Đề tài: Một số biện
pháp duy trì và mở
rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm ở nhà máy
thuốc lá Thăng Long
1
Mục lục
Đề mục Trang
Lời mở đầu 3
Phần thứ nhất:
Duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của DNCN trong
cơ chế thị trường 4
I- Các quan điểm cơ bản về thị trường 4
II- Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm là một yêu cầu khách
quan của DN trong cơ chế thị trường 15
Phần thứ hai:
Phân tích thực trạng về việc duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm ở nhà máy thuốc lá Thăng Long 17
I- Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy 17
II- Một số đặc điểm kĩ thuật có ảnh hưởng đến vấn đề duy trì và
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở nhà máy thuốc lá Thăng Long
20
III- Phân tích về thị trường tiêu thụ sản phẩm của nhà máy trong
mấy năm gần đây 36
IV- Đánh giá về sự hoạt động duy trì và mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm ở nhà máy thuốc lá Thăng Long thời gian qua 48
Phần thứ ba:
Một số biện pháp nhằm duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm ở nhà máy thuốc lá Thăng Long
56
I- Tổ chức công tác nghiên cứu thị trường và lập hồ sơ theo dõi
hướng đi đúng là việc duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế cạnh tranh là
một vấn đề khó khăn và phức tạp nhưng nó lại quyết định sự thành bại của các
DN trong cơ chế thị trường. Thử hỏi một sản phẩm sản xuất ra mà không tiêu
thụ được (không có thị trường ) thì sản phẩm, DN đó sẽ đI tới đâu ? Thị trường
là điểm nóng và là trọng tâm của các DN không những hiện tại mà cả trong
tương lai, chỉ có làm tốt công tác tiêu thụ mới góp phần thúc đẩy sản xuất, tạo
việc làm và cải thiện đời sống cho người lao động. Xuất phát từ thực tế như vậy
chuyên đề này được thực hiện với đề tài: “Một số biện pháp duy trì và mở rộng
thị trường tiêu thụ sản phẩm ở nhà máy thuốc lá Thăng Long.”
3
Phần thứ nhất
DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRONG
CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
I-/ CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG
1. Khái niệm về thị trường.
Thị trường ra đời và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản
xuất hàng hoá. Từ khi xuất hiện thị trường đến nay, nền sản xuất hàng hoá đã
phát triển và trải qua nhiều thế kỉ. Nên khái niệm về thị trường được hiểu theo
nhiều cách.
Thị trường theo cách cổ điển: là nơi diễn ra các quá trình trao đổi và buôn
bán.Trong thuật ngữ kinh tế hiện đạI, thị trường còn bapo gồm cả các hội chợ,
cũng như các địa dư hoặc các khu vực tiêu thụ, theo mặt hàng hoặc ngành
hàng.
Thị trường theo quan điểm kinh tế: là lĩnh vực trao đổi mua bán mà ở đó
các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hoá, dịch vụ và
thị phần.
Theo quan điểm của Marketing: Thị trường là tổng hợp nhu cầu hoặc tập
hợp nhu cầu về một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó, là nơi diễn ra các hành vi
người mua chấp nhận và quá trình tái sản xuất của DN được thực hiện. Thị
trường thừa nhận khối lượng hàng hoá và dịch vụ đưa ra thị trường tức là thừa
nhận giá trị sử dụng của hàng hoá dịch vụ đó.
b, Chức năng thực hiện của thị trường: nó được thể hiện ở chỗ thị trường là
nơi diễn ra các hành vi mua bán hàng hoá dịchvụ. Người bán cần giá trị của
hàng hoá, còn người mua lại cần giá trị dụngcủa hàng hoá đó, nhưng theo trình
tự thì việc thực hiện về giá trị chỉ xảy ra khi nào thực hiện được giá trị sử dụng.
c, Chức năng điều tiết và kích thích của thị trường:
Chức năng điều tiết: thông qua nhu cầu thị trường người sản xuất sẽ chủ
động di chuyển hàng hoá, tiền vốn, vật tư từ lĩnh vực này, thị trường này sang
lĩnh vực và thị trường khác nhằm đem lại lợi nhuận cao hơn. Chính vì vậy người
sản xuất sẽ củng cố địa vị của DN mình trong sản xuất kinh doanh nhằm nâng
cao sức mạnh của DN trong cạnh tranh.
