Những yếu tố góp phần xây dựng nên nhân cách - Pdf 73

Những yếu tố góp phần xây dựng nên nhân cách?
Yếu tố di truyền
Có cơ sở vững vàng khẳng định rằng nhiều đặc điểm nhân cách được di truyền trong đó có
thể kể đến:
Những khía cạnh về tâm thần, thần kinh và hướng ngoại của Eysenck (riêng về sự hướng
ngoại bắt nguồn từ công trình của Jung).
Năm yếu tố thần kinh, hướng ngoại, sự cởi mở trước cái mới, tính dễ thích nghi và sự tận
tâm của McCrae và Costa.
Ba tính cách gồm tính đa cảm, tính năng động và tính hoà đồng.
Hơn nữa nét tiêu biểu về sự tìm kiếm cảm giác của Zuckerman trước tiên bị ảnh hưởng bởi
yếu tố di truyền. Như vậy cách tiếp cận nét tiêu biểu tập trung vào sự ảnh hưởng của tính
di truyền vẫn rất quan trọng ngày nay và có thể trở thành phạm vi phát triển nhanh nhất
trong nghiên cứu nhân cách. Cái còn lại cần được xác định chính xác là có bao nhiêu yếu
tố di truyền, đặc điểm hay tính cách. 16 theo Cattell, 3 theo Eysenck, 5 theo McCrae và
Costa, 3 theo Plomin và Buss hay chưa được xác định như một số nhà lý luận khác?
Nghiên cứu trong tương lai về di truyền học hành vi có thể cung cấp them nhiều khía cạnh
nữa về nhân cách được hình thành bởi các yếu tố di truyền.
Không quan trọng có bao nhiêu đặc điểm, cũng không quan trọng khi đề xuất mạnh mẽ
nhất về cách tiếp cận di truyền học lập luận rằng nhân cách có thể được giải thích đầy đủ
và trọn vẹn bởi tính di truyền. Cái chúng ta thừa hưởng là những cái có, không phải số
phận, xu hướng hay điều chắc chắn. Liệu khuynh hướng di truyền từng được nhận thức rõ
phụ thuộc vào những điều kiện môi trường sống và xã hội đặc biệt là của thời kỳ thơ ấu.
Yếu tố môi trường sống
Tất cả các nhà lý luận về nhân cách mà chúng ta đã thảo luận thừa nhận tầm quan trọng
của môi trường xã hội. Alder nói về tác động của trật tự sinh, lập luận rằng nhân cách bị
ảnh hưởng bởi vị trí của chúng ta trong gia định trong quan hệ với anh chị em ruột. Chúng
ta được thấy nhiều hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau tuỳ theo độ chênh lệch tuổi
giữa các anh chị em ruột hoặc việc có anh chị em ruột hay không. Theo quan điểm của
Adler, những môi trường gia đình khác nhau này có thể tạo ra nhiều nhân cách khác nhau.
Horney tin rằng văn hoá và thời đại mà chúng ta được nuôi nấng cho thấy tác động của nó
chẳng hạn như tác động mà bà ghi chép được trong chứng loạn thần kinh chức năng được

của những sức mạnh xã hội và môi trường khác nhau tới nhân cách. Cách thức đáng kể
nhất mà tác động này được thể hiện đó là thông qua học tập.
Yếu tố nhà trường
Chứng cứ rất rõ ràng về việc học tập đóng vai trò chủ yếu ảnh hưởng đến hầu như mọi
khía cạnh của hành vi. Tất cả những ảnh hưởng môi trường và xã hội hình thành nhân cách
tác động tới hành vi thông qua việc học tập. Ngay cả những khía cạnh nhân cách được thừa
hưởng cũng có thể bị thay đổi, phá vỡ, ngăn chặn hoặc để cho phát triển bởi quá trình học
tập. Skinner (trên cơ sở công trình của Watson và Pavlov trước đó) đã cho chúng ta biết giá
trị của sự củng cố tích cực, sự tiếp cận liên tục, hành vi siêu việt và nhiều biến số học tập
khác như là sự tích luỹ những câu trả lời được học.
Bandura đưa ý tưởng rằng chúng ta học hỏi từ những mô hình quan sát (học tập quan sát)
và thông qua nhiều việc trao thưởng khác nhau. Đối với Rotter, việc trao thưởng là chìa
khoá. Ông lập luận rằng động cơ chính của chúng ta là tối đa hoá việc củng cố tích cực.
Bandura và Rotter đồng ý với Skinner rằng đa số các hành vi là được học và di truyền chỉ
đóng vai trò hạn chế.
Chúng ta đã bàn nhiều khía cạnh của nhân cách có bằng chứng khoa học để chỉ ra rằng
chúng được học tập chẳng hạn như nhu cầu của McClelland về thành đạt (vốn được đề
xuất bởi Murray). Hơn nữa, nghiên cứu đã chứng minh bằng tài liệu rằng việc học tập ảnh
hưởng đến tính hiệu quả của bản thân (Bandura), trọng tâm kiểm soát (Rotter), và sự không
tự lực được học (Seligman). Những quan niệm này dường như có liên quan đến một khái
niệm rộng hơn: mức độ kiểm soát. Những người tin rằng họ kiểm soát cuộc sống của mình
thường có mức độ hiệu quả cao, có điểm nội tại về kiểm soát và không đặc trưng cho sự
không tự lực (bao hàm việc thiếu kiểm soát). Trong thuật ngữ của Seligman những người
tin rằng họ trong trạng thái kiểm soát thường lạc quan hơn là bi quan.
Kiểm soát là có ích cho nhiều khía cạnh của cuộc sống và đại diện cho một trong những
phát triển lý thú nhất về nghiên cứu nhân cách trong những năm gần đây. Một mức độ
kiểm soát cao có liên quan đến những cơ chế đối phó tốt hơn, ít tác động áp lực hơn, có
sức khoẻ thể chất và tinh thần tốt hơn và kỹ năng xã hội và tính đại chúng lớn hơn. Dù với
bất cứ cái tên nào – tính tự hiệu quả, điểm nội tại về kiểm soát hay tính lạc quan - kiểm
soát được xác định bởi những yếu tố môi trường và xã hội. Điều này được học trong thời

