Hướng dẫn coi thi, chấm thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2010-2011 - Pdf 18

UBND TỈNH LÂM ĐỒNG
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /SGD&ĐT-KT&KĐ Đà Lạt, ngày tháng 6 năm 2010
V/v: Hướng dẫn coi thi, chấm thi
tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2010-2011.
Kính gởi: - Các phòng giáo dục và đào tạo;
- Các trường trung học phổ thông;
- Ông (Bà) Chủ tịch các hội đồng coi thi;
- Ông (Bà) Chủ tịch hội đồng chấm thi.
Để chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT, vào trường Chuyên Thăng
Long Đà Lạt, Sở Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng đã có Công văn số 255/ SGDĐT-
KTKĐ, ngày 26 tháng 3 năm 2010 về việc hướng dẫn tuyển sinh vào các lớp đầu cấp
năm học 2010-2011, Công văn số 522/ SGD&ĐT-KT&KĐ, ngày 31 tháng 5 năm
2010 về việc Hướng dẫn về lập danh sách phòng thi. Để kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10
THPT tiến hành tốt, Sở Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng hướng dẫn về coi thi, chấm
thi như sau:
I. LỊCH THI, THỜI GIAN LÀM BÀI THI:
Ngày Buổi Môn thi
Thời gian
làm bài
Giờ giao
đề thi cho
thí sinh
Giờ bắt
đầu làm
bài
22/06/2010 SÁNG Ngữ văn 120 phút 8 giờ 25 8 giờ 30
CHIỀU Tiếng Anh 60 phút 14 giờ 15 14 giờ 30
23/06/2010 SÁNG Toán 120 phút 8 giờ 25 8 giờ 30

Các máy tính và máy photo ở các vị trí khác ngoài phòng Hội đồng coi thi
không được sử dụng trong giờ thi.
5. Hiệu trưởng các trường THPT tổ chức thi tuyển sinh có trách nhiệm chính
và cùng với các trường đặt hội đồng coi thi để thi tuyển sinh vào trường mình
chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, biểu mẫu ấn phẩm thi, kinh phí phục vụ hội
đồng coi thi.
6. Lưu ý những điểm khi tiến hành coi thi như sau:
6.1. Khi thu bài, bài thi xếp theo thứ tự SBD từ nhỏ đến lớn theo từng thí sinh,
bài làm cuả mỗi thí sinh được lồng vào nhau (thí dụ phòng thi có 20 thí sinh thi có 20
xấp bài thi; phòng thi có 10 thí sinh có 10 xấp bài thi).
6.2. Giám thị ghi số thứ tự bài thi tương ứng với số thứ tự của danh sách
phòng thi vào chỗ đầu phách của giấy thi ở ô Số tờ của mỗi bài thi, nếu thí sinh vắng
thi thì bỏ qua số thứ tự của bài thi đó. Lưu ý về cách viết số thứ tự bài thi như sau:
khi bài thi số thứ tự 11 có 3 tờ; ghi là 11a, 11b, 11c không được ghi là 11A, 11B, 11C
hoặc mẫu tự nào khác. Phòng thi có 24 thí sinh dự thi, vắng 2 thí sinh cuối cùng, bài
thi cuối cùng ghi 22a. 22b, 22c (nếu học sinh này làm 3 tờ). Nếu phòng thi có 24 thí
sinh, vắng thí sinh có số thứ tự 10 thì số thứ tự bài thi của thí sinh thứ 11 ghi là 11, số
thứ tự bài thi của thí sinh cuối cùng vẫn là 24.
6.3. Bài thi của từng phòng thi được để trong bìa bọc bài thi (sơ mi). Bài thi và
phiếu thu bài của mỗi phòng thi cho vào túi bài thi (túi số 1), niêm phong tại phòng
hội đồng, giám thị 1 và 2 ghi đầy đủ những thông tin trên bìa và túi đựng bài thi (chú
ý ghi đúng số bài, số tờ giấy thi), chỗ niêm phong có chữ ký của 2 giám thị và người
nhận bài thi (lãnh đạo hoặc thư ký).
2
Lãnh đạo hội đồng niêm phong các túi số 1 của từng buổi thi thành gói, gọi là
túi số 2. Tại chỗ niêm phong túi số 2 có chữ ký của: lãnh đạo hội đồng (01 người),
thư ký và 02 giám thị đại diện rồi đóng dấu giáp lai. Trên nhãn niêm gói bài thi ghi
đầy đủ các thông tin cần thiết (theo mẫu).
6.4. Hướng dẫn thí sinh về cách viết số tờ của tờ giấy thi (giấy thi theo mẫu
giấy thi cũ (phách ngang): Thí sinh làm bài 3 tờ, ghi chữ là “ba” không được ghi

