách tiền tệ. Đó là
thị trờng ngoại hối với công cụ tỷ giá hối đoái hình thành nên giá cả của các đồng
tiền so với nhau. Thông qua hoạt động của thị trờng hối đoái, Ngân hàng Trung -
ơng thực hiện chính sách tiền tệ để đạt đợc mục tiêu cuối cùng đó là ổn định giá trị
đồng tiền, tăng trởng kinh tê và tạo công ăn viêc làm.
Bài viêt này em đa ra chủ yếu nhằm hiểu rõ hơn vai trò tỷ giá hối đoái, tầm
quan trọng của nó trong việc thực hiện chính sách tiền tệ và phát triển kinh tế của
một quốc gia. Qua đó thấy đợc thực trạng kinh tế Việt Nam để có những phơng h-
ớng, biện pháp khắc phục.
Vì khả năng còn hạn chế nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu
sót, khiếm khuyết. Mong cô cho ý kiến để em rút kinh nghiệm cho những bài viết

khẩu vào Việt Nam sẽ đắt hơn và hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ rẻ
hơn. Ngợc lại, nếu VND lên giá, hàng hoá nớc ngoài nhập vào Việt Nam sẽ rẻ hơn
và hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam ra nớc ngoài sẽ đắt hơn.
2. Tỷ giá hối đoái tác động lớn tới kinh tế trong nớc và trực tiếp nhất là tới
tỷ lệ lạm phát. Ví dụ khi USD lên giá, hàng hoá nhập khẩu từ bên ngoài vào Mỹ
trở nên rẻ hơn làm lạm phát trong nớc giảm bớt vì những hàng hoá đó đều đợc tính
vào chỉ số giá cả trong nớc, hay có thể nói là đồng tiền trong nớc đợc lu thông ít
hơn, mức cung tiền giảm. Ngợc lại, đồng tiền một nớc càng mất giá so với USD
bao nhiêu thì giá cả hàng hoá nhập khẩu bằng đồng tiền nớc đó càng lên cao, giá
thành sản phẩm trong nớc cũng tăng lên, gây sức ép lạm phát mạnh mẽ hơn.
3. Tỷ giá hối đoái là một công cụ quản lý vĩ mô hết sức lợi hại. Vì vậy nên
Chính phủ các nớc luôn quan tâm tìm cách điều chỉnh việc xác định tỷ giá trên thị
trờng hối đoái với ý đồ sử dụng nó làm công cụ để quản lý và điều tiết những mất
cân đối lớn trong hoạt động kinh tế trong nớc cũng nh những mất cân đối trong
kinh tế đối ngoại.
2

1.3. Các cơ chế tỷ giá hối đoái :
Cơ chế hoặc hệ thống tỷ giá hối đoái là một tổng hoà những điều kiện trong
đó chính phủ các quốc gia cho phép ấn định các tỷ giá hối đoái. Lịch sử tiền tệ thế
giới đã trải qua các chế độ tỷ giá sau :
Chế độ tỷ giá cố định lấy vàng làm bản vị : là chế độ tiền tệ trong đó vàng
đóng vai trò là vật ngang giá chung để xác định tỷ giá giữa các đồng tiền . Trong
chế độ này , tỷ giá đợc hình thành trên cơ sở so sánh hàm lợng vàng giữa hai đồng
tiền . Do vậy , nó mang tính chất cố định, chỉ dao động trong một biên độ nhỏ .
Chế độ này bị sụp đổ trong và sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933.
Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods :
Sau chiến tranh thế giới thứ II , chế độ tỷ giá này ra đời với quan diểm cho
rằng muốn phục hồi và phát triển kinh tế, trớc hết phải phục hồi và phát triển th-
ơng mại quốc tế. Muốn thơng mại quốc tế phát triển phải có một chế độ tỷ giá cố

ớc và quốc tế và tỷ trọng quy định giữa các đồng tiền trong rổ. Việt Nam hiện nay
cũng theo chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý với xu hớng ngày càng tự do hoá để cho
3

