Xã hội học giáo dục - Pdf 18

1
Học viện quản lý giáo dục
tiểu luận
X HI HC GIO DC
Họ và tên: Đỗ Trờng Sơn
Lớp: K2 - QLGD
Đơn vị: Thái Bình
Hà nội - năm 2010
MỞ ĐẦU
Nếu nhìn nhận giáo dục như một động lực phát triển hết sức quan trọng của xã hội
vì nó đã tạo một trong những yếu tố cơ bản cho nền kinh tế là nguồn nhân lực, và sâu xa
hơn, giáo dục là nền tảng, là sự bắt đầu cho tất cả các giá trị của con người thì việc ngồi
lại cùng nhau để bàn về thực trạng giáo dục Việt Nam và loay hoay để đưa ra giải pháp
như bấy lâu nay ta vẫn làm cũng đã là muộn màng, nhưng thà muộn còn hơn không.
Thực tế không chỉ có giáo dục mà tất cả mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, trên con đường
công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhất là trước ngưỡng cửa hội nhập thế giới, đều phải
chạy đua và đang trong giai đoạn “nước rút”. Mỗi lần vượt qua một chặng đường, người
làm kinh tế thì bận điều chỉnh, bổ sung quy định, quy chế, còn người làm giáo dục thì lo
cải cách chương trình, phương pháp cho phù hợp. Vì vậy, từ lâu cụm từ “cải cách giáo
dục” trở nên quen thuộc như một thành ngữ. Ở nước ngoài, người ta muốn làm một cuộc
cải cách phải tốn kém bạc tỷ và điều cốt lõi là phải biến đổi từ tư duy, nhận thức của con
người, còn ở Việt Nam, xem ra “cải cách” dễ dàng quá. Và có lẽ vì vậy mà hiệu quả
chưa cao. Không rõ Bộ Giáo dục đã tiến hành cải cách chính xác là bao nhiêu lần, nhưng
đến nay, thực trạng giáo dục vẫn còn nhiều điều bức xúc. Trong phạm vi nghiên cứu xã
hội học giáo dục, xin được đưa ra một vài nhận định, phân tích cá nhân về thực trạng
giáo dục Việt Nam và lạm bàn một số giải pháp để cùng tham khảo.
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM :
1. Giáo dục là gì?
- Giáo dục là quá trình hình thành và nâng cao phẩm chất, đạo đức, kiến thức, kỹ
năng, khả năng hành động của con người thông qua tất cả các dạng học tập.
- Giáo dục học là một khoa học nghiên cứu thực thể giáo dục với tư cách là một hệ

tầng như trong “xã hội khép kín” (theo quan niệm “con quan mới được làm quan”). “Xã
hội mở” dựa trên sự phát huy năng lực của những cá thể tiến bộ và sự thụt lùi của những
cá thể yếu kém. Ngày nay, thực tế đã chứng tỏ quan điểm trái ngược với nếp nghĩ “con
sãi ở chùa thì quét lá đa” khi một người công nhân hoàn toàn có thể phấn đấu để trở
thành giám đốc, trong khi con giám đốc, với xuất phát điểm cao hơn về kinh tế vẫn có
thể bị thất nghiệp nếu không có năng lực.
Với lý thuyết chức năng, hệ thống giáo dục ra đời nhằm đảm bảo quá trình xã hội
hóa cá nhân. Đây là một chức năng không kém phần quan trọng khi giáo dục là người
truyền đạt giá trị của một cộng đồng, và trong bối cảnh hiện nay, quá trình xã hội hóa cá
nhân diễn ra từ rất sớm, theo từng cấp độ. Xã hội ngày càng phát triển cùng với sự biến
đổi của các giá trị vật chất lẫn tinh thần, vai trò của người phụ nữ ngày càng được khẳng
định không những trong gia đình mà còn ra ngoài xã hội. Do đó, những đứa con sớm
được tham gia vào quá trình xã hội hóa cá nhân mà nhà trường chính là môi trường đầu
tiên.
Hệ thống giáo dục ra đời còn góp phần cố kết xã hội và định vị xã hội cho các cá
nhân. Mỗi cá nhân được định vị xã hội khác nhau do quá trình học tập, được giáo dục,
dựa vào kết quả và nghề nghiệp được đào tạo trong nhà trường.
