CÁC HỘI CHỨNG Ở CÁC KHOANG
Người ta quan tâm nhiều đến việc chẩn đoán, điều trị và cơ sở sinh lý
bệnh đối với hội chứng ở các khoang. Thực thể bệnh lý này có đặc điểm
tăng áp lực mô kẽ ở bên trong khoang cơ có kèm rối loạn tuần hoàn và chức
năng của cac thành phần cơ và thần kinh huyết quản của khoang này.
Thường gặp là hiện tượng thiếu máu cục bộ nhất thời gây phù cơ khi tuàn
hoàn được hồi phục. Tình trạng xuất huyết bên trong khoang hoặc chấn
thương cơ trực tiếp có thể làm tăng áp lực của hội chứng khoang. Nếu nhận
dạng thực thể bệnh lý này thì người ta có thể làm giảm áp lực(thông thường
bằng cách rạch rộng và cân tại chỗ) và tuần hoàn và chức năng của các cơ và
các thành phần thần kinh huyết quản có thể được phục hồi.
Có nhiều labo đã nghiên cứu sinh lý bệnh học của hội chứng khoang
(Hargen và Akeson 1981). Tình tạng tăng áp lực trong khoang là do tănh
dịch thoát ra hoặc do xuất huyết, phù nội tế bào hoặc ngoại tế bào. Người ta
cho rằng các áp lực tới hạn quả mức có thể làm tổn thương cơ đáng kể vào
khoảng 40 mmHg hoặc với áp lực máu tâm trương ở mức 10-30 mmHg.
Khi áp lực bên trong khoang đạt tới mức cao thì người ta cho rằng sự
tưới máu mao quản bị ảnh hưởng và khối cơ trong khoang đó bị thiếu máu,
mức áp lực cần thiết làm ảnh hưởng đến tần hoàn mao mạch sẽ không nhất
thiết làm tắc các động mạch lớn đi tới khoang đó. Do vậy, nếu vẫn sờ thấy ở
mạch ngoại vi đối với khoang thì vẫn không ngoại trừ sự hiện diện của hội
chứng khoang. Chẩn đoán lâm sàng dựa vào triệu chứng đau nhất là khi duỗi
chủ động chi, áp lực khoang tăng khi sờ vào và chức năng thần kinh bị giảm
như đã được ghi nhận khi đánh giá sự phân bố cảm giác của thần kinh trong
khoang. người ta dã chứng minh hiện tượng bất thường trong chức năng thần
kinh khi áp lực khoang tăng.
Các hội chứng kgoang cấp diễn thấy xuất hiện với đủ các loại tổn
thương trong thể thao (Kennedy và Roth, 1979). Thường gặp nhất là là tổn
thương trực tiếp xương hoặc mô mềm, các cầu thủ bóng đá có thể dễ bị tổn
thương trực tiếp ở chi dưới. người ta đã khuyến nghị nên dùng các dụng cụ
viên phải ngừng hoặc giảm cường độ luyện tập. Các triệu chứng thường xảy
ra cả hai bên, cũng có thể thay đổi cảm giác đôi khi có quá trình thoát vị cơ
và hiện tượng này có thể gần lá cân cơ mà qua đó nhánh thần kinh bề mặt
phân bố để đi tới lớp dưới da.
Hội chứng khoang mạn hay hồi quy là hội chứng khó chẩn đoán. Đặc
điểm đầu tiên của hội chứng mạn này là tăng áp lực tên mức bình thường khi
luyện tạp và áp lực tăng trở lại bình thường khi kết thúc luyện tập. Điều trị
hội chứng khoang mãn hoặc hồi qui gồm thủ thuật lá cân cơ có chọn lọc của
một khoang duy nhất nếu các biện pháp bảo tồn và giảm luyện tập không kết
quả. Các kết quả sau phẫu thuật trong số ít trường hợp đã tỏ ra đáng khích lệ
chủ quan và chỉ số áp lực trở lại gần bình thường. Cần biết rằng việc giải
phóng lá cân cơ lại có thể làm ảnh hưởng xấu đến lực của một cơ và do vậy
thủ thuật này không nên tiến hành nếu không chẩn đoán và khuyến nghị
chính xác (Gartin và CS, 1981).
