Yếu tố góp phần xây dựng nhân cách - Pdf 18

Yếu tố di truyền
Có cơ sở vững vàng khẳng định rằng nhiều đặc điểm nhân cách được di truyền trong đó có thể
kể đến:
Những khía cạnh về tâm thần, thần kinh và hướng ngoại của Eysenck (riêng về sự hướng
ngoại bắt nguồn từ công trình của Jung)♣
Năm yếu tố thần kinh, hướng ngoại, sự cởi mở trước cái mới, tính dễ thích nghi và sự tận tâm
của McCrae và Costa♣
Ba tính cách gồm tính đa cảm, tính năng động và tính hoà đồng♣
Hơn nữa nét tiêu biểu về sự tìm kiếm cảm giác của Zuckerman trước tiên bị ảnh hưởng bởi yếu
tố di truyền. Như vậy cách tiếp cận nét tiêu biểu tập trung vào sự ảnh hưởng của tính di truyền
vẫn rất quan trọng ngày nay và có thể trở thành phạm vi phát triển nhanh nhất trong nghiên cứu
nhân cách. Cái còn lại cần được xác định chính xác là có bao nhiêu yếu tố di truyền, đặc điểm
hay tính cách. 16 theo Cattell, 3 theo Eysenck, 5 theo McCrae và Costa, 3 theo Plomin và Buss
hay chưa được xác định như một số nhà lý luận khác? Nghiên cứu trong tương lai về di truyền
học hành vi có thể cung cấp them nhiều khía cạnh nữa về nhân cách được hình thành bởi các
yếu tố di truyền.
Không quan trọng có bao nhiêu đặc điểm, cũng không quan trọng khi đề xuất mạnh mẽ nhất về
cách tiếp cận di truyền học lập luận rằng nhân cách có thể được giải thích đầy đủ và trọn vẹn bởi
tính di truyền. Cái chúng ta thừa hưởng là những cái có, không phải số phận, xu hướng hay điều
chắc chắn. Liệu khuynh hướng di truyền từng được nhận thức rõ phụ thuộc vào những điều kiện
môi trường sống và xã hội đặc biệt là của thời kỳ thơ ấu.
Yếu tố môi trường sống
Tất cả các nhà lý luận về nhân cách mà chúng ta đã thảo luận thừa nhận tầm quan trọng của môi
trường xã hội. Alder nói về tác động của trật tự sinh, lập luận rằng nhân cách bị ảnh hưởng bởi vị
trí của chúng ta trong gia định trong quan hệ với anh chị em ruột. Chúng ta được thấy nhiều hoàn
cảnh gia đình và xã hội khác nhau tuỳ theo độ chênh lệch tuổi giữa các anh chị em ruột hoặc việc
có anh chị em ruột hay không. Theo quan điểm của Adler, những môi trường gia đình khác nhau
này có thể tạo ra nhiều nhân cách khác nhau.
Horney tin rằng văn hoá và thời đại mà chúng ta được nuôi nấng cho thấy tác động của nó chẳng
hạn như tác động mà bà ghi chép được trong chứng loạn thần kinh chức năng được di truyền
bởi những bệnh nhân Đức và Mỹ. Bà cũng chỉ ra các môi trường xã hội khác nhau rõ nét mà

[/font]
Chứng cứ rất rõ ràng về việc học tập đóng vai trò chủ yếu ảnh hưởng đến hầu như mọi khía
cạnh của hành vi. Tất cả những ảnh hưởng môi trường và xã hội hình thành nhân cách tác động
tới hành vi thông qua việc học tập. Ngay cả những khía cạnh nhân cách được thừa hưởng cũng
có thể bị thay đổi, phá vỡ, ngăn chặn hoặc để cho phát triển bởi quá trình học tập. Skinner (trên
cơ sở công trình của Watson và Pavlov trước đó) đã cho chúng ta biết giá trị của sự củng cố tích
cực, sự tiếp cận liên tục, hành vi siêu việt và nhiều biến số học tập khác như là sự tích luỹ những
câu trả lời được học.
Bandura đưa ý tưởng rằng chúng ta học hỏi từ những mô hình quan sát (học tập quan sát) và
thông qua nhiều việc trao thưởng khác nhau. Đối với Rotter, việc trao thưởng là chìa khoá. Ông
lập luận rằng động cơ chính của chúng ta là tối đa hoá việc củng cố tích cực. Bandura và Rotter
đồng ý với Skinner rằng đa số các hành vi là được học và di truyền chỉ đóng vai trò hạn chế.