tên vào danh sách này vì lúc này thí sinh chưa nộp bài.
- Giám thị thu đề thi của những thí sinh vắng mặt, cùng với đề dư để bàn giao
cho thư ký hội đồng chuyển về lãnh đạo hội đồng bảo quản theo quy định.
- Giám thị không thu phiếu trả lời trắc nghiệm trước khi hết giờ làm bài. Khi
hết giờ làm bài, giám thị yêu cầu thí sinh ngồi tại chỗ, đặt bút xuống và tiến hành thu
3
phiếu trả lời trắc nghiệm. Thu phiếu TLTN (không thu đề thi) của học sinh nào thì
cho thí sinh đó ký vào danh sách nộp bài (02 bản), kiểm tra đủ số phiếu TLTN tương
ứng với số thí sinh dự thi của phòng thi, rồi cho thí sinh ra khỏi phòng thi.
7.4. Không cho thí sinh ra ngoài trong suốt thời gian làm bài, trường hợp quá
cần thiết phải ra ngoài thì phải báo cho giám thị ngoài phòng thi để xử lý. Giám thị
trong phòng thi phải thu lại đề thi và phiếu trả lời trắc nghiệm trước khi cho thí sinh
ra ngoài.
7.5. Khi thu bài thi, giám thị xếp phiếu trả lời trắc nghiệm (bài làm của thí
sinh) theo số báo danh từ nhỏ đến lớn, không xếp theo mã đề thi, bảo đảm đủ số
phiếu theo số thí sinh dự thi. Toàn bộ phiếu trả lời trắc nghiệm và một phiếu thu bài
(đã ghi mã đề thi và chữ ký thí sinh) bỏ vào túi bài thi (không dùng bìa bọc bài thi
như bài thi tự luận) để nộp cho lãnh đạo hội đồng coi thi, rồi cùng niêm phong và ký
tên. Một phiếu thu bài còn lại để bên ngoài túi bài thi đóng thành tập, xếp theo thứ tự
theo phòng thi từ số nhỏ đến số lớn của hội đồng, niêm phong giao về hội đồng chấm
thi.
7.6. Hội đồng coi thi cần chuẩn bị giấy gói hoặc thùng cacton để đựng bài thi
trắc nghiệm và kéo để cắt các túi đề tại phòng thi.
7.7. Nếu không có sự cố bất thường về đề thi hoặc các vấn đề nghiêm trọng,
các hội đồng coi thi không phải thực hiện báo cáo nhanh về tổ trực thi của Sở
trong 3 buổi thi.
III. VIỆC GIAO NHẬN BÀI THI, HỒ SƠ GIỮA HĐ COI THI VÀ HĐ CHẤM
THI
1. Hồ sơ coi thi nộp về hội đồng chấm: Ngoài việc đóng gói niêm phong bài thi, để
thuận lợi khi giao nhận hồ sơ và bài thi về hội đồng chấm, đề nghị các hội đồng coi

