Động vật không xương sống ( phần 3 )
Đặc điểm chung của động vật thân mềm
1) Cơ thể được chia thành 3 phần là đầu, thân và chân, mức độ phát triển
của các phần tuỳ thuộc vào từng nhóm khác nhau trong đó phần đầu xác
định. Hầu hết động vật thân mềm có đối xứng 2 bên, riêng nhóm chân
bụng (ốc) có hiện tượng mất đối xứng (hình 6.1).
2) Chân được hình thành ở mặt bụng, có một số chức phận nhưng quan
trọng nhất là vận chuyển.
3) Có một cơ quan đặc trưng nằm ở mặt lưng là áo, có xoang áo bao lấy
mang hay phổi, ngoài áo là vỏ.
4) Bề mặt của biểu bì là các lông nhỏ, tuyến tiết chất nhầy và tận cùng
của thần kinh.
5) Xoang cơ thể còn lại là xoang bao tim và một số phần khác như xoang
thận.
6) Hệ tiêu hoá cấu tạo hoàn chình, ở miệng có các lưỡi gai (radula) còn
hậu môn thường đổ vào xoang áo.
7) Hệ tuần hoàn hở (trừ Chân đầu là tuần hoàn kín), tim thường có 3
buồng. hệ mạch gồm các động mạch, tĩnh mạch, mao mạch và có sắc tố
hô hấp trong máu.
8) Hô hấp bằng mang, phổi nằm trong xoang áo, một số hô hấp qua bề
mặt cơ thể.
9) Bài tiết là hậu đơn thận, có 1 hay 2 thận, có ống dẫn và lỗ bài tiết đổ
vào xoang áo.
10) Thần kinh có các đôi hạch não, hạch bên, hạch chân và hạch nội
tạng… Ở Chân bụng và Chân đầu các hạch nối với nhau tạo thành vòng
thần kinh.
11) Cơ quan cảm giác khá phát triển gồm xúc giác, khứu, vị giác và thị
giác (phát triển nhất ở Chân đầu).
12) Có xuất hiện thêm một số cơ quan bên trong giữ chức phận quan
trọng.
mềm chính là thể xoang tiêu giảm. Thân mềm có hệ tuần hoàn hở (máu
không chảy hoàn toàn trong mạch), nhưng lại có tim có cấu tạo khá hoàn
chỉnh. Ở mực tim có một tâm thất và 2 hay 4 tâm nhĩ). Hệ bài tiết là dạng
biến đổi của hậu đơn thận.
Hệ thần kinh theo kiểu bậc thang kép (ở nhóm thân mềm cổ) hay dạng
hạch phân tán. Hệ tiêu hoá có cơ quan đặc trưng là lưỡi gai (radula). Cơ
quan hô hấp là mang lược (ctenidia) (hình 6.3).
Lưỡi gai (lưỡi bào - radula) là cấu trúc đặc trưng của động vật thân mềm,
cấu tạo là một khối kitin hay prôtein lát thành dưới của thực quản, mặt
trên lưỡi gai có nhiều dãy răng kitin. Phần gốc của lưỡi gai có các tế bào
sinh ra phần lưỡi gai khi bị bào mòn do quá trình tiêu hoá. Hoạt
động của lưỡi gai được điều khiển bởi các chùm cơ co và duỗi và
lưỡi gai có thể thò ra ngoài cạo và cuốn thức ăn là thực vật vào miệng. Sự
sắp xếp của các gai trên lưỡi gai là đặc điểm chẩn loại quan trọng (hình
6.4).
Ngành Giun Tròn
Bao gồm các động vật mang đặc điểm điển hình của động vật Có xoang
giả. Có thể gặp giun tròn khắp mọi nơi (trong nước, nền đáy của các thuỷ
vực, đất ẩm và ký sinh trong cơ thể động vật và thực vật).
Chúng có khối lượng lớn, ví dụ sống tự do trên các thảm mục hay nền
đáy, mật độ giun tròn có thể đạt tới hàng nghìn hay hàng triệu cá thể
trên m
2
, hay ký sinh trong cơ thể động vật, thực vật, trong một cơ
thể vật chủ có thể tới hàng trăm nghìn cá thể.
1. Đặc điểm cấu tạo và sinh lý
1.1 Cấu tạo chung
Cơ thể hình thoi dài, 2 đầu nhọn và có
với tầng cuticula tạo thành một lực đối kháng để đưa hoạt động cơ về vị
trí cũ.
Các dải cơ dọc luân phiên co duỗi về phía lưng và bụng, uốn cơ thể và lắc
lư để đưa cơ thể về phía trước, thích nghi với điều kiện sống trong bùn,
thảm mục hay trong cơ thể vật chủ.
