Những nguyên tắc trong phân loại thực vật có hoa pot - Pdf 18


Thực vật có hoa
NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2006.
Tr 55 – 67.Từ khoá: Ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài.

Tài liệu trong Thư viện điện tử ĐH Khoa học Tự nhiên có thể được sử dụng
cho mục đích học tập và nghiên cứu cá nhân. Nghiêm cấm mọi hình thức
sao chép, in ấn phục vụ các mục đích khác nếu không được sự chấp thuận
của nhà xuất bản và tác giả. Mục lục
Chương 5 NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG PHÂN LOẠI 3
5.1 CÁC BẬC PHÂN LOẠI VÀ TÔN TI TRẬT TỰ CỦA CHÚNG 3
5.2 CÁCH GỌI TÊN 4
5.2.1 Các nguyên tắc chung 5
5.2.2 Nguyên tắc công bố tên gọi 5
5.3 CÁC LOẠI MẪU CHUẨN (TYPUS) TÊN GỌI 6
5.3.1 Mẫu chuẩn tên gọi (typus) 6
5.3.2 Mẫu chuẩn tên gọi của loài và các taxôn trong loài 7
5.3.3 Các loại mẫu chuẩn 7
5.4 NGUYÊN TẮC ƯU TIÊN 8
Chương 5. Những nguyên tắc trong phân
loại


LOẠI
5.1 CÁC BẬC PHÂN LOẠI VÀ TÔN TI TRẬT TỰ CỦA
CHÚNG
Giới thực vật - Regnum: Vegatabile trong giới chia ra các đơn vị
− Ngành - Divisio (Phylum)
− Lớp - Classis
− Bộ - Ordo
− Họ - Familia
− Chi - Genus
− Loài - Species
Trong hệ thống học còn dùng các bậc trung gian. Ví dụ tông (Tribus) là bậc
giữa họ và chi. Nhánh (Sectio) và loạt (Serio) trung gian giữa chi và loài. Thứ
(Varietas) và dạng (Forma) là dưới loài.
Trong phân loại thực vật hay dùng đối với bậc phụ khác, thường thêm bằng
tiếp đầu ngữ super là liên và sub là phân.
Ví dụ phân lớp M
ộc lan: Subclassis Magnoliideae, liên bộ Bông: Superordo
Malvanae.
Bảng 5.1.
Các bậc theo luật quốc tế về tên gọi
Bậc của Taxôn (tiếng La Tinh) Ví dụ
Đuôi của các bậc trên
chi
Divisio (Phylum) Ngành Magnoliophyta -phyta
Classis Lớp Magnoliopsida -opsida
Subclasis Phân lớp Magnolidae -idae
Ordo Bộ Magnoliales -ales
Subordo Phân bộ Magnolinae -inae
Familia Họ Magnoliaceae -aceae
Subfamilia Phân họ Magnolioideae -oideae

− Đại hội lần 9 năm 1959 ở Môngtrêan (Canađa)
− Đại hội lần 10 năm 1964 ở Êdinbua (Anh)

Đại hội lần 11 năm 1969 ở Sietưn
− Đại hội lần 12 năm 1975 ở Lêningrát (Nga)
− Đại hội lần 13 năm 1981 ở Sitni (Úc)
− Đại hội lần 14 năm 1986 ở Beclin (Đức)
− Đại hội lần 15 năm 1993 ở Tokyo (Nhật Bản)
− Đại hội lần 16 năm 1999 ở Xanh Louit (Mỹ) 5
5.2.1 Các nguyên tắc chung
1. Tên gọi thực vật không phụ thuộc vào tên gọi động vậtBộ luật áp dụng
cho tất cả thực vật, không liên quan việc lúc đầu nhóm đó có thuộc
thực vật hay không.
2. Việc sử dụng tên gọi của các nhóm phân loại được xác định nhờ mẫu chuẩn
danh pháp.
3. Tên gọi các nhóm phân loại dựa theo nguyên tắc ưu tiên trong khi
công bố.
4. Mỗi nhóm phân loại có giới hạn, vị
trí và bậc nhất định, không kể các
ngoại lệ quy định cụ thể, chỉ có thể có 1 tên đúng đắn duy nhất, đó là
tên có sớm nhất và hợp với quy tắc.
5. Tên khoa học của các nhóm phân loại đều được coi là tên La tinh
không phụ thuộc vào xuất xứ của nó.
6. Quy tắc của tên gọi có tác dụng nghịch đảo nếu như chúng không
được quy định giới hạn riêng (Những tên hợp pháp, hợp vớ
i luật thì
được dùng và ngược lại).