Chức năng kích thích: thể hiện ở chỗ thị trường chỉ chấp nhận những hàng
hoá dịch vụ với những chi phí sản xuất lưu thông dưới hoặc bằng với mức trung
bình, nhằm khuyến khích các DN ra sức giảm chi phí sản xuất để hạ giá thành
sản phẩm. Ngày nay cuộc cạnh tranh bằng giá cả và chất lượng đang là cuộc
chạy đua không ngừng giữa các nhà sản xuất và cung ứng.
d, Chức năng thông tin của thị trường: thị trường chỉ ra cho người ssản
xuất biết họ nên sản xuất cái gì với khối lượng bao nhiêu, bán ở đâu,vào thời
điểm nào và với giá là bao nhiêu là thích hợp nhất và có lợi nhất. Thị trường
5
cũng chỉ cho người tiêu dùng nên mua những gì và ở đâu là phù hợp và tin
tưởng nhất.
Chức năng này rất quan trọng nó chứa đựng những thông tin về: tổng số
cung, tổng số cầu, cơ cấu của cung và cầu, quan hệ giữa chúng đối với từng
loại.hàng hoá dịch vụ, chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ, các điều kiệnb tìm
kiếm hàng hoá dịch vụ.
2.2 Vai trò của thị trường đối sự phát triển của DN
Thị trường giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá. ở nước ta,
khích, tiêu dùng có sự chỉ dẫn.
+ Lợi nhuận tối đa được coi là động lực, còn cạnh tranh là phương thức
hoạt động của thị trường. Sự điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh trong
cơ chế thị trường dưới tác động của qui luật của kinh tế đã mang lại những đóng
góp tích cực, do đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, thúc đẩy sự tiến bộ của
khoa học kĩ thuật. Tuy nhiên cần phải thấy rằng sự điều tiết tự động của thị
trường diễn ra khi mọi hiện tượng kinh tế đã bộc lộ, nên chính cơ chế thị trường
đã dẫn đến những hậu quả và sự lãng phí cho xã hội. Để khấc phục những nhược
điểm, một mặt phải triệt để những mặt tích cực của nó, mặt khác phải sử dụng
các đòn bảy kinh tế và những chế định pháp luật trong tay nhà nước để can thiệp
vào thị trường nhằm đảm bảo lợi ích cho ngươì tiêu dùng thúc đẩy sản xuất phát
triển.
+ Trong cơ chế thị trường thì thị trường giữ vai trò quan trọng, thị trường
là sự sống còn của các DN, nhiệm vụ của các DN trong cơ chế thị trường đó là:
Sản xuất phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường, các DN phải tìm mọi cách
để duy trì và mở rộng thị trường thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm,
đổi mới mặt hàng, đổi mơí phương thức bán hàng, phương thức thanh toán có
như vậy mơí tạo điều kiện cho các DN tăng trưởng và phát triển trong cơ chế thị
trường.
4. Nghiên cứu thị trường:
Đây là một việc làm hết sức quan trọng ; nó bao hàm cả việc phân tích,
đánh giá về thị trường như: Phân tích và đánh giá về đối thủ cạnh tranh, sức
mạnh, vị thế của đối thủ từ đó có những kế sách thích hợp để ứng phó. Với các
DN mới tham gia vào thị trường hoặc đã tham gia, bây giờ muốn tung ra thị
trường loại sản phẩm mới thì cần phải có thông tin để phân tích thị trường xem
có thể bán loại hàng hoá mình sắp đưa ra hay không, nếu có thể thì bán được
bao nhiêu, ở mức giá nào, có vấp phải sự cạnh tranh của hàng hoá cùng loại hay
hàng hoá thay thế không.