Hội chứng giữa xương chày
Hội chứng giữa xương chày (nẹp ống chân) có nghĩa là triệu chứng
đau do luyện tập làm tổn thương 1/3 giữa xương chày, người ta đã cho nó là
một hội chứng khoang sâu ở phía sau và mang tính chất tái phát (Pranen,
1974; Bryk, 1983). Tuy vậy, do áp lực bên trong khoang phía trước và sau
thì không thấy tăng (d’Amborosia và CS, 1977). Hội chứng này phần lớn do
phản ứng stress của xương hoặc cơ xuất phát từ xương đó, đáp ứng với sự sử
dụng lắp di lắp lại. Đặc điểm của hội chứng là đau theo mặt giữa của xương
chày nơi bám của cơ và gân bám vào xương. Hội chứng này thường gặp hơn
ở vận động viên có “bàn chân bẹt”.
Những tổn thương căng cơ
Ý nghĩ lâm sàng của các thương tổn cơ bị căng dễ dàng nhận ra với
người điều trị bệnh nghề nghiệp hay liên quan đến thể thao, và là thương tổn
hay gặp nhất rong thể thao (Ryan, 1969; Glick,1980). nếu không hiểu biết
chắc chắn cơ chế bệnh học thì khó thống nhất được các phương pháp phòng
ngừa, chữa trị chứng bệnh dễ gây thiểu lực này.
ở bề nông của chi đi qua hai hay nhiều khớp.
Các dữ kiện lâm sàng tương đối còn tản mạn về phương diện đánh giá
bản chất đích thực trong cac thay đổi khi chấn thương. Tổn thương sau căng
cơ có thể là một phần hay toàn phần thường ở những cơ không đối xứng lúc
nghỉ ngơi so sánh với cơ bên kia. Khi co thì cơ sẽ phồng lên về phía vị trí
của gân và cơ còn dính vào xương.
Về mặt lâm sàng, các thương tổn căng cơ có thể phân biệt với đau cơ
muộn, một tổn thương căng cơ là cấp diễn thườnh là mọt triệu chứng đau mà
bệnh nhân có thể khi bị thương tổn, còn đau cơ muộn thường xảy ra 12-24
giờ sau luyện tập và thường không thấy dược đó là thương tổn duy nhất. Hai
kiểu thương tổn này giống nhau ở chỗ dễ xảy ra khi luyện tập cơ bị duỗi quá
mạnh. Các thương tổn không hoàn toàn có một đặc điểm đau và sưng cục bộ
nhiều hơn, hnhưng cả hai kiểu thì hiện tượng duỗi cơ thụ động và co cơ chủ
động đều gây đau. Do vậy, đau cơ mộn có thể là một biến cố của thương tổn
căng cơ không hoàn toàn tại tổn thương gữa xương chày.
Vị trí những thay đổi bệnh lý trong cơ bị căng gần đây mới xã định
được nơi dễ bị tổn thương gần MTJ (chỗ nối cơ-gân) hay gần chỗ bám của
gân vào xương. Cac tổn thường xảy ra ở chính bụng cơ và thường xảy ra gần
MTJ nhưng không đích xác ở chỗ nối theo mô học. mặc dù việc thăm dò giải
phẫu các thương tổn cơ không theo thường quy song có một chỉ dẫn về
thương tổn. các nghiên cứu này đã khẳng định các vết rách ở phần nối gân-
cơ: 1) Đầu giữa cơ bụng chân người ta thường gọi không đúng là rách cơ
gân chân; 2) Cơ thẳng đùi; 3) Cơ tâm đầu cánh tay; 4) Cơ khép dài; 5) Cơ
ngực lớn; 6) Cơ bám màng.