đồng loại thay thế và có nêu đầy đủ trích dẫn về sự công bố đầu tiên với sự chỉ rõ
số trang hay bản vẽ và niên hiệu công bố.
Kể từ 1 - 1 - 1953 khi công bố tên gọi mới mà không chỉ rõ bậc taxôn chứa taxôn
đó không phải là tên được công bố hữu hiệu.
Kể từ 1 - 1 - 1935 thì sự công bố tên của các taxôn thực vật được coi là h
ữu
hiệu nếu có bản mô tả La tinh kèm theo hoặc dựa vào bản mô tả cũ.
Kể từ 1 - 1 - 1958 sự công bố tên gọi các taxôn mới từ họ trở xuống được coi
hữu hiệu chỉ khi nó chỉ rõ typ tên gọi taxôn. Typ tên gọi ghi ở mỗi bản mô tả La
tinh, kèm theo mẫu chuẩn (holotypus) và địa điểm lưu trữ nó. Ví dụ: HNU chẳng
hạn (Phòng mẫu cây khô Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà N
ội).
Hiện nay có xu hướng mở rộng điều này cho tới các taxôn lớn hơn họ.
5.2.2.3 Tên gọi hợp pháp, không hợp pháp và tên gọi đúng đắn

Tên gọi hợp pháp là tên phù hợp với quy tắc, ngược lại là tên gọi không
hợp pháp.

Tên gọi đúng đắn của taxôn khi nó có giới hạn vị trí bậc xác định là tên gọi
hợp pháp theo quy tắc (tức là những tên gọi hợp pháp sớm nhất được dùng
làm tên chính thức). Nó là tên chính thức cho taxôn đó.
5.3 CÁC LOẠI MẪU CHUẨN (TYPUS) TÊN GỌI
5.3.1 Mẫu chuẩn tên gọi (typus)
Mẫu chuẩn của tên gọi là một thành viên của taxôn. Tên của một taxôn luôn
luôn liên quan tới thành viên đó, bất luận tên gọi ấy là chính thức hay đồng loại.
Mẫu chuẩn của tên gọi không nhất thiết phải là phần đặc sắc nhất hay điển hình
nhất của taxôn, nó chỉ là thành viên luôn liên quan tới tên gọi.
Mẫu chuẩn tên gọi của chi và các bậc giữa chi và loài là 1 loài.
vật mẫu thu ở Tonkin (Bắc Bộ), Sơn Tây, Ba Vì; (người thu) Balansa (số hiệu)
1021 (bảo quản) ở Pari (P).

Đồng mẫu chuẩn (Isotypus hay Isoholotypus) (bản sao)
Đó là các mẫu hoàn toàn giống như mẫu chuẩn chính thức: lấy cùng cây,
cùng số hiệu, cùng ngày, do cùng người lấy nhưng không phải là mẫu chuẩn chính
thức.

Mẫu chuẩn kèm (Paratypus) 8
Là các vật mẫu không cùng số hiệu với mẫu chuẩn nhưng được nhắc đến
trong bản mô tả đầu tiên, tức là những mẫu đó cũng được tác giả xem xét khi mô
tả taxôn mới đó.

Liên mẫu chuẩn hay mẫu chuẩn tập hợp (syntypus)
Là một trong hai hoặc nhiều vật mẫu dùng làm cơ sở cho bản mô tả đầu tiên
nếu tác giả taxôn không chỉ rõ vật mẫu nào là mẫu chuẩn chính thức (holotypus).
Hay nói cách khác liên mẫu chuẩn là một trong hai hay nhiều vật mẫu nguyên bản
mà tất cả các vật mẫu đó đều được coi là mẫu chuẩn. Khi đó sau bản mô tả không
ghi mẫu chuẩn. Ví dụ: sau khi mô tả loài mớ
i tác giả mô tả chỉ ghi: Tonkin, Sơn
Tây, Ba Vì, Balansa, 1021 (P), Petelot 5603 (HNU), Bon 12 (HM) có nghĩa là loài
mới đó lấy ở Bắc Bộ, núi Ba Vì do Balansa lấy với số hiệu 5603, lưu giữ ở Bảo
tàng Pari, do Pêtêlô lấy với số hiệu 5603, lưu giữ tại Phòng mẫu cây khô Đại học
Quốc gia Hà Nội và do Bon lấy với số hiệu 12, lưu giữ tại Bảo tàng thực vật thành
phố Hồ Chí Minh.