* Tuy nhiên theo lý thuyết chức năng, vị trí xã hội đạt được phụ thuộc vào biến số
duy nhất là kết quả học tập nhưng kết quả này lại phụ thuộc vào cơ hội giáo dục ngang
nhau và năng lực cá nhân. Trên thực tế, xã hội có nhiều hiện tượng, nhiều tác động khác
nhau mà lý thuyết chức năng không giải quyết được. Trong nhiều trường hợp, cơ hội
giáo dục có thể ngang nhau nhưng điều kiện giáo dục lại không giống nhau.
2. Quan điểm trường phái lý thuyết xung đột :
3
Quan điểm này cho rằng nguồn gốc xuất thân có tác động rất mạnh, hầu như là duy
nhất lên kết quả học tập. Theo đó, hệ thống giáo dục được xem như là cơ chế tái tạo sự
bất bình đẳng trong xã hội. Vì vậy, xã hội “mở" bị hạn chế, thậm chí gần như khép kín.
Theo quan điểm này, kết quả giáo dục xuất phát từ xuất thân chứ không phải do
năng lực cá nhân. Do điều kiện kinh tế cao hơn, khả năng phấn đấu sẽ tỉ lệ nghịch với
xuất phát điểm. Tuy nhiên, thực tế xã hội vẫn luôn là bức tranh hết sức phức tạp mà lý

những sinh viên nhanh chóng tìm được cơ hội việc làm cho mình ngay khi còn ngồi trên
ghế giảng đường và sớm thành đạt, nhưng cũng có không ít sinh viên sau khi ra trường
lại thất nghiệp.
Tuy nhiên, dưới sự phân hóa và tác động nhiều mặt của xã hội, giáo dục vẫn chưa
mang lại những cơ hội tương xứng với khả năng của các cá thể. Ai cũng được đến
4
trường, học tập nhưng điều kiện giáo dục ở trường chuyên lại khác với trường điểm và
càng khác xa so với trường thường; giáo dục đô thị khác với giáo dục nông thôn và càng
khác xa với giáo dục vùng sâu, vùng xa. Người làm giáo dục đã cố gắng giảm bớt những
thiệt thòi khách quan về điều kiện học tập giữa các đối tượng ở các vùng miền nhằm
đảm bảo công bằng nhưng đó chưa phải là giải pháp tối ưu để đạt được mục tiêu nâng
cao năng lực sinh viên và đem lại cho họ nhiều cơ hội công việc hơn. Bên cạnh đó, thực
tế xã hội cũng cho thấy, nguồn gốc, xuất thân cũng ảnh hưởng không ít đến quá trình tìm
kiếm, nắm bắt cơ hội của mỗi người. Mặc dù vậy, một hệ thống giáo dục phát triển nhất
thiết không phải là cơ chế tái tạo sự bất bình đẳng, dù sự công bằng đạt được chưa phải
là tuyệt đối. Do đó, nền giáo dục Việt Nam đang từng bước hướng đến mục đích công
bằng, hạn chế những cản trở xuất phát từ nguyên nhân văn hóa (nguồn gốc, giai cấp,
giới tính…) để phát huy năng lực thực sự của mỗi cá thể, khai thác tối đa tiềm năng
nguồn nhân lực để tham gia vào các quá trình xã hội khác.
III. THỰC TRẠNG NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY :
“Thầy giáo tháo giầy” - Đó là cách nói châm biếm mà xưa nay người ta thường
dùng để ám chỉ cái nghèo của nghề nhà giáo. Trong bối cảnh xã hội phát triển như hiện
nay, người thầy nếu không muốn “tháo giầy” thì phải tích cực dạy thêm. Lâu nay, báo
chí, dư luận không ngừng lên án chuyện “dạy thêm, học thêm” nhưng lời giải cho chất
lượng cuộc sống của người thầy vẫn còn bỏ ngỏ. Kinh tế đã phát triển qua bao nhiêu
chặng đường, chỉ tiêu tăng trưởng của các ngành nghề đều “năm sau cao hơn năm
trước”, chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện. Thế nhưng, lương giáo viên
thì vẫn “muôn năm cũ”. Thêm vào đó, sự ràng buộc của cơ chế, chính sách, bộ máy
quản lý chồng chéo giữa Bộ - ngành giáo dục và chính quyền các cấp, sự can thiệp quá
sâu của nhà nước vào nội bộ ngành giáo dục nói chung và các trường nói riêng phần nào

quẩn của cơ chế tập trung quan liêu, nhưng nếu đã coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”
thì điểm xuất phát của công cuộc cải cách quốc gia phải là nền giáo dục, trong đó chính
sách phát triển trường tư để chuyển bớt gánh nặng tài chính cho nhân dân, thúc đẩy xã
hội hóa giáo dục để mở rộng quy mô đại học, đáp ứng yêu cầu học tập của người dân,
mạnh dạn mời gọi các nhà đầu tư, kể cả nước ngoài, mở thêm đại học tư, cải cách cơ chế
quản lý tạo động lực cạnh tranh, tăng hiệu quả các hoạt động giáo dục là những việc
làm hết sức cần thiết để có một nền giáo dục phát triển và tiến bộ .