tỷ giá phù hợp với quan hệ cung cầu . Tỷ giá chính thức đợc xác định căn cứ vào
kết quả giao dịch hối đoái trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng.
1.4 Các nhân tố ảnh h ởng đến tỷ giá:
Lạm phát : Theo thuyết ngang sức mua thì tỷ giá hối đoái giũa hai đồng tiền
sẽ đợc điều chỉnh phù hợp với mức giá cả hai nớc. Chẳng hạn, khi mức lạm phát
trong nớc cao hơn mức lạm phát ở nớc ngoài thì nhu cầu về hàng nội địa giảm
khiến đồng nội tệ có xu hớng giảm giá để cho hàng nội địa có thể bán đợc trên thị
trờng.
Lãi suất : tác động đến tỷ giá theo thuyết ngang bằng lãi suất. Thuyết này
nói lên rằng lãi suất thực giữa các nớc là bằng nhau, sự khác nhau tạm thời của lãi
suất thực giữa các nớc đợc bù đắp bởi sự thay đổi trong tỷ giá. Khi lãi suất trong n-
ớc tăng so với lãi suất nớc ngoài sẽ dẫn đến nhu cầu đầu t bằng đồng bản tệ tăng,
ngoại tệ giảm, đồng bản tệ có xu hớng tăng giá và ngợc lại.
Năng suất lao động : Nếu năng suất lao động của một nớc cao hơn các nớc
khác sẽ làm cho giá cả hàng nội địa rẻ hơn so với hàng ngoại. Do vậy, nhu cầu
hàng nội địa tăng, đồng nội tệ có xu hớng tăng giá.
Tình trạng cán cân thanh toán quốc tế của một nớc ảnh hởng trực tiếp đến
tỷ giá thông qua quan hệ cung cầu. Khi cán cân thanh toán quốc tế thặng d làm
cho dự trữ ngoại tệ tăng, cung ngoại tệ tăng. Do đó đồng ngoại tệ có xu hớng giảm
giá. Ngợc lại, cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt , nhu cầu ngoại tệ tăng làm
cho ngoại tệ có xu hớng tăng giá.
Thay đổi mức cung tiền tệ: Nếu lợng cung tiền tăng, về mặt dài hạn giá cả
trong nớc sẽ tăng, do đó tỷ giá có xu hớng tăng lên, đồng bản tệ mất giá và ngợc
lại.1
Thuế quan và Quota : Khi chính phủ đa ra hàng rào thuế quan, sẽ làm cho
nhu cầu nhập khẩu giảm, dẫn đến cầu ngoại tệ giảm và ngoại tệ có xu hớng giảm


3. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với chính sách tiền tệ :
Trong quan hệ thơng mại xuất hiện tỷ giá. Để thực hiện đợc quan hệ này và
tỷ giá đợc ấn định phải thông qua thị trờng ngoại hối và phù hợp với chính sách
phát triển kinh tế của đất nớc mà đặc biệt Nhà nớc thông qua chính sách tiền tệ để
quản lý.
Giữa chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái có quan hệ biện chứng với nhau.
Tỷ giá vừa phản ánh sức mua nội tệ , vừa biểu thị quan hệ cung cầu ngoại tệ.
Không những thế, tỷ giá còn là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh
mẽ đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nớc. Tỷ giá có ảnh
hởng trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Tỷ giá thể hiện sức mua
của đồng nội tệ, qua đó tác động đến sự ổn định của giá trị đồng tiền bản tệ. Tỷ
giá hối đoái tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu, đến cán cân thanh
toán quốc tế. Nếu tỷ giá cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu, nhng lại khuyến khích xuất
khẩu vì làm cho hàng nhập khẩu đắt hơn, hàng xuất khẩu rẻ hơn, dễ cạnh tranh
trên thị trờng quốc tế, dễ tìm thị trờng tiêu thụ, kích thích chuyển dịch ngoại tệ vào
trong nớc, làm thặng d cán cân thanh toán quốc tế, thúc đẩy phát triển tăng trởng
kinh tế. Hơn nữa tạo công ăn việc làm cho ngời lao động nhiều hơn. Ngợc lại, nếu
tỷ giá thấp sẽ thuận lợi cho nhập khẩu, khó khăn trong xuất khẩu vì hàng xuất
khẩu tơng đối đắt, khó bán ra nớc ngoài, gây trở ngại cho ngành sản xuất hàng
xuất khẩu, qua đó thất nghiệp tăng, thâm hụt cán cân thơng mại, dự trữ ngoại tệ bị
xói mòn.
Đến lợt chính sách tiền tệ tác động trở lại với chế độ tỷ giá, điều tiết tỷ giá
bằng cách Ngân hàng Trung ơng tác động lên thị trờng ngoại hối làm thay đổi l-
ợng tiền cung ứng trên thị trờng. Khi Ngân hàng Trung ơng mua ngoại tệ trên thị
trờng ngoại hối sẽ làm tăng lợng tiền cung ứng dẫn đến tỷ giá tăng. Ngợc lại, khi
Ngân hàng Trung ơng bán ngoại tệ, thu nội tệ về thì lợng tiền cung ứng trên thị tr-
ờng sẽ giảm làm cho tỷ giá giảm xuống.
Ngân hàng Trung ơng thông qua việc tác động vảo tỷ giá để thực hiện các
mục tiêu của chính sách tiền tệ và cả mục tiêu của chính sách kinh tế đối ngoại .