Cũng qua nghiên cứu thị trường mà DN sẽ xác định được đâu là thị trường
chính, đâu là thị trường tiềm năng. Và loại sản phẩm của DN mình và thế mạnh
Cạnh tranh giữa người bán với người mua là cuộc cạnh tranh diễn ra theo
xu hướng muốn mua rẻ - bán đắt. Sự cạnh tranh này được thực hiện trong quá
trình mặc cả và cuối cùng giá cả được hình thành hành động tiến hành mua bán
do thoả thuận của hai bên.
Sự cạnh tranh giữa người mua với nhau là sự cạnh tranh trên cơ sở qui luật
cung cầu. Khi loại hàng hoá, dịch vụ nào đó có cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh
tranh này trở nên gay gắt. Và kết quả giá cả loại mặt hàng, dịch vụ đó tăng lên.
Vậy là người mua tự làm hại mình.
Cạnh tranh giữa người bán với nhau là cuộc cạnh tranh chính trên thị
trường, là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất. Là cạnh tranh giữa các nhà sản xuất
nhằm dành điều kiên sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có lợi hơn. Sản xuất hàng
hoá càng phát triển, số lượng hàng hoá cung ứng ra trên thị trường ngày càng
8
nhiều thì cạnh tranh ngày một quyết liệt. Một điều tất yếu đã xảy ra “ ăn ra làm
nên” vì thắng thế trong cạnh tranh, những người khác bị đẩy xuống tình trạng
thua lỗ hoặc phá sản.
5. Phân đoạn thị trường:
Là việc phân chia thị trường tổng thể thành các đoạn thị trường nhất định,
đảm trong cùng một đoạn thị trường mang những đặc điểm tiêu dùng giống nhau
hay các đoạn thị trường tương xứng với các loại sản phẩm khác nhau.
Việc phân chia thị trường giữa các DN chọn các đoạn thị trường cho phù
hợp và có lợi nhất trong kinh doanh. Đồng thời có các chính sách Marketing cụ
thể với từng đoạn thị trường. Sau khi phân chia thị trường, DN cần xác định xem
cần thâm nhập bao nhiêu đoạn thị trường, là những đoạn thị trường cụ thể nào
và phải xác định xem đoạn thị trường nào là tố nhất, phù hợp nhất.
Có ba chiến lược thâm nhập thị trường đó là:
. Marketing không phân biệt
. Marketing có phân biệt
. Marketing có trọng điểm
Sau khi xác định được đoạn thị trường nào cần thâm nhập, DN cần xác
Để đảm bảo cho quá trình phân đoạn thị trường và có hiệu quả các DN cần
lưu ý đến cầu của một đoạn thị trường nào đó: có thể định lượng được, tiếp cận
được, có tính thực hiện và khả thi.
II-/ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ CỦA DN TRÊN THỊ TRƯỜNG.
1. Khái niệm của công tác tiêu thụ sản phẩm của DN.
1.1 Khái niệm về tiêu thụ:
Quan điểm của marketing: là quá trình kinh tế, tổ chức kĩ thuật nhằm điều
hành và vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng đặt hiệu quả
kinh tế cao.
Theo các nhà kinh tế: tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của sản xuất kinh
doanh, thông qua tiêu thụ mà DN thực hiện đượcgiá trị sử dụng và giá trị sử
dụng của sản phẩm.
1.2 Vai trò của công tác tiêu thụ:
Như mọi người đều biết sản xuất ra sản phẩm là để bán hoặc trao đổi. Nếu
không phải như vậy thì không phải là mục đích kinh doanh. Vì vậy công tác tiêu
thụ sản phẩm sản xuất ra đối vơí DN sản xuất kinh doanh là hết sức quan trọng.
Vì qua tiêu thụ DN mới thu hồi được vốn bỏ ra và mới có được lợi nhuận. Tiêu
thụ nhanh sản phẩm tức là góp phần làm tăng nhanh vòng luân chuyển vốn.
Qua tiêu thụ DN mới tạo được việc làm và đem lại thu nhập cho người lao
độngvà nộngân sách cho nhà nước.
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới tiêu thụ.