Mẫu chuẩn chọn lọc (Lectotypus)

được tách ra của chi cũ nào đó thì nay chi nào mang tên cũ phải chứa mẫu chuẩn
đó. Nếu trước đây chưa quy định mẫu chuẩn thì nay cần phải ch
ọn.
Ví dụ : Chi Dicera Forster & Forster f. (1776) đến 1918 thì Rafinesque chia
ra thành hai chi là Misipus và Skidanthera việc này không đúng với luật vì tên
Dicera của Forster & Forster f. đã bị bác bỏ mà theo luật nó cần được giữ lại cho
một trong hai chi ấy. Hiện nay, Dicera được phục hồi cho phần chứa loài mẫu
chuẩn chọn lọc D. dentata
b) Đối với loài:
Nếu một loài bị chia hai hay nhiều loài thì tính ngữ loài ban đầu cần được giữ
lại cho mộ
t trong hai loài mới. Nếu chưa được giữ lại thì phải khôi phục lại. Nếu
vật mẫu, bản mô tả hay hình vẽ nào đó trước đây quy định là mẫu chuẩn của loài
thì tính ngữ loài cũ được giữ cho loài còn chứa mẫu chuẩn đó. Nếu mẫu chuẩn
chưa có thì cần phải chọn.
Ví dụ: Năm 1880 Hoffmann chia loài Juncus articulatus L. thành hai loài: J.
lampocarpus (1), J. acutiflorus. Việc cho tên này không phù hợp vì tính ngữ loài
cũ articulatus
đã bị bỏ mất. Do đó tên loài J. articulatus cần được phục hồi và nó
đã thay cho loài (1) vì nó chứa mẫu chuẩn.
c) Quy tắc áp dụng cho các taxôn trong loài
Nếu phân loài bị chia thành hai hay nhiều phân loài khác, hoặc thứ chia ra
nhiều thứ khác v.v. thì tên gọi cũ vẫn được giữ lại cho một trong các taxôn đó.
5.4.2 Áp dụng nguyên tắc ưu tiên khi taxôn chuyển vị trí
a) Nếu loài chuyển vào chi khác hoặc tên chi cũ đổi thành tên khác nhưng không
thay đổi bậc thì tính ngữ loài hợp pháp cần được giữ lại hoặc trong trường hợp nó
chưa được giữ lại thì phải khôi phục lại, nếu nó không gặp các trở ngại sau:

Tên ghép đôi nhận được là tên đồng âm hoặc đặt tên muộn


a) Nếu đổi bậc của chi hay các taxôn trong chi thì, tên gọi hoặc tính ngữ đúng
đắn phải là tên hay tính ngữ hợp pháp sớm nhất đã có. Bậc mới tên gọi hoặc tính
ngữ không bao giờ có sự ưu tiên cho những từ ở ngoài bậc vốn có của mình. Ví
dụ: Nhánh Campanopsis R. Br. (1810) thuộc chi Campanula nhưng khi chuyển
lên thành bậc chi thì tên chi này cần gọi là Wahlenbergia Shrad. et Roth (1821)
chứ không phải là Campanopsis (R.Br) Kuntze 1891 vì tên gọi Campanopsis tuy
xuất hiện 1810 nhưng là nhánh chứ
không phải là chi.
b) Nếu taxôn trên bậc chi nhưng dưới bậc họ mà thay đổi bậc thì gốc tên gọi
cần giữ lại mà chỉ thay đổi phần đuôi. Nếu tên nhận được không bị bãi bỏ theo
luật hiện hành. 11
Ví dụ: Phần họ Viscoideae (trước xếp vào họ Loranthaceae) nay chuyển lên
họ lấy tên là: Viscaceae. Trong họ mộc lan Magnoliaceae có phân họ
Liriodendroideae chuyển thành họ Liriodendraceae.
5.5 BÃI BỎ TÊN GỌI
a) Không được bãi bỏ tên gọi hợp pháp hoặc tính ngữ hợp pháp nếu chỉ vì nó
không được chọn lọc kỹ hoặc khó gọi, hoặc vì tên khác tốt hơn, được nhiều
người biết hoặc tên tính ngữ đã bị mất ý nghĩa ban đầu của nó.
Ví dụ: Khi đổi các chi Staphylea → Staphylis, Tamus → Thamus hay Thamos
việc đổi này sai. Khi đổi tên loài: Ardisia quinquegona → A. pentogona vì từ
quinquegona là từ lai nh
ưng việc đổi đó là không đúng hay Alphonsea
macrophylla kích thước lá 25 x 10 (lá lớn) do định tên sai nên khi chuyển sang chi
Fissistigma thì có tên là Fissistigma macrophylla mặc dù trong chi này các loài
đều có lá lớn hơn rất nhiều từ 35 - 50 x 15 - 20 cm, do đó ý nghĩa lá lớn không
còn nữa nhưng tên đó vẫn đúng.
b) Tên gọi là không hợp pháp và cần bãi bỏ trong các trường hợp

viết L. angustifolia Mill. và L. latifolia Vill Tên gọi L. picta gần như được dùng
chỉ cho cả hai loài trên nên nó trở thành tên hai nghĩa, do đó tên đó bị bãi bỏ.

Nếu nó dựa vào mẫu chuẩn gồm hai hay nhiều thành phần hoàn toàn khác
nhau mà không một thành phần nào hoàn toàn chọn làm thành phần thích hợp.
Ví dụ: Các đặc điểm của chi Actinoticus Liv (1888) lấy từ hai chi Aesculus và
Viburnum vì người thu mẫu đã ghép cụm hoa của Viburnum vào chồi ngọn của
một loài thuộc chi Aesculus. Vì vậy tên Actinoticus cần bãi bỏ.
c. Nếu nó dựa vào hiện tượng quái dị mẫu do sâu bệnh làm biến dị.
5.6 TÊN GỌI CỦA CÁC TAXÔN
5.6.1 Tên gọi các taxôn trên bậc chi
Ngành, phân thành, lớp, phân lớp, bộ, phân bộ, họ, phân họ, tông, phân tông.
Mỗi bậc có các đuôi tương ứng: -phyta, -phytina, -opsida, -ideae, -ales, -inae, -
aceae, -oideae, -eae, -inae.
5.6.2 Tên chi và các phân hạng của nó
a) Tên chi: tên chi là một danh từ số ít hoặc một chữ nào đó được coi là danh
từ những tên này có thể lấy bất kỳ, thậm chí có thể cấu tạo hoàn toàn tùy ý.
Ví dụ: Rosa xuất phát từ Ros (màu hồng); Convolvulus (đừng sờ mó);
Teonogia (cây Teo nồng).
b) Tên chi không trùng với danh từ kỹ thuật, trừ khi nó công bố trước 1-1-
1912 và ngay từ đầu nó đã kèm theo tính ngữ chỉ loài hợp pháp theo phương pháp
ghép đôi của Linnê.
Các từ: Radix rễ
Caulis thân không dùng
đặt cho tên chiFolium
láS p ina gai
c) Tên chi không thể gồm hai từ, nếu có hai từ thì nên viết liền lại:
Quisqualis, Pseuduvaria (do viết liền nên được dùng) hoặc nối bằng gạch nối :
Neo - uvaria.
d) Chỉ dẫn : Khi đặt tên chi nên cố gắng dùng đuôi La tinh và cố tránh các tên

Tính ngữ loài không được cấu tạo nếu hình thức là tính từ không dùng làm
danh từ. Nếu tính từ thì phải đúng với văn phạm của tên chi (hợp về giống và số).
Ví dụ: Helleborus niger (đực) Brassica nigra (cái)
Verbasinum nigrum (chung).