Cải cách giáo dục : bất cập và bất công
Sự bất cập tồn tại trong cả khâu đào tạo và thi cử. Ai cũng thấy và vì thế nên phải
nhanh chóng cải cách. Và càng ngày mật độ cải cách càng tăng.
Trước tiên là cải cách phương pháp giáo dục. Cảnh tượng người thầy cứ thao thao
bất tuyệt trên bục giảng còn học trò bên dưới thì cứ cặm cụi ghi ghi chép chép đã là một
hình ảnh đẹp đáng trân trọng về vai trò tuyệt đối của người thầy suốt hằng mấy thế kỷ
nay. Thế nhưng nó không còn phù hợp bởi ngày nay, người học không chỉ biết đón nhận
những gì do thầy, cô truyền đạt mà còn phải nhận thức rằng : lời giảng của thầy không
phải lúc nào cũng đúng và đủ. Nếu như cứ tuân thủ cái khuôn mẫu điển hình cố hữu,
trong đó, người thầy đóng vai trò trung tâm và độc quyền rao giảng những kiến thức
được xem như là chân lý thì đến bao giờ người học mới có cơ hội bộc lộ tài năng của
mình. Cái bệnh thụ động trong cách học của đa số học sinh, kể cả sinh viên, đến bây giờ
vẫn chưa chữa trị được. Yêu cầu dạy học ngày nay được đề ra theo 6 cấp độ : cung cấp
kiến thức, tự hiểu biết, thực hành ứng dụng, phân tích, tổng hợp, so sánh và đánh giá.
Điều kiện dạy và học của giáo viên và học sinh ở Việt Nam hiện nay với cách làm việc
vốn có, không chịu đổi mới thì chỉ đáp ứng được cấp độ 1 là phổ biến, chỉ cung cấp
thông tin, “đong” cho hết chữ còn các kỹ năng khác thì bỏ qua, trong khi chính các cấp
độ còn lại mới là cần thiết cho người học sinh trưởng thành.
Điều bất cập thứ hai là chương trình giáo dục. Không hẳn là chương trình giáo dục
quá nặng như người ta vẫn kêu ca mà vì với cách dạy và học như ta vẫn làm thì vô hình
chung, đã biến học sinh thành những “con vẹt” hoặc chỉ là những bộ nhớ máy tính bị
quá tải không hơn không kém. Phương châm giáo dục là đào tạo con người toàn diện,
nhưng trên thực tế không phải vậy. Sự chênh lệch trong chương trình giữa khoa học tự

các trường tốp đầu, giải pháp “3 chung” chỉ là giải pháp mang tính tình thế trong những
sửa đổi hoàn toàn mang tính tình thế của giáo dục hiện nay và đến nay, giải pháp này đã
hết vai trò lịch sử.
“Cái sảy nảy cái ung”, trong bất cập lại phát sinh bất bình đẳng. Chỉ nói riêng về
sách giáo khoa đã thấy rõ điều này. Các gia đình nghèo cho con đi học đã khó, lo được
sách giáo khoa là cả một vấn đề vì sách giáo khoa đắt quá, mà mỗi năm lại phải mua
mới. Rồi còn bao nhiêu khoản tốn kém khác cho phương tiện học tập. Làm sao khuyến
khích học sinh nghèo đi học? Đương nhiên không thể đòi hỏi công bằng ngay được
nhưng cũng phải thấy chính sách của ta còn quá nhiều thiếu sót để đảm bảo công bằng
cho mọi người về cơ hội học tập và thành đạt.
