Cao su blend - tình hình nghiên
cứu và ứng dụng ở Việt Nam
Cao su thiên nhiên (CSTN) là hợp chất cao phân tử trong nhựa cây cao su (Hevea
Brasiliensis), được phát hiện và ứng dụng lần đầu tiên vào cuối thế kỷ 16 tại Nam Mỹ,
nhưng mãi đến năm 1839, khi Chales Goodyear phát minh ra quá trình lưu hóa thì vật
liệu này mới được ứng dụng rộng rãi trong đời sống và kỹ thuật.
Trong quá trình sử dụng, người ta thấy một số tính năng kỹ thuật của CSTN còn bị hạn
chế (như kém bền dầu mỡ, môi trường, ), nên đến đầu thế kỷ 20 nhiều loại cao su tổng
hợp (CSTH) với những tính chất đặc biệt đã lần lượt được nghiên cứu sản xuất như cao
su clopren (CR) năm 1931, butađien (BR) năm 1932, styren - butađien (SBR), nitril -
butađien (NBR) năm 1937 và silicon (chẳng hạn cao su polydimetyl siloxan - PDMS)
năm 1945. đến giai đoạn 1955 - 1970, trên thị trường xuất hiện tiếp các loại cao su nhiệt
dẻo như cao su etylen-propylen-đien đồng trùng hợp (EPDM), polyuretan (PU), Các
loại CSTH đã khắc phục được những hạn chế của CSTN như NBR bền dầu mỡ, CR và
EPDM bền môi trường, hoặc nhiều loại cao su silicon có khả năng cách điện cao Tuy
nhiên hầu hết các loại CSTH đều có giá thành khá cao và một số loại (như cao su
EPDM, silicon) có độ bền cơ học thấp. Chính vì vậy, vấn đề phối hợp những ưu điểm của
các loại CSTH với nhau hay với CSTN hoặc một số vật liệu cao phân tử khác để nhận
được cao su blend, một loại vật liệu tổ hợp với những đặc tính mong muốn, đã trở thành
vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ khoảng hơn ba chục năm trở lại đây. Theo hướng
này, người ta đã chế tạo và ứng dụng các loại cao su blend từ CSTN, CSTH hoặc polyme
nhiệt dẻo. Vật liệu này có một số ưu thế cơ bản so với các loại vật liệu cao su truyền
thống, đó là:
- Lấp được khoảng trống về tính chất công nghệ và giá thành giữa các loại cao su và
polyme thành phần. Qua đó người ta có thể tối ưu hóa về mặt giá thành và tính chất của
vật liệu sử dụng.
- Tạo khả năng phối hợp tính chất mà những loại vật liệu khác khó có thể đạt được, do
vậy đáp ứng những yêu cầu cao của hầu hết các lĩnh vực kỹ thuật.
kích thước cũng như độ bền nhiệt dưới tải trọng của vật liệu.
Những tổ hợp không tương hợp là những tổ hợp mà trong đó có các pha khác nhau (dù
rất nhỏ).
Trên thực tế, có rất ít các cặp polyme (trong đó có cả cao su) tương hợp với nhau về mặt
nhiệt động. đa phần chúng không tương hợp với nhau, nên khi trộn lẫn chúng thường tạo
thành các vật liệu tổ hợp (vật liệu blend) có cấu trúc không tương hợp thuộc một trong
ba dạng như trong hình dưới đây:
Từ kết quả nghiên cứu, người ta đã chỉ ra rằng sự tương hợp của các cấu tử trong tổ hợp
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: bản chất hoá học và cấu trúc phân tử của các polyme
thành phần, khối lượng phân tử và sự phân bố khối lượng phân tử của các polyme thành
phần, tỷ lệ các cấu tử trong tổ hợp; năng lượng bám dính ngoại phân tử; nhiệt độ gia
công; v.v
Sự tồn tại của những tổ hợp blend không tương hợp, trong đó có cao su blend, có nguyên
nhân liên quan đến sự phân bố pha, kích thước hạt và khả năng bám dính pha không đạt
yêu cầu. Những yếu tố này lại bị nhiều điều kiện chi phối, nhất là những điều kiện chuẩn
bị và gia công vật liệu. Trong thực tế, để tăng độ tương hợp của các cấu tử trong tổ hợp,
người ta dùng các “chất tương hợp” (như các copolyme, olygome đồng trùng hợp hoặc
các chất hoạt tính bề mặt, ) và chọn chế độ chuẩn bị cũng như gia công thích hợp cho
từng hệ blend thông qua việc khảo sát tính chất lưu biến của vật liệu.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy các cấu tử có bản chất và cấu tạo hóa học giống nhau
thường dễ tương hợp với nhau. Trong khi đó, những cấu tử có bản chất và cấu tạo hóa
học khác nhau hoặc khác nhau về độ phân cực sẽ khó tương hợp với nhau. Trong những
trường hợp này, cần phải dùng các “chất tương hợp”.