2.1 Chất lượng sản phẩm:
Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các yếu tố, tính chất của hàng hoá mà
hàng hoá có công dụng tiêu dùng nhất định. Đảm bảo chất lượng là điều kiện
10
sống còn của DN. Để có thể đứng vững và vươn lên trong cạnh tranh, DN phải
không ngừng tìm mọi biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm.
Đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá đã tạo điều kiện cho
việc kéo dài chu kì sống của sản phẩm, đảm bảo sự tồn tại lâu dài của DN, giành
thắng lợi trong cạnh tranh và thu hút thêm ngày càng nhiều khách hàng, góp
hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm:
Vì con người vừa là người sản xuất ra sản phẩm và chính họ vừa là người
tiêu dùng số sản phẩm đó. Mật độ dân cư đông hay thưa sẽ có ảnh hưởng lớn tới
việc tiêu thụ sản phẩm của DN.
Mức thu nhập bình quân có ảnh hưởng tới việc tiêu thụ sản phẩm. ậ đâu
mức thu nhập bình quân cao thì ở đó sản phẩm sẽ tiêu thụ được nhiều. Bởi nó
tuân theo qui luật cung cầu. Nếu giá cả không biến động nhiều thì với số tiền lớn
hơn tất yếu sẽ mua đựoc nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn.Chính vì vậy các DN sẽ
tập trung sản phẩm của mình nhiều hơn vào khu vực thị trường đó.
3. Nội dung của công tác tiêu thụ:
a, Tổ chức công tác tiêu thụ:
Bao gồm hàng loạt khâu công việc khác nhau, từ việc quảng cáo, chào
hàng, giới thiệu sản phẩm đến việc tổ chức mạng lưới tiêu thụ, kí kết các hợp
đồng tiêu thụ, vận chuyển, điều tra, nghiên cứu các nhu cầu của khách hàng
Cuối cùng là việc khẩn trương thu hồi tiền hàng bán ra. Đây chính là biện
pháp chủ quan của DN nhằm thúc đẩy quá trình bán hàng được nhanh chóng.
b, Tổ chức kênh tiêu thụ:
Kênh tiêu thụ là đường đi, là phương thức di chuyển hàng hoá từ nơi sản
xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Trong một kênh tiêu thụ bao gồm ba yếu tố chủ yếu: Người sản xuất (cung
cấp ), các phần tử trung gian và người tiêu dùng cuối cùng.
Do khối lượng các khâu trung gian phân phối và phương thức phân phối
khác nhau, sẽ hình thàng nên nhiều loại kênh phân phối khác nhau.
Có hai loại kênh phân phối chủ yếu sau đây:
Kênh tiêu thụ trực tiếp: là loại kênh không tồn tại khâu trung gian, hàng
hoá vận động di chuyển từ nhà sản xuất đến thẳng tay người tiêu dùng.
Sơ đồ 1: Kênh tiêu thụ trực tiếp
Sử dụng kênh phân phối trực tiếp là hình thức phân phối đơn giản nhất, thể
hiện sự phân công lao động chưa phát triển. Thể hiện qui mô sản xuất còn nhỏ.
Nhưng nhờ đó sản phẩm của DN sản xuất ra nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu
Đại lí bán lẻ
Tiêu dùng Bán buônNhập khẩuĐại lí xuất khẩuNgười sản xuất
Bán lẻ
Do tính chuyên cao trong sản xuất và hoạt động thương nghiệp, việc sử
dụng loại kênh này cho phép nhà sản xuất chuyên tâm vào công việc của mình
đồng thời phát huy được hết lợi thế của các phần tử trung gian để nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Nhờ đó có thể tăng cường được những lợi thế trong việc cạnh
tranh và mở rộng thị trường.
Nhà sản xuất sẽ tránh được tình trạng ứ đọng vốn do phải dự trữ hàng hoá
gây ra. Thực hiện san xẻ rủi ro trong kinh doanh qua các khâu phân phối.
Hạn chế:
+ Do hàng hoá phải vận động qua nhiều khâu trung gian sẽ làm kéo dài
thêm khoảng cách giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng. ĐIều đó làm cho khả
năng đáp ứng nhu cầu thị trường bị chậm lại, mặt khác người sản xuất sẽ thiếu
những thông tin cụ thể về thị trường và khách hàng.