Chúng ta đã bàn nhiều khía cạnh của nhân cách có bằng chứng khoa học để chỉ ra rằng chúng
được học tập chẳng hạn như nhu cầu của McClelland về thành đạt (vốn được đề xuất bởi
Murray). Hơn nữa, nghiên cứu đã chứng minh bằng tài liệu rằng việc học tập ảnh hưởng đến tính
hiệu quả của bản thân (Bandura), trọng tâm kiểm soát (Rotter), và sự không tự lực được học
(Seligman). Những quan niệm này dường như có liên quan đến một khái niệm rộng hơn: mức độ
kiểm soát. Những người tin rằng họ kiểm soát cuộc sống của mình thường có mức độ hiệu quả
cao, có điểm nội tại về kiểm soát và không đặc trưng cho sự không tự lực (bao hàm việc thiếu
kiểm soát). Trong thuật ngữ của Seligman những người tin rằng họ trong trạng thái kiểm soát
thường lạc quan hơn là bi quan.
Kiểm soát là có ích cho nhiều khía cạnh của cuộc sống và đại diện cho một trong những phát
triển lý thú nhất về nghiên cứu nhân cách trong những năm gần đây. Một mức độ kiểm soát cao
có liên quan đến những cơ chế đối phó tốt hơn, ít tác động áp lực hơn, có sức khoẻ thể chất và
tinh thần tốt hơn và kỹ năng xã hội và tính đại chúng lớn hơn. Dù với bất cứ cái tên nào – tính tự
hiệu quả, điểm nội tại về kiểm soát hay tính lạc quan - kiểm soát được xác định bởi những yếu tố
môi trường và xã hội. Điều này được học trong thời kỳ thơ ấu và trưởng thành mặc dù nó có thể
thay đổi trong cuộc sống sau này. Chúng ta thấy rằng các hành vi cha mẹ đặc thù có thể giúp cho
sự trưởng thành cảm giác trong tình trạng kiểm soát của trẻ. Như vậy khái niệm kiểm soát mang
khía cạnh học tập của nhân cách và cách cư xử của cha mẹ là hết sức quan trọng đối với nó.

dựa trên những yếu tố về tính đa cảm và tính dễ chịu. Những người mẹ đặc trưng bởi những xúc
cảm tiêu cực và không dễ chịu thì con của họ có điểm cao hơn về tính kháng cự, sự cáu giận,
không vâng lời và những vấn đề về hành vi khác so với con của những người mẹ không có
những phẩm chất xúc cảm tiêu cực (Kochanska, Clark, và Goldman, 1997).
Điều gì xảy ra khi cha mẹ không là những người chăm sóc chủ yếu, đó chính là khi cha mẹ chia
xẻ những trách nhiệm với những người làm công việc chăm sóc ban ngày, bạn bè hoặc thành
viên gia đình khi họ phải làm việc xa nhà? Trong cuộc điều tra quốc gia hơn 15.000 trẻ em từ 3
đến 12 tuổi không phát hiện bất kể vấn đề gì đáng kể về hành vi hoặc lòng tự trọng khi người mẹ
có những công việc xa nhà. Những nhà nghiên cứu kết luận rằng việc chăm sóc bởi những
người khác với mẹ của trẻ không có bất cứ tác động tiêu cực nào tới nhưng biến số nghiên cứu
(Harvey, 1999).
Phòng thí nghiệm duy nhất về thế giới thực trong đó những vấn đề về những người chăm sóc
thay thế được khảo sát đó là nơi chăm sóc trẻ tập thể (nhà trẻ) tại khu định cư ở Israel. Trong
tình huống đó, những người mẹ rất chú tâm đến nhu cầu của con mình khi chúng mới được vài
tháng tuổi. Sau đó trách nhiệm chăm sóc trẻ được giao phó cho những người chăm sóc chuyên
nghiệp. Những đứa trẻ được những cha mẹ chăm sóc thay thế này quan tâm nhiều hơn so với
cha mẹ của mình.