a. Khi lập từng biên bản, yêu cầu canh lề các trang hợp lý để dễ đọc, cỡ chữ tối
thiểu là 14, font: Times New Roman (mẫu của Sở đã canh lề).
b. Các mẫu thống nhất kèm theo: Biên bản chứng kiến bì đề thi (khi khai mạc),
Biên bản mở bì đề thi chung các môn; Biên bản mở bì đựng đề từng môn.
c. Lãnh đạo hội đồng coi thi và thư ký nghiên cứu, chuẩn bị các mẫu biên bản để
thực hiện kịp thời, đầy đủ, chính xác theo đúng hướng dẫn qui định.
d. Nếu không thể sử dụng vi tính, có thể viết theo mẫu để hoàn thành biên bản.
4. Sắp xếp và đánh số thứ tự các loại biên bản – hồ sơ nộp cho tổ nhận hồ sơ thi
(hội đồng chấm thi) tại hội trường 2 Sở Giáo dục và Đào tạo:
4.1. Tập các loại biên bản qui định tại mục 3.2 nêu trên (đóng thành 02 tập; 01
tập - phòng Khảo thí; 01 tập - Hội đồng chấm thi).
4.2. Bì đựng các phiếu thu bài thi Trắc nghiệm;
4.3. Bì đựng các phiếu thu bài thi Tự luận;
4.4. Túi đựng các bảng ghi tên dự thi (có chữ ký thí sinh dự thi), trong đó
có…….phòng x 02 tờ/phòng = ………
4.5. Bì đựng các loại biên bản và xếp theo thứ tự:
- Biên bản chứng kiến bì đề của 02 TS;
- 01 biên bản mở bì đề các môn;
- 03 tập biên bản mở bì đề từng môn;
- Biên bản kiểm tra các loại CSVC;
- Tập Biên bản giao nhận bì đựng đề thi mỗi môn giữa Lãnh đạo hội
đồng coi thi với giám thị (1 tập cho 3 buổi thi);
- Tập các biên bản giao – nhận đề thi dư tại phòng thi.
4.6. Bì đựng Sơ đồ chỗ ngồi thí sinh các phòng thi do Chủ tịch quy định cho
mỗi buổi thi (3 tập cho 3 buổi thi, xếp theo thứ tự phòng thi từ nhỏ đến lớn).
4.7. Bì đựng Biên bản mở đề thi tại các phòng thi (3 tập cho 3 buổi thi).
4.8. Gói đựng đề thi dư các môn thi.
4.9. Bì đựng Biên bản mở đề dự phòng (nếu có).
4.10. Bì đựng tài liệu, chứng cứ thí sinh vi phạm Quy chế thi (nếu có).


2. Trước khi tổ chấm thi phân công giám khảo chấm bài tự luận, toàn tổ tiến
hành chấm chung ít nhất 15 bài.
3. Tiến hành chấm môn thi tự luận phải thực hiện nguyên tắc: Mỗi bài thi tự
luận phải được hai giám khảo chấm độc lập, ghi điểm riêng theo số phách vào phiếu
chấm cá nhân.
Giám khảo thứ nhất, ngoài những nét gạch chéo trên các phần giấy bỏ trống
trong bài làm, không được ghi gì vào bài làm của thí sinh; điểm thành phần, điểm
toàn bài và nhận xét được ghi vào phiếu chấm.
Giám khảo thứ hai, ngoài việc ghi vào phiếu chấm cá nhân, phải ghi họ, tên
vào ô quy định trên bài thi, ghi điểm thành phần vào lề bài thi, ngay cạnh ý được
chấm.
6
Sau khi mỗi bài đã được hai giám khảo chấm xong, Tổ trưởng tổ chấm thi giao
lại cho hai giám khảo đó thống nhất rồi ghi điểm toàn bài vừa bằng chữ, vừa bằng số
vào bài thi.
Điểm của bài thi được ghi bằng mực đỏ; nếu có sự thay đổi điểm thì gạch chéo
điểm đã cho và ghi điểm mới bằng cả số và chữ rồi hai giám khảo cùng ký tên để xác
nhận việc sửa điểm.
4. Phát bài cho giám khảo chấm lần thứ nhất theo quy trình: Lãnh đạo hội đồng
giao cho tổ trưởng và tổ trưởng trực tiếp giao cho giám khảo. Giám khảo chấm bài lần
thứ hai phải khác trường với giám khảo chấm lần thứ nhất.
- Lãnh đạo hội đồng kiểm tra kỹ khi giao nhận bài thi, tuyệt đối không để mất
bài thi. Khi phát hiện có sự thiếu bài thi, lãnh đạo hội đồng phụ trách bộ môn cần
kiểm tra, rà soát để phát hiện sự nhầm lẫn.
- Trong quá trình chấm, phiếu chấm cá nhân của 2 giám khảo được kẹp với
phiếu chấm thống nhất của từng cặp giám khảo lần lượt theo các ngày chấm từ ngày
đầu đến ngày kết thúc công việc chấm bài thi.
- Sau khi chấm xong mỗi xấp bài, Lãnh đạo hội đồng, tổ trưởng phải kiểm tra
kỹ để sắp xếp bài thi theo thứ tự từ số phách nhỏ đến lớn và không thiếu số phách nào
so với khi giao nhận bài thi.