+ Sử dụng kênh phân phối gián tiếp thường làm tăng chi phí hoạt động sản
xuất kinh doanh nhất là qua các tổ chức, khâu trung gian bất hợp lí.Và một điều
tất yếu là phải chịu một qui luật tất yếu đó là qui luật tỉ suất lợi nhuận bình quân
( cho các nhà thương nghiệp).
c, Các chính sách hỗ trợ tiêu thụ.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và tình hình cạnh tranh trên thị trường
diễn ra ngày càng quyết liệt thì các hoạt động xúc tiến yểm trợ càng có vị trí
quan trọng. Nó làm gia tăng khối lượng hàng hoá tiêu thụ, thu hút hàng hoá vào
các kênh lưu thông và tạo cho nhà kinh doanh khai thác triệt để các lợi thế.
Các hoạt động xúc tiến bán hàng chủ yếu thường được sử dụng gồm có:
Các hoạt động trưng bày triển lãm: mục đích chính của các hoạt động
trưng bày triển lãm nhằm thu hút sự chú của các nhà chuyên môn, các giới DN
và khách hàng có quan tâm tới sản xuất kinh doanh của DN. Sự thu hút này tạo
ra khả năng liên kết và hợp tác trong kinh doanhgiữa các nhà sản xuất với nhau,
giữa nhà sản xuất, nhà phân phối với khách hàng, giúp DN xây dựng đội ngũ
Trong cơ chế thị trường có môtỵ qui luật không thể phá vỡ, mọi DN đều
phải chấp nhận và biết chấp nhận. Qui luật này tương đối khắc nghiệt mà các
DN không thể dễ dàng vượt qua, lúc nào cũng phải chống đỡ đối phó với nó,
nếu không muốn DN mình bị đẩy ra khỏi sân chơi trong kinh doanh. Đó là qui
luật cạnh tranh.
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung thì qui luật này trong kinh doanh
không có ý nghĩa. Bởi mỗi DN được nhà nước giao cho sản xuất một loại mặt
hàng, với số lượng đã có trước. Vì nhà nước đã cân đối đủ số lượng sẽ sản xuất
ra và tiêu dùng. Dù người tiêu dùng có muốn hơn cũng khó, muốn đẹp hơn cũng
thôi.
Trong cơ chế thị trường lại không như vậy. Ai muốn sản xuất ra cái gì, với
số lượng bao nhiêuvà bán ở đâu, điều đó tuỳ thuộc vào khả năng thực hiện của
các DN. Miễn là không vi phạm vào những điều cấm của pháp luật. còn sản xuất
ra bán cho ai và có bán được không, trách nhiệm đó nhà sản xuất tự lo liệu.
Không những thế nhà sản xuất còn phải tự lo về vốn, kĩ thuật, công nghệ và tự
15
tuyển dụng lao động Và đặc biệt là sựcạnh ranh quyết liệt của cơ chế thị
trường.
Người tiêu dùng trong cơ chế thị trường được các nhà kinh doanh coi là
thượng đế của họ. Người tiêu dùng có thể chọn và mua bất kì loại hàng hoá gì ở
đâu, với khối lượng bao nhiêu đều được đáp ứng. Miễn sao họ có khả năng
thanh toán. Và lẽ dĩ nhiên sự lựa chọn của họ phải có chọn lọc nghĩa là ở đâu
hàng hoá tốt hơn rẻ, thuận tiện hơn cho việc mua hàng, đẹp hơn và phục vụ tốt
hơn và họ có thiện cảm hơn thì họ sẽ mua ở đó. ĐIều đó đúng thôi bởi vì đoòng
tiền do họ phảii bỏ ra phải đền đáp xứng đáng. Vì vậy DN nào đáp ứng được
những nhu cầu trên tót hơn thì có nhiều “ Thượng đế “ hơn. Hàng hoá của DN
bán ra nhiều hơn, doanh thu cũng như lợi nhuận thu về nhiều hơnvà DN đó càng
đứng vững hơn trên thị trường. Và đã thành qui luật khi một người bán được
nhiều hàng hơn thì người kia bán sẽ ít đi nên doanh thu và lợi nhuận giảm đI,
kéo theo sự giảm sút về uy tín và mất dần thị trường. Nếu không muốn mất 8hết
quyết định số 2990/QĐ của thủ tướng chính phủ, nhà máy thuốc lá được xây
dựng và chính thức được đưa vào hoạt động ngày 6/1/1957 tại thị xã Hà Đông
tỉnh Hà Sơn Bình ( nay là tỉnh Hà Tây ).