Nh vậy, chính sách tiền tệ tỏ
ra kém hiệu quả hơn trong nền E E
kinh tế đóng; ở đây sự tác động i = i
của sự mở rộng tiền tệ đã bị triệt E
tiêu bởi luồng vận động của t IS
bản ra nớc ngoài do lãi suất giảm
đi, mặc dù đầu t cá nhân có tăng lên. Y + + +
Đối với hệ thống tỷ giá thả nổi i: Lãi suất trong nớc
hoàn toàn với sự vận động của tu bản là tự do : i: Lãi suất thế giới
Trờng hợp này tỷ giá linh hoạt đợc E, E, E: Tỷ giá cân bằng
xác định trên thị trờng ngoại hối và thay trong từng thời điểm
đổi theo cung cầu trên thị trờng. Khi 1 LM : Cân bằng thị trờng
luồng vốn từ nớc ngoài đổ vào trong tiền tệ
nớc , cầu về ngoại tệ tăng , đồng nội tệ IS: Cân bằng thị trờng
tăng giá, tỷ giá giảm . Sự tăng giá của hàng hoá
đồng nội tệ ảnh hởng trực tiếp đến cán
cân thơng mại : xuất khẩu giảm, nhập
khẩu tăng, cán cân thơng mại bị thâm hụt. Nếu chính sách tiền tệ làm
tăng cung tiền , đờng LM dịch chuyển đến LM , lãi suất giảm làm đồng
tiền mất giá . Tỷ giá giảm làm tăng khả năng cạnh tranh , xuất khẩu ròng
6

tăng lên, đờng IS dịch chuyển đến IS; lãi suất trở về mức cân bằng với thế
giới. Chính sách tiền tệ mở rộng
làm tăng sản lợng. Tuy nhiên, về mặt i LM
dài hạn, sản lợng tăng làm giá cả tăng.
Cân bằng tiền tệ thực tế giảm. LM dịch LM
chuyển về vị trí ban đầu, lãi suất tăng E
dần , đồng nội địa tăng giá, tỷ giá tăng i=i E
IS dần trở về IS. Cân bằng đợc thiết lập ở IS

thành công nhất định, đặc biệt là trong lĩnh vực ổn định thị trờng ngoại tệ, góp
phần tích cực vào những thành tựu chung của nền kinh tế.
Kể từ sau lần lạm phát phi mã ở Việt Nam năm 1986, cùng với việc thay đổi
quan điểm nhìn nhận nền kinh tế nớc ta. Đảng và Nhà nớc đã đa nền kinh
tế đi đúng hớng phù hợp với thực tế khách quan, đa ra những chính sách kinh tế vĩ
mô thích hợp qua từng thời kỳ. Trong đó phải kể đến chính sách tiền tệ về quản lý
ngoại hối và điều hành tỷ giá.
Đầu tiên phải nói đến chính sách điều hành tỷ giá của Ngân hàng Trung ơng
luôn theo sát và phù hợp với thực tế biến đoọng của tỷ giá. Thực thi theo cơ chế
mới, tỷ giá đợc hình thành trên quan hệ cung cầu, rõ ràng là mềm dẻo hơn, linh
hoạt hơn, vì thế nó phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần tăng cờng sự hoà nhập
của nền kinh tế nớc ta vào cộng đồng kinh tế thế giới. Cơ chế này khác hẳn với cơ
chế tỷ giá trớc kia, khi mà tỷ giá không xuất phát từ quan hệ cung cầu thì mỗi lần
Nhà nớc điều chỉnh tỷ giá đều tạo sức ép tâm lý nặng nề, nhất là khi tỷ giá không
đợc điều chỉnh thờng xuyên, đến khi điều chỉnh sẽ tạo ra một bớc nhảy đột ngột;
lòng tin vào đồng tiền có thể vì thế mà dao động, tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại
tệ sẽ có cơ hội phát triển.
Điều hành theo cơ chế mới, những năm đầu của thời kỳ đổi mới Ngân hàng
Trung ơng vẫn kiểm soát, điều hành tỷ giá theo tỷ giá chính thức nên vẫn không
sát với tỷ giá thị trờng. Chính vì vậy, qua quyết định số 64-65/1999/QĐ-NHNN7
đã bỏ việc công bố tỷ giá chính thức, thay bằng tỷ giá giao dịch bình quân trên thị
trờng ngoại tệ liên ngân hàng của VND so với USD và đợc công bố trên các phơng
tiện thông tin đại chúng thay cho việc công bố trực tiếp trên thị trờng ngoại tệ
LNH nh trớc đây. Tỷ giá này do Ngân hàng Nhà nớc công bố hàng ngày đợc xác
định trên cơ sở tỷ giá thực tế bình quân trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng của
ngày giao dịch gần nhất trớc đó; các tổ chức tín dụng đợc phép kinh doanh ngoại
tệ xác định tỷ giá mua bán giao ngay của VNĐ so với USD không vợt quá 0,1% so
với tỷ giá này. Đây là một bớc thay đổi cơ bản về chất trong cơ chế quản lý và
điều hành tỷ giá , phản ánh một cách khách quan sức mua của VND so với ngoại
tệ, đồng thời NHNN vẫn thể hiện đợc vai trò kiểm soát thị trờng thông qua biên độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status