kiểm dò theo ý kiến chỉ đạo của Giám đốc Sở.
11. Các công việc sau khi hoàn tất công tác chấm thi:
a) Gửi về Sở Giáo dục và Đào tạo biên bản tổng kết hội đồng chấm thi và
biên bản của tổ chấm thi cùng biểu mẫu số M5 về báo cáo kết quả chấm thi.
b) Sau tổng kết, Hội đồng chấm thi gửi ngay các bảng GTGĐ về cho các
trường THPT tổ chức thi tuyển để thông báo điểm thi, khi học sinh phát hiện sai sót
về điểm ưu tiên khuyến khích - học sinh làm đơn trình bày, gởi về trường THPT đăng
ký dự thi theo nguyện vọng 1.
c) Các trường THPT thành lập hội đồng xét tuyển sinh của trường để có kế
hoạch xét tuyển sinh theo quy định.
d) Trường THPT thông báo điều kiện phúc khảo (như điều kiện phúc khảo thi
TN THPT Quy chế 05), thu nhận đơn, lập danh sách, bảng GTGĐ, học bạ của học
sinh xin phúc khảo (bảng photo có công chứng của cấp xã trở lên); gửi về Sở bảng
GTGĐ phúc khảo, học bạ (bản sao) chậm nhất là sau 7 ngày kể từ ngày thông báo kết
quả. Bảng GTGĐ phúc khảo được lập thành 2 bản gửi về Sở. Hiệu trưởng chịu trách
nhiệm về điều kiện phúc khảo của thí sinh khi nhận đơn.
Điều kiện phúc khảo bài thi: Mọi thí sinh có quyền xin phúc khảo bài thi nếu điểm
bài thi thấp hơn điểm trung bình cả năm của môn học đó ở lớp 9 từ 1,0 điểm trở lên.
e) Sở Giáo dục và Đào tạo ủy quyền cho trường THPT Chuyên Thăng Long
nơi đặt hội đồng chấm thi ra quyết định thành lập tổ lấy bài thi xin phúc khảo (thành
phần như thành phần trong hội đồng xét tuyển sinh của trường) để gửi bài thi về Sở.
IV. TỔ CHỨC GIAO NHẬN ĐỀ THI
Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ giao đề thi cho các phòng giáo dục và đào tạo tại các
phòng giáo dục và đào tạo vào ngày 21/6/2010. Các phòng giáo dục và đào tạo chịu
trách nhiệm giao đề thi cho các hội đồng coi thi tại các trường đặt hội đồng coi thi
trên địa bàn (huyện, thành phố), việc tiến hành giao nhận đề thi chậm nhất trước 15
giờ cùng ngày.
Riêng Phòng Giáo dục và Đào tạo Đà Lạt nhận đề thi tại Sở Giáo dục và Đào tạo.

8

Long Đà Lạt
+ Buổi chiều : 13h30 họp toàn thể hội đồng chấm thi.
- Từ ngày 26/6/2010 đến ngày 03/7/2010: tiến hành công việc chấm thi.
Sở GD&ĐT yêu cầu phòng giáo dục và đào tạo, các trường trung học phổ
thông, chủ tịch các hội đồng coi thi, chủ tịch hội đồng chấm thi thực hiện nghiêm túc
công văn này.
GIÁM ĐỐC
Nơi nhận:
- Như trên (để thực hiện).
- UBND Huyện , thị xã, thành phố (để phối hợp)
- Ban Chỉ đạo thi cấp tỉnh
- Các phòng CM Sở
- Lưu VP, KT&KĐ
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status