Cho đến nay nhà máy thuốc lá Thăng Long đã trải qua 40 năm xây dựng
và trưởng thành. Qua qúa trình phát triển lâu dài với bao thăng trầm trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Ngày nay nhà máy đã vươn lên trở thành một trong
số nhà máy đầu ngành của ngành thuốc lá Việt Nam.
1. Các giai đoạn hình thành và phát triển:
Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy thuốc lá Thăng Long có thể
chia ra làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: từ năm 1957 đến 1986.
Những năm đầu nhiệm vụ sản xuất chính của nhà máy là sản xuất các loại
thuốc lá điếu, nhằm cung cấp cho nhu cầu của nhân dân, chủ yếu là lực lượng vũ
trang và cán bộ công nhân viiên chức. Thời kì sơ khai nhà máy chỉ được tiếp
nhận một cơ sở vật chất kĩ thuật nhỏ bé. Số công nhân viên chỉ là 233 người.
Đến cuôí năm 1958 sau nhiều lần tuyển dụng nhà máy đã có tới 905 công nhân
viên và một số dây chuyền máy móc thiết bị của Tiệp Khắc ( cũ ) và Trung
Quốc.
Kĩ thuật sản xuất thủ công, máy móc cũ kĩ lạc hậu cộng với tay ngề của
công nhân còn thấp, trình độ sản xuất còn non kém, vì vậy việc sản xuất gặp rất
nhiều khó khăn.
Những năm đầu đi vào sản xuất nhà máy chỉ sản xuất được 8.950.000 bao
thuốc lá các loại, tương đương với giá trị là 2.095.000đ (thời giá năm 1957).
Để khắc phục tình trạng này, đến năm 1960 với sự trợ giúp của Trung Quốc
nhà máy đã tiến hành xây dựng cơ sở vật chất, tổ chức lại sản xuất và từ đó dần
18
dần đI vào thế ổn định. Vì vậy sản lượng năm 1960 của nhà máy đã đạt
73.400.000 bao.
Với nỗ lực cố gắng của mình, nhà máy đã nhanh chóng củng cố lại sản
xuất, đưa tổng sản lượng của năm 1960 tăng 8 lần so với những năm đầu thành
này chỉ còn 171.730.000 bao. Nhịp độ sản xuất và tiêu thụ giảm sút, số lao động
dôi dư so với nhu cầu sản xuất ngày càng lớn. Đây cũng là bước thăng trầm
19
chung của tất cả các ngành sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân nước
ta, trong đó có ngành thuốc lá.
Song với nhà máy thuốc lá Thăng Long tình trạng đó không kéo dài, nhà
máy đã nhanh chóng tìm ra được lối thoát bằng cách tập trung vào việc đầu tư
chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, nghiên cứu sâu vào
khâu tiếp thị và bán hàng để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Để đuổi kịp sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ, cũng như duy
trì nhịp độ sản xuất trong cơ chế thị trường, nhà máy đã nhập một loạt thiết bị
mới và đưa vào sản xuất. Do đó chất lượng và sản lượng của nhà máy được phục
hồi và tăng lên rõ rệt. Chẳng hạn như năm 1996 sản lượng thuốc lá của nhà máy
chỉ đạt 132.649.000 bao thì đến năm 1998 sản lượng đó đã tănglên
156.435.000bao. Và tỉ lệ thuốc lá đầu lọc năm 1996 chỉ chiếm có 45,77% thì
đến năm 1998 tăng tỉ lệ thuốc lá đầu lọc lênchiếm 82%và tỉ lệ thuốc lá đầu lọc
bao cứng chiếm 35%. Đây chính là điều kiện cơ bản tạo đà cho nhà máy phát
triển những năm tiếp theo.