Gần đây hơn bằng cách nghiên cứu hiện hình đã định vị bằng cac
thương tổn cấp diễn của cơ dính kheo tại chỗ nối cơ-gân (hình 6.4). nhà lâm
sàng học thường ngạc nhiên khi do kích thước ở chỗ dính cơ-gân. Các cơ
kheo chẳng hạn có chỗ bám cơ-gân bị kéo dài ở vùng mông phía sau, Các
gân ở gần và chỗ nối cơ gân của cơ nhị đầu đùi và cơ bám màng thì có thể
duỗi ra, kéo dài ra tới nửa chiều dài các cơ đó.
tạo ra do hoạt động cơ tỷ lệ thuận với cac vùng cắt ngang của cac thớ cơ có
khả năng co ngắn thì tỷ lệ thuận với chiều dài thớ cơ. Các quan niệm này
được đem ứng dụng trong hoạt động cơ bắp của người. người ta có cảm
tưởng rằng những yếu tố sinh cơ học của cơ xảy ra khi căng cơ có thể liên
quan đến chiều dài thớ cơ. Tuỳ theo mức căng cơ dựa trên chiều dài cơ biến
thiên rất nhiều từ 75-225% chiều dài thớ cơ lúc nghỉ. Các nghiên cứu trước
đây cho thấy các đầu mút của cac thớ cơ gần chỗ nối gân-cơ không bị căng
bằng những vùng gần trung tâm thớ cơ. Vào lúc này người ta không chắc
các đầu nút thớ cơ gần chỗ nối cơ gân có tác đọng khác như vậy và tại sao
lại dễ thương tổn. Một nghiên cứu gần đây đã thử điịnh khu chính xác hơn vị
trí thương tổn. Người ta thấy sau 60 phút thương tổn, các thớ cơ bị đứt đã
làm cho các cơ-gân co ngắn lại nội trong 100 mm tại nơi bị đứt cả ở phía gần
lẫn xa nơi thương tổn.Chiều dài cơ vân càng xa nơi thương tổn càng dài ra
và được trở lại bình thường vào khoang 500mm. Các thớ cơ đánh giá 6 giờ
sau thương tổn cho thấy có bằng chứng hoại tử trước khi qua giai đoạn
chuyển tiếp tới cơ vân bình thường. Sự hiện diện của sự co quá mức trong
cac thớ cơ vào phát thứ 60 và hiện tương hoại tử đôi khi thấy trong các thớ
cơ vào giờ thứ 6 khiến người ta nghĩ rằng thương tổn do ion calci gây ra
đang tiếp diễn. Bất kể thời gian sau chấn thương là bao llâu, chiều dài của cơ
vân sẽ trở thành bình thường vào khoảng 500mm tính từ vị trí bị đứt, điều
này gợi ra rằng có một hàng rào bảo vệ hoặc sửa chũa có hiệu lực làm hạn
chế thương tổn đáp ứng với một khoảng cách nhỏ cách vị trí thương tổn đầu
tiên. Người ta kết luận rằng ion calci đi vào tế bào chịu trách nhiệm gây ra
thương tổn ấy. Phát hịên có ý nghĩa lâm sàng vì ít các nghiên cứ trên người
bệnh có hội chứng đau cơ không được phân loại do hoạt động quá sức
(IMPS) cho thấy dùng vetartamin đã cải thiện được các triệu chứng ở 50%
số trường hợp bệnh nhân (Lane và CS, 1986).
Thực nghiệm được tiến hành để do tính chất sinh cơ học của cơ được
kích thích (Garrett và CS 1988b). Tình trạng tăng toàn phần trước thương
tổn thì không khác so với các trường hợp kích thích cơn giật, kích thích
Người ta cũng đánh giá sức căng cơ sau khi một tổn thương căng cơ
không gãy, dập nát. Lực cơ không bị kích thích chỉ phục hồi tới mức 77% so
với bình thường vào ngày thứ 7 trái với sự phục hồi 90% của khả năng sinh
ra lực chủ động. Do vậy mỗi thương tổn trước đó có thể tạo điều kiện gây
thương tổn sau này và để phát triển cơ sở khoa học hợp lý cho các phương
pháp điều trị của chúng ta.