Họ tên người đàn ông, đàn bà, đất nước, địa điểm khi dùng làm tính ngữ
loài có thể viết dưới dạng danh từ cách hai hoặc dưới dạng tính từ.
Ví dụ: Clusii (tên người là Clus) danh từ cách 2, clusianus (tính từ); locii (GS.
P. K. Lộc) (danh từ), lociana (tính từ).
b) Chỉ dẫn: Khi cấu tạo tính ngữ loài nên tận dụng khả năng dùng đuôi La
tinh, tránh các tính ngữ khá dài, khó đọc, tránh tính ngữ cùng nghĩa với tên chi,
tính ngữ chỉ đặ
c điểm chung cho tất cả hoặc hầu hết loài của chi đó. Tránh các
tính ngữ quá giống nhau. Tránh công bố lại tên dự kiến mới ghi ở bìa tiêu bản. 14
Tránh dùng tính ngữ tên địa điểm quá bé ít người biết đến trừ khi loài đó là đặc
hữu với địa phương đó.
5.6.4 Tên gọi của taxôn dưới bậc loài
a) Tên các taxôn trong loài là một tập hợp gồm tên loài hoặc tên taxôn bậc
loài nào đấy và tính ngữ chỉ taxôn đó và chúng liên kết với nhau nhờ thuật ngữ chỉ
bậc. Tính ngữ trong loài cấu tạo như tính ngữ loài. Nếu chúng có dạng tính từ
không dùng làm danh từ thì chúng hợp văn phạm với tên chi.
Ví dụ: Andropogon ternatus subsp. macrothrix
b) Tên gọi của taxôn trong loài có chứa mẫu chuẩn của loài sẽ có tính ngữ
giống hệt tính ngữ của loài và không có tên tác giả. Mẫu chuẩ
n của taxôn trong
loài đó cũng đúng là mẫu chuẩn taxôn của loài. Nếu tính ngữ của loài thay đổi thì
mẫu chuẩn của loài cũng cần thay đổi theo.

Ví dụ: trong số những tên đồng loại của Altingia sinensis Craib có tên A.
gracilicer Auct. non Hemsl., Lecomte, Fl. Gen. Indoch. 2. 711. 1920.

Nếu tên chi được coi là tên bảo tồn cần thêm vào trích dẫn chữ Nom. Cons.
(nomen conservatum = tên bảo tồn).
Ví dụ: Protea L. 1911 nom. cons., non L. 1053

Tên gọi viết trong tập hợp tên đồng loại phải viết đúng tên tác giả công bố
nó, nếu cần giải thích thêm viết trong ngoặc ( ), nếu tên đã được thừa nhận có sai
khác với bản đã công bố đầu tiên thì trong phần trích dẫn đầy đủ nên bổ sung
thêm dạng viết đầu tiên và để nó trong dấu ngoặc kép “ ”.
Ví dụ: Alphonsea tonkinensis DC. Bull. Herb Boiss.: 107 (1904)
(“tonquinensis”).
5.8 LUẬT CHÍNH TẢ VỀ TÊN GỌI VÀ DẤU VĂN PHẠM VỀ
TÊN CHI
5.8.1 Luật chính tả về tên gọi và các tính ngữ
Dạng ban đầu của tên gọi và các tính ngữ cần được giữ lại trong trường hợp
phải sửa các lỗi in sai và các lỗi chính tả do sơ ý. Tuy vậy cần thận trọng trong khi
sử dụng quyền sửa đổi tên. Đặc biệt khi sửa đổi các âm tiết đầu, nhất là các chữ
cái đầu tiên.

Nếu tên gọi của chi hay các phân chi, nhánh lấy từ tên người cấu tạo như
thế nào?
Nếu tận cùng là nguyên âm a thì thêm ea: Colla

Collaea;
Nếu tận cùng là phụ âm → thêm ia;
Nếu tận cùng là er thì thêm a

era;