Nhìn chung những đứa trẻ sống tập trung tỏ ra thích nghi tốt và bảo đảm chúng có môis quan hệ
an toàn với cha mẹ của chúng trong thời thơ ấu. Thực vậy, điểm mạnh của sự ràng buộc là cái
báo trước rõ nét nhất về những đứa trẻ sẽ trở thành vượt trội, độc lập và sự thành đạt định
hướng. Tuy nhiên những nơi ngủ như doanh trại (chẳng hạn như trại hè hay trường nội trú) trong
thời thơ ấu có thể dẫn đến sự hình thành một nhân cách cáu kỉnh, thận trọng, dứt khoát hơn.
Những người lớn được nuôi dưỡng trong nơi tập trung do không thể liên hệ với cha mẹ hoặc
người chăm sóc của họ tỏ ra nội tâm, khả năng kết bạn hạn chế, và độ mạnh xúc cảm giảm sút
trong mối quan hệ giữa các cá nhân (Aviezer, Van Ijzendoorn, Sage và Schuegel, 1994).
Một cuộc tranh cãi lớn nổ ra vào cuối những năm 1990 khi người ta gợi ý rằng thái độ và cách cư
xử của cha mẹ không có tác động kéo dài tới nhân cách của trẻ bên ngoài (Harris, 1995, 1998).
Theo tư tưởng này, vốn trước tiên bị ngờ vực, những đứa trẻ cùng tuổi có ảnh hưởng tới nhân
cách của trẻ nhiều hơn là cha mẹ. Những đứa trẻ lĩnh hội cách cư xử, thái độ, giá trị và nét đặc
trưng từ các bạn cùng lớp và bạn với nỗ lực có được sự chấp nhận và chấp thuận của chúng.

là một câu hỏi đáng đặt ra.
Có thể không làm bạn ngạc nhiên khi biết rằng bằng chứng thực nghiệm chứng minh nhiều quan
điểm khác nhau (xem Matthews và Deary, 1998). Vậy nhân cách có thay đổi không? Có. Nhân
cách có bền vững không? Có thể có. Nhưng nếu chúng ta phải trau chuốt câu hỏi và hỏi liệu một
số đặc điểm nhân cách ổn định trong một khoảng thời gian trong khi những đặc điểm khác thay
đổi, và rồi chúng ta có thể sẽ trả lời được với từ có tuyệt đối.
Cái xuất hiện rõ nét từ nghiên cứu là cơ sở của chúng ta về sự kéo dài những thiên hướng nhân
cách (chẳng hạn như những đặc tính được mô tả bởi mô hình năm yếu tố của McCrae và Costa)
được giữ ổn định nhiều năm. Có chứng cứ rằng những đặc tính cơ bản này và khả năng dường
như được kéo dài từ tuổi 30. Nghiên cứu chỉ ra rằng những yếu tố về chứng loạn thần kinh chức
năng, sự hướng ngoại và cởi mở suy giảm dần từ tuổi học đường cho tới tuổi trung niên, trong
khi đó những yếu tố như tính dễ mến và sự tận tâm tăng dần với tuổi tác. Những so sánh chéo
về văn hoá đã cho thấy tính ổn định trong một số nước như Hoa Kỳ, Đức, Ý, Bồ Đào Nha,
Croatia, và Hàn Quốc (Costa và McCrae, 1997; McCrae và al., 1999).
Cái gì gây ra sự thay đổi nhân cách tuổi trưởng thành? Những nhà lý luận ủng hộ ảnh hưởng
quan trọng hơn của các yếu tố di truyền đưa ra giả thuyết rằng mọi thay đổi nhân cách đều độc
lập với những yếu tố môi trường. Những nhà lý luận khác tin rằng câu trả lời được bắt nguồn từ
những ảnh hưởng môi trường và xã hội và trong những thích nghi chúng ta có trước những ảnh
hưởng ấy. Những thay đổi trong hoàn cảnh kinh tế, việc rời bỏ trường học, xây dựng gia đình và
đảm nhận vai trò cha mẹ, ly di, mất việc hoặc việc thăng chức, khủng hoảng tuổi trung niên, cha
mẹ cao tuổi tất cả mang lại những vấn đề mà người lớn phải điều chỉnh. Hai nghiên cứu theo
chiều dọc về phụ nữ xem xét yếu tố xã hội của phong trào giải phóng phụ nữ vào những năm 70
và tác động của nó từ những năm trung học cho tới tuổi trung niên. Nhiều điểm tăng quan trọng
đã được nhận thấy trong khoảng thời gian này liên quan đến những đặc tính nhân cách về tính
ưu thế, tự công nhận, sự thấu cảm, sự thành đạt và sự tự lập. Trong khi đó việc tôn trọng nguyên
tắc hay chuẩn mực được nhận thấy giảm (Agronick và Duncan, 1998; Robert và Helson, 1997).