Năm 1998 nhà máy đã hoàn thành dây chuyền sản xuất sợi. Đây là bước
đột phá khẩu của nhà maý. Nó cho ra chất lượng sợi tốt và đảm bảo chất lượng
sản phẩm hơn.nhờ có dây chuyền sản xuất sợinhà máy đã đảm bảo đủ nguồn
nguyên liệu( sợi) phục vụ cho việc đa dạng hoá sản phẩm.
Ngoài ra nhà máy đang mở rộng hướng sản xuuất kinh doanh trong việc
hợp tác vơí các hãng nổi tiếng thế giới như: hợp tác với hãng ROTHMAN, lập
dây chuyền sản xuất thuốc lá DUNHILL tại nhà máy. Hợp tác với các hãng
TOBACO và BAT ( Britsh American TOBACO ).
Cùng với vấn đề đổi mới công nghệ, nhà máy thuốc lá Thăng Long còn tập
trung vào giải quyết các vấn đề thị trường. Công tác nghiên cứu thị trường và
chính sách tiếp thị của nhà máy ngày càng được quan tâm chú ý và được đầu tư
thích hợp. Hiện nhà máy có đội ngũ tiếp thị chuyên mang sản phẩm đến từng
2001 1.200.000đ
II-/ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KĨ THUẬT CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẤN ĐỀ
DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở NHÀ MÁY
THUỐC LÁ THĂNG LONG
1. Tính chất và nhiệm vụ sản xuất của nhà máy.
Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thuốc lá của nhân dân, nhà máy đã
cho ra đời nhiều loại sản phẩm có chất lượng tốt, được người tiêu dùng đánh giá
cao.
Qua những năm tháng hình thành và phát triển nhà máy đã cho ra thị
trường nhiều loại sản phẩm khác nhau.Đặc biệt là giai đoạn từ sau năm 1986,
nhà nước đã cho chuyển nền kinh tế theo cơ cấu một nền kinh tế thị trường. Thị
trường và vấn đề cạnh tranh trên thị trường là vấn đề cơ bản, sống còn của mỗi
DN. Nhiệm vụ của nhà máy trong thời gian này là sản xuất những mặt hàng
truyền thống và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó phải
luôn nghiên cứu để cho ra đời những sản phẩm mới với chất lượng ngày một cao
hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường với những đòi hỏi ngày một cao
hơn.
21
2. Tình hình đầu tư và sử dụng máy móc thiết bị của nhà máy.
Trước đây dây chuyền sản xuất của nhà máy còn lạc hậu, không đồng bộ và
thời gian khấu hao đã hết. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, bằng
nguồn vốn cấp phát của tổng công ty thuốc lá Việt Nam và bằng nguồn vố tự có
nhà máy đã đầu tư mua sắm dây chuyề máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất
mới từ nước ngoài. Nhà máy đã lắp đặt thêm máy cuốn MAK8, MAK3, máy
đóng bao Tây Đức số 3, đại tu phần điện, 2 máy AC - 11 và đặc biệt lắp đặt day
chuyền sản xuất sợi đảm bảo tốt về chất lượng và chất lượng sản phẩm thuốc lá
của nhà máy. Cho đến năm 1998 nhà máy đã có một đây chuyền máy móc thiết
bị, công nghệ hiện đại đủ khả năng cho ra thị trường những sản phẩm có chất
lượng cao, mẫu mẫ đẹp đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Biểu 3: Tình hình máy móc thiết bị của nhà máy
Nguyên liệu
Sợi
Đây là dây chuyền có vốn đầu tư lớn, có tính tự động cao, có khả năng chế
biến sợi thuốc lá phẩm cấp caothấp khác nhau. Vì vậy thích hợp cho viẹc đa
dạng hoấ các loại sản phẩm.