tâm lý của tuổi trưởng thành chỉ rõ rằng thời thơ ấu của những người lớn trầm cảm và cáu
kỉnh có liên quan đến việc nuôi dưỡng con cái không thích hợp. Các bậc cha mẹ của họ
được cho là xa lánh và ngược đãi hơn và ít chăm sóc và tình cảm hơn so với cha mẹ của
những người lớn có ít vấn đề hơn (Brewin, Andrews, và Gotlib, 1993). Một nghiên cứu về
hơn 100 người mẹ phân loại họ dựa trên những yếu tố về tính đa cảm và tính dễ chịu.
Những người mẹ đặc trưng bởi những xúc cảm tiêu cực và không dễ chịu thì con của họ có
điểm cao hơn về tính kháng cự, sự cáu giận, không vâng lời và những vấn đề về hành vi
khác so với con của những người mẹ không có những phẩm chất xúc cảm tiêu cực
(Kochanska, Clark, và Goldman, 1997).
Điều gì xảy ra khi cha mẹ không là những người chăm sóc chủ yếu, đó chính là khi cha mẹ
chia xẻ những trách nhiệm với những người làm công việc chăm sóc ban ngày, bạn bè hoặc
thành viên gia đình khi họ phải làm việc xa nhà? Trong cuộc điều tra quốc gia hơn 15.000
trẻ em từ 3 đến 12 tuổi không phát hiện bất kể vấn đề gì đáng kể về hành vi hoặc lòng tự
trọng khi người mẹ có những công việc xa nhà. Những nhà nghiên cứu kết luận rằng việc
chăm sóc bởi những người khác với mẹ của trẻ không có bất cứ tác động tiêu cực nào tới
nhưng biến số nghiên cứu (Harvey, 1999).
Phòng thí nghiệm duy nhất về thế giới thực trong đó những vấn đề về những người chăm
sóc thay thế được khảo sát đó là nơi chăm sóc trẻ tập thể (nhà trẻ) tại khu định cư ở Israel.
Trong tình huống đó, những người mẹ rất chú tâm đến nhu cầu của con mình khi chúng
mới được vài tháng tuổi. Sau đó trách nhiệm chăm sóc trẻ được giao phó cho những người
chăm sóc chuyên nghiệp. Những đứa trẻ được những cha mẹ chăm sóc thay thế này quan
tâm nhiều hơn so với cha mẹ của mình.
Nhìn chung những đứa trẻ sống tập trung tỏ ra thích nghi tốt và bảo đảm chúng có môis
quan hệ an toàn với cha mẹ của chúng trong thời thơ ấu. Thực vậy, điểm mạnh của sự ràng
buộc là cái báo trước rõ nét nhất về những đứa trẻ sẽ trở thành vượt trội, độc lập và sự
thành đạt định hướng. Tuy nhiên những nơi ngủ như doanh trại (chẳng hạn như trại hè hay
trường nội trú) trong thời thơ ấu có thể dẫn đến sự hình thành một nhân cách cáu kỉnh, thận
trọng, dứt khoát hơn. Những người lớn được nuôi dưỡng trong nơi tập trung do không thể
liên hệ với cha mẹ hoặc người chăm sóc của họ tỏ ra nội tâm, khả năng kết bạn hạn chế, và
độ mạnh xúc cảm giảm sút trong mối quan hệ giữa các cá nhân (Aviezer, Van Ijzendoorn,

tiếp tục phát triển sau thời kỳ thơ ấu, có thể suốt cả quãng đời. Những nhà lý luận như
Cattell, Allport, Erikson và Murray cho rằng thời thơ ấu quan trọng nhưng đồng ý rằng
nhân cách có thể được thay đổi trong những năm sau. Một số nhà lý luận cho rằng sự phát
triển nhân cách tiếp tục được duy trì trong thời kỳ niên thiếu. Jung, Maslow, Erikson và
Cattell lưu ý rằng thời trung niên là thời kỳ thay đổi nhân cách rõ nét.
Vấn đề là nhân cách của chúng ta tiếp tục thay đổi và phát triển bao lâu? Liệu cái tôi của
bạn vào tuổi 20 cho biết bạn sẽ như thế nào vào tuổi 40? Như với tất cả những câu hỏi liên
quan đến nhân cách, câu hỏi này đã trở thành một câu hỏi đặc biệt phức tạp. Có lẽ đó thậm
chí không phải là một câu hỏi đáng đặt ra.
Có thể không làm bạn ngạc nhiên khi biết rằng bằng chứng thực nghiệm chứng minh nhiều
quan điểm khác nhau (xem Matthews và Deary, 1998). Vậy nhân cách có thay đổi không?
Có. Nhân cách có bền vững không? Có thể có. Nhưng nếu chúng ta phải trau chuốt câu hỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status