Để chế tạo cao su blend, người ta có thể tiến hành trộn trực tiếp các loại cao su/polyme
sản lượng khoảng 200 nghìn tấn/năm. Trong đó săm lốp các loại chiếm 70%, các loại
đệm cao su xốp, găng tay, chiếm 15%, còn các sản phẩm cao su kỹ thuật chiếm một
phần rất nhỏ. đến nay, hàng năm CNCS nước ta tiêu thụ khoảng 80 nghìn tấn CSTN (chỉ
bằng 14% tổng sản lượng sản xuất trong nước), trong khi đó vẫn phải nhập khẩu gần như
toàn bộ CSTH và các nguyên liệu phụ trợ khác. Ngoài ra, chúng ta cũng phải nhập khẩu
để đáp ứng phần lớn nhu cầu trong nước về sản phẩm cao su kỹ thuật. Từ đó có thể thấy
một nghịch lý là trong khi xuất khẩu CSTN nguyên liệu giá rẻ và không ổn định thì
chúng ta lại phải nhập khẩu một khối lượng lớn sản phẩm cao su kỹ thuật giá cao. Do đó
việc nghiên cứu sản xuất các sản phẩm cao su kỹ thuật từ CSTN để phục vụ nhu cầu
trong nước và xuất khẩu đang là vấn đề rất cần được quan tâm hơn, bởi nó không chỉ
mang ý nghĩa về khoa học, mà còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội cao.
Thực tế ở nước ta, vấn đề nghiên cứu cao su blend mới chỉ được quan tâm từ đầu những
năm 90 của thế kỷ trước, nhưng lĩnh vực này đang có cơ hội phát triển. Theo các chuyên
gia trong ngành, việc phát triển nghiên cứu chế tạo và ứng dụng cao su blend là nhằm vào
mục tiêu sản xuất các sản phẩm cao su kỹ thuật từ loại vật liệu này trên cơ sở sử dụng
CSTN theo hướng cải thiện các tính năng cơ lý, kỹ thuật của vật liệu và áp dụng công
nghệ chế tạo các sản phẩm cao su kỹ thuật với giá thành hợp lý để mở rộng phạm vi ứng
dụng nguồn CSTN sẵn có trong nước.
Theo hướng trên, các tác giả ở Trung tâm Nghiên cứu vật liệu polyme (Đại học Bách
khoa Hà Nội) đã nghiên cứu chế tạo cao su blend từ CSTN với CR và ứng dụng làm các
khe co giãn, gối cầu phục vụ xây dựng các công trình giao thông đường bộ. Các tác giả ở
Viện Kỹ thuật Nhiệt đới, Viện Hóa học (thuộc Viện KH&CN Việt Nam - VAST) đã
nghiên cứu chế tạo cao su blend từ CSTN và một số nhựa nhiệt dẻo như polypropylen
(PP) hoặc polyetylen (PE) để chế tạo tấm đệm ray đường sắt, đệm chống va đập tàu biển.
Cao su blend từ CSTN epoxy hóa (ENR) với nhựa polyvinyl clorua (PVC) được các tác
giả của Viện Hóa học Vật liệu (Viện KHKT & CNQS) nghiên cứu chế tạo và ứng dụng
làm các loại gioăng, phớt chịu dầu, ủng chữa cháy, một số dụng cụ cứu hỏa cho nhà cao
tầng, v.v đi sâu nghiên cứu chế tạo và ứng dụng một cách có hệ thống các loại cao su