Phân xưởng DUNHILL:
Được trang bị một dây truyền thiết bị hiện đạicủa hãng ROTHMAN dưới
hình thức cho vay và chuyển giao công nghệ. Dây chuyền này cho ra thị trường
những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảoi chất lượng và đủ sức cạnh
tranh trên thị trường.
Phân xưởng bao cứng:
Máy móc thiết bị của phân xưởng này khá hiện đại, hầu hết đèu đươc nhập
vào những năm 90. Dây chuyền hoàn toàn tự động và cần rất ítlao động sử dụng.
Tạo ra một năng suất khá cao, sản phẩm đạt chất lượng, đẹp về mẫu mã.
Ngoài ra để phục vụ cho các phân xưởng sản xuất chính, nhà máy có phân
xưởng nguyên liệu, phân xưởng cơ điện củng cố và sửa chữa máy móc thiết bị
phục vụ tốt cho sản xuất chính.
Nhìn chung máy móc thiết bị của nhà máy thuốc lá Thăng Long đã đạt đến
tính tự động tương đối cao, có đủ khả năngcho ra những sản phẩm chất lượng
24
Thùng
trữ phối
trộn v à
ủ lá
L m à ẩm ngọn lá
Gia liệu
Máy cắt
ngọn v à
phối
Hấp chân
( chủ yếu ở phân xưởng bao mềm) đã quá cũ, tỉ lệ lao động thủ công cao.
3. Nguồn cung ứng nguyên vật liệu:
Thực hiện chỉ đạo và hợp tác gieo trồng thuốc lá giống mới ở các địa
phương như: Lạng sơn,Hà bắc, Bắc thái Nhà máy thường xyên cử cán bộ và
công nhân kĩ thuật trực tiêp xuống nơ gieo trồng để thực hiện giám sát và cố vấn
kĩ thuật. Năm 2000 diện tích gieo trồng của cả hai vụ là 2095ha so với năm 1999
đạt 216%.
Có 2 vùng nguyên liệu chủ yếu của nhà máy:
Vùng 1: Gồm Cao Bằng, Lạng Sơn và một số xã ở huyện Sóc Sơn ngoại
thành Hà Nội. ĐâY là vùng nguyên liệu có chất lượng khá cao.
Vùng 2: Gồm Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hà Tây Là vùng có năng suất khá cao
nhưng chất lượng không bằng vùng 1.
Ngoài nguồn cung cấp nguyên liệu ở nội đỉâ nhà máy hàng năm vẫn phải
nhậpmột khối lượng nguyên liệu nhất định, như nhập thuốc sợi từ SINGAPO để
sản xuất thuốc lá VINATABA. Các loại nguyên liệu khác như nhập thuốc lá
vàng của CAMPUCHIA, thuốc lá nâu ở phía nam. Các loai nguyên liệu này
được phối trộn theo những tỉ lệ khác nhau, tuỳ theo từng mác thuốc. Mỗi năm
nhà máy phải mua khoảng 500 tấn nguyên liệu thuốc lá nâu và khoảng 100
thuốc lá vàng. Nhà máy còn phải mua hàng loạt các loại phụ liệu khác nhau như:
Giấy cuốn đầu lọc, giấy bóng kính, các loại phụ liệu phục vụ cho sản xuất cùng
các loại hoá chất khác Phần lớn những phụ liệu này đều phải nhập từ nước
ngoài.
Hiện nay nhà máy đã hợp tác với các hãng thuốc lá: TOBACO của Pháp và
BAT (British America TOBACO) trồng thực nghiệm gần 100ha giống mới tại
Sóc Sơn, Ba Vì, Hà Bắc Bước đầu đã đạtiêu thụ kết quả tốt.
4. Lao động và quản lí, tổ chức lao động ở nhà máy:
Nhà máy thuốc lá Thăng Long là một đơnhưng vị kinh tế lớn, đang có
những bước phát triển mạnh. Nhà máy đã giải quyết tốt vấn đề lao động, có
những năm tổng số lao động của nhà máy lên tới hơn 2669 người ( Số liệu năm
1986). Cho đến hiện nay số lượng lao động của nhà máy chỉ là 1157 người.