điển của nó là giống đực (Diospyros rubra); tương tự như th
ế thuộc giống cái có
tên: Orchilis, Stachys, mặc dầu những từ này là giống đực trong tiếng Hy Lạp và
giống cái trong tiếng La Tinh.
b) Các tên gọi cấu tạo từ hai hoặc nhiều từ Hy Lạp hay La Tinh thì giống văn
phạm của chúng là giống của từ cuối cùng.
Ví dụ: thuộc giống đực gồm có tên gọi có có tận cùng là codon, myces, odon,
panax, pogon và stemon lấy từ tiếng Hy Lạp (Trigonostemon bonianus). Việc
Linnaeus coi tên gọ
i Andropogon là giống trung là không đúng; thuộc giống cái
có tận cùng - achne, - chlamys, - daphne, - mecon, - osma gốc tên gọi lấy từ tiếng
Hy Lạp (Actiondaphne obovata).
5.8.3 Cách viết tên tác giả
Khi tên gọi một taxôn có hai hay nhiều tác giả cùng công bố thì việc trích dẫn
tên phải trích tất cả các tên. Trường hợp hai tác giả thì liên kết bằng et hoặc &:
Finet et Gagnepain → Fin. et Gagnep. hoặc Fin. & Gagnep.
Trường hợp hơn ba tác giả thì chỉ viết tên tác giả đầu, sau đó dùng tổ hợp et
al. Nếu 1 taxôn nào đó do một tác giả đề nghị nhưng chưa công bố hữu hiệu, sau
đó một tác giả khác công bố hữu hi
ệu thì tên tác giả sau liên kết với tên tác giả
trước bằng ex. Ví dụ: Gossypium tomentosum Nutt. ex Seem (loài đó được Nutt
đặt tên nhưng chưa công bố hay công bố không đúng luật về sau Seem đã công
bố lại đúng luật). 17
Nếu tên gọi có bản mô tả do một tác giả nào đó công bố trong một công trình
của người khác thì tên hai tác giả này được liên kết bằng giới từ in. Ví dụ:
Viburnum ternatum Redd in Sarg (Redd đã công bố loài trên đăng trong tác phẩm
của Sarg).

4 năm 1996, trang 40, khi trích dẫn viết như sau: Tạp chí
Sinh học, 4 (1996) 40.
Tên tạp chí định kỳ trong phần trích dẫn kèm theo, chỉ giữ lại những chữ
quan trọng và nếu cần viết tắt thì chỉ viết một âm tiết đầu nếu nó không gây nhầm
lẫn. Còn những chữ khác đều bỏ qua (giới từ, phụ ngữ) ví dụ Ann. Miss. Bot.
Gard. Tên của tạp chí Annals of the Missouri Botanical Garden. Mỗi một tạp chí 18
cần phải viết theo thứ tự tên tạp chí, tập, số, năm xuất bản, số trang. Một số tạp
chí không viết tắt: Taxon, Blumea, Adansonia. Những tạp chí khác nhau thuộc các
nước khác nhau bên cạnh tên tạp chí cần ghi địa điểm xuất bản Flora (Quito)
Flora (Jena).
Số lần xuất bản và số xeri: Nếu quyển sách nào xuất bản nhiều hơn một lần
thì số lần xuất b
ản sau viết ed. 2, ed. 3, v.v. Nếu tạp chí nào xuất bản từ hai xeri
trở lên và trong mỗi xeri nhắc lại số thứ tự các tập thì các xeri sau cách xeri đầu
tiên viết bằng chữ số la mã hoặc: tên sách, tên tạp chí, số xeri phân cách với nhau
và phân cách với các phần khác bởi dấu chấm để biểu thị sự viết tắt.
Số tập số của tập cần ghi bằng chữ số Ả Rập và để chỉ
rõ hơn có thể in nét
đậm hơn. Nếu tập sách không đánh số thì năm in ở tờ bìa có thể dùng như số của
tập sách, số quyển phân cách với số trang, số bản vẽ bằng dấu 2 chấm (:).
Phần nhỏ hoặc tập nhỏ. Nếu tập sách gồm nhiều phần in rồi đánh số, nhất là
khi số trang mỗi tập nhỏ không theo thứ tự kế tiếp nhau thì số
các phần đó đặt
ngay sau số của tập cách bởi dấu hai chấm, hoặc đặt trong ( ) hoặc số viết lên trên
hàng. Đối với các tập sách có số trang được đánh số liên tục từ tập nhỏ này sang
tập nhỏ khác thì việc nhắc số các tập nhỏ là không cần thiết, dễ gây nhầm lẫn.
Số trang viết bằng chữ số Ả Rập trừ khi trong nguyên bản ghi bằng ký hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status