Tất cả những thách thức cá nhân và văn hoá như vậy để lại dấu vết cho nhân cách. Một nhà lý
luận đương đại đã đưa ra ý kiến rằng nhân cách có thể được mô tả theo ba cấp độ để giải thích
sự phát triển liên tục trong tuổi trưởng thành. Các cấp độ này bao gồm những đặc điểm tâm tính,
những mối quan tâm cá nhân và quá trình sống (McAdams, 1994).

lai.
Allport tin rằng những người không dễ bị kích thích sẽ vận hành theo lý tính và nhận thức, họ có
ý thức và kiểm soát về những sức mạnh làm động cơ thúc đẩy mình. Rogers nghĩ rằng con
người là những sinh vật lý tính nguyên thuỷ, bị điểu chỉnh bởi lĩnh hội có ý thức về bản thân họ
và thế giới kinh nghiệm. Maslow cũng thừa nhận vai trò của nhận thức; ông đề xuất nhu cầu
nhận thức để biết và hiểu.
Kelly đã có một học thuyết hoàn chỉnh nhất dựa trên những yếu tố nhận thức. Ông lập luận một
cách thuyết phục rằng chúng ta tạo dựng những quan niệm về môi trường và những người xung
quanh chúng ta cũng và rằng chúng ta dự đoán (đề phòng) về chúng dựa trên những quan niệm
này. Chúng ta xây dựng những giả thuyết về thế giới xã hội của chúng ta và kiểm chứng chúng
trên thực tế kinh nghiệm của mình. Trên cơ sở những bằng chứng hàng ngày, sẽ khó từ chối
rằng con người phân tích, dự báo và lường trước những người khác xử sự như thế nào rồi thay
đổi hoặc thích nghi hành vi của mình cho hợp lý.
Bandura tin rằng con người với khả năng học hỏi qua hình mẫu và trao thưởng. Để làm vậy
chúng ta cần có thể tiên đoán trước và đánh giá đúng những hậu quả của những hành động mà
chúng ta quan sát được ở những người khác. Chúng ta hình dung hoặc tưởng tượng kết quả
hoặc phần thưởng từ việc cư xử giống với cách mà hình mẫu cư xử, mặc dầu vậy chúng ta
chẳng bao giờ có thể tự bản thân mình cảm thấy những hậu quả này. Rogers nhận định rằng
chúng ta tự lĩnh hội như những sinh vật có ý thức có khả năng ảnh hưởng những sự kiện. Chúng
ta tạo dựng những trông đợi có ý thức về phần thưởng để có thể tuân theo một hành vi nào đó,
và đánh giá đánh giá việc cư xử như vậy sẽ mang lại những phần thưởng nhất định. Như vậy có
sự chấp thuận rộng rãi về việc sự ý thức tồn tại và ảnh hưởng tới nhân cách. Tuy nhiên rất ít
nhất trí về vai trò, thậm chí sự tồn tại của ảnh hưởng khác, sự ảnh hưởng của vô thức.
Yếu tố vô thức
Sigmund Freud đã dẫn chúng ta đến thế giới vô thức, nơi chôn cất tối tăm những sợ hãi và xung
đột mơ hồ nhất, những thế lực ảnh hưởng đến suy nghĩ và ứng xử có ý thức. Nhiều nhà tâm lý
tìm thấy chứng cứ ủng hộ khải niệm của Freud cho rằng suy nghĩ và trí nhớ được nén lại trong
vô thức và sự nén lại này (cũng như những cơ chế tự vệ khác) có thể hoạt động ở cấp độ vô
thức. Song song với phong trào nhận thức trong tâm lý học không chỉ có lợi ích cho những quá
trình nhận thức mà cả những lợi ích được đổi mới trong vô thức. Nghiên cứu mới đây khẳng định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status