Gian lận trong thi cử cũng là một bất công gây bức xúc. Chưa bao giờ nạn gian dối
trong thi cử công khai và tràn lan như hiện nay, đặc biệt ở một số địa phương, nó còn
được sự tiếp tay từ phía gia đình, nền tảng của xã hội. Thế mới có chuyện con em ngồi
7
thi bên trong chờ cha - mẹ, anh - chị đứng bên ngoài quăng đáp án vào. Cho nên có hai
thứ mà nhà trường của ta và xã hội ta chưa giáo dục tốt cho thanh thiếu niên là trung
thực và sáng tạo. Ở trường đại học, cứ đến mùa thi, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên phải
phát động thành phong trào “nghiêm túc trong thi cử” để kêu gọi một cách vô vọng sự
trung thực của nhiều sinh viên “học là chín, chơi là mười”. Tuy nhiên, vì nhiều lý do,
mặc dù đã có cuộc vận động “Hai không” do Bộ GD&ĐT phát động, song nạn gian lận
vẫn diễn ra, một số sinh viên, học sinh vẫn ung dung vượt qua các kỳ thi và tốt nghiệp ra
trường với hành trang kiến thức trống rỗng.
Hiện nay, học hành, thi cử, nhất là các kỳ thi tốt nghiệp cứ diễn ra theo kiểu học
dồn, thi góp. Cả quá trình học tập bị coi nhẹ, kỳ thi cuối cấp lại quá áp lực, căng thẳng.
Nếu như trong từng năm học, từng học kỳ, đối với từng môn, thậm chí từng chương,
từng phần đều được qui định kiểm tra, đánh giá chặt chẽ, buộc học sinh phải học hành
nghiêm túc Đến cuối cấp, lấy kết quả tổng hợp để xét công nhận tốt nghiệp thì dù có
đỗ 99 hay 100% cũng là kết quả tự nhiên. Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý việc đánh giá ở
từng bài kiểm tra, từng bài thi trong suốt quá trình học tập phải được kiểm định và giám
sát một cách chặt chẽ, đưa ra những số liệu đáng tin cậy.

là một trong những biện pháp đào tạo để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo. Thêm
vào đó, tình trạng sinh viên ra trường có tâm lý thích làm việc tại các trung tâm kinh tế
lớn đã làm cho căn bệnh thiếu giáo viên ngày càng trầm kha ở các địa phương vùng sâu,
vùng xa. Lúc này chính là thời điểm vào cuộc của nhà nước với những chính sách đãi
ngộ nhằm thu hút nhân tài ngành giáo dục.
Chất lượng giáo dục phải được xem xét theo mục tiêu đào tạo con người là chính
với những phẩm chất, kỹ năng cần thiết và kết quả đào tạo phải là sự phản ánh trung
thực những sản phẩm được đào tạo ra. Không riêng gì ngành giáo dục, bệnh thành tích
là căn bệnh chung của toàn xã hội, là di chứng của cách làm việc quan liêu, bao cấp
trước đây. Mắc bệnh này, ai ai cũng phải “chạy”. Chạy chương trình, chạy chỉ tiêu, chạy
điểm
Nâng cao chất lượng ngành giáo dục không phải là nhiệm vụ của riêng ngành giáo
dục, đó là sự phối hợp đồng bộ trong nhiệm vụ chung là “xã hội hóa giáo dục”. Nói đến
chất lượng giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập WTO cũng là đã muộn màng
và là một sự lãng phí cho cả một quá trình đào tạo lâu dài với những sản phẩm chưa
hoàn chỉnh, đó là cản ngại lớn về chất lượng của nguồn nhân lực mà chúng ta phải trả
giá và khắc phục. Nhưng cũng xin nhắc lại, thà muộn còn hơn không.
KẾT LUẬN
Thấy rõ được vai trò của giáo dục, nhất là trong giai đoạn mà nền kinh tế tri thức
phát triển mạnh, khoa học công nghệ bùng nổ, phát triển như vũ bão. Các quốc gia trên
thế giới đều đặt “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Đây vừa là một vinh dự
của ngành, song cũng là trọng trách vô cùng nặng nề mà ngành giáo dục phải đảm nhận.
Vai trò của giáo dục vẫn được toàn xã hội tôn vinh, vẫn luôn được xem như là bệ phóng
cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đầu tư cho giáo dục – đào tạo là đầu tư
phát triển bền vững. Vì lẽ đó, chấn hưng giáo dục nhất định phải được diễn ra như là
một tất yếu, và tất nhiên phải có sự vào cuộc của toàn xã hội.
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status