1.2 Cấu tạo hệ cơ quan
Hệ tiêu hoá: Bắt đầu bằng lỗ miệng nằm phía trước cơ thể, có 3 thùy môi
bao phủ xung quanh gồm 1 môi lưng và 2 môi bên. Tiếp theo là xoang
miệng hẹp và nhỏ. Xoang miệng có hình dạng khác nhau tuỳ theo cách
lấy thức ăn ở các giun tròn. Ở một số giun tròn ký sinh động vật thì xoang
miệng có răng, còn giun tròn ký sinh thực vật thì có kim hút thò ra ngoài.
Sau xoang miệng là hầu hình bầu dục, có nguồn gốc lá phôi ngoài. Tiếp
theo hầu là thực quản có thành cơ dày, đôi khi phình ra thành bầu thực
quản. Xoang thực quản có hình hoa thị có lát cuticula và có
tuyến tiêu hoá thường dẹp theo hướng lưng bụng và có nhiều nếp
nhăn. Sau thực quản là ruột giữa chạy dọc cơ thể, có thành mỏng, bên
trong có nhiều nếp gấp dọc. Ruột sau ngắn đổ ra ngoài qua hậu môn.
Ruột của giun tròn có thể tiêu giảm tuỳ mức độ (hình 5.10).
Hệ thần kinh: Có vòng thần kinh hầu (hay vòng thần kinh não) và các dây
thần kinh chạy dọc cơ thể về phía trước và sau, trong đó dây thần kinh
lưng và bụng có kích thước lớn hơn cả (có 6 dây dọc ngắn hướng về
trước và 6 dây dọc dài hướng về sau) (hình 5.11). Giun tròn sống tự do có
một số cơ quan cảm giác như cơ quan xúc giác và cảm giác hoá học. Giun tròn chưa có hệ tuần hoàn và hệ hô hấp chuyên hoá. Dịch trong
xoang cơ thể có chứa sắc tố làm nhiệm vụ tuần hoàn. Một số giun tròn hô
hấp yếm khí. Một số giun tròn như giun đũa lợn khi môi trường giàu ôxy
lại bất lợi cho chúng vì sẽ hình thành H2O2 gây độc đối với cơ thể.
phân cắt trứng ở các giun tròn ký sinh (Bennett, Ward, 1986) (hình 5.13).
Ở giai đoạn 2 phôi bào, một phôi bào là mầm của tế bào sinh sau này
nguyên phân bình thường, còn phôi bào kia thì nhiễm sắc thể của nó bị
tiêu biến một phần trước khi phân chia tiếp theo. Đến giai đoạn 64 phôi
bào thì chỉ có 2 phôi bào có đủ bộ gen, là tiền thân của phần sinh, còn 62
tế bào còn lại chỉ chứa khoảng 20% bộ gen sẽ cho ra các tế bào phần thể.
Một đặc điểm đáng chú ý nữa là sau giai đoạn tạo cơ quan, các tế bào thể
không tiếp tục phân chia nữa. Vì vậy số lượng tế bào sẽ được giữ nguyên
cho đến trưởng thành, tế bào chỉ lớn về kích thước mà không tăng số
lượng. Phôi vị được hình thành theo cách lõm vào và có biến đổi ít nhiều.
Phát triển hậu phôi của giun tròn nhìn chung qua 4 lần lột xác, phân biệt
thành ấu trùng các tuổi từ 1 – 4. Hình dạng của ấu trùng giống trưởng
thành (ở lần lột xác thứ 4).
Ấu trùng có thể lột xác ngay trong trứng và ở tuổi 3 có khả năng gây
nhiễm. Phát triển của giun tròn không qua xen kẽ thế hệ, có thể phát triển
trực tiếp hay gián tiếp.
Phát triển trực tiếp: Ở giun tròn ký sinh thực vật đẻ trứng vào đất hay vào
cây chủ, phát triển trực tiếp ở đó. Giun tròn ký sinh động vật thì trứng
theo phân của vật chủ ra ngoài và vào cơ thể vật chủ bằng con đường tiêu
hoá. Khi thải ra ngoài thì trứng thường ở vào giai đoạn hình thành ấu
trùng hay đang phân cắt vì vậy cần có thời gian phát triển ở môi trường
ngoài thì ấu trùng mới có điều kiện nhiễm bệnh. Có một số trường hợp ấu
trùng sống trong đất một thời gian rồi mới chui vào vật chủ qua da. Khi
vào ống tiêu hoá của cơ thể vật chủ, ấu trùng có thể hình thành
ngay con trưởng thành tại đó (Trichocephala, Oxyurata) hay qua vòng
di chuyển phức tạp qua gan, phổi, tim… rồi trở về nơi ký sinh là ống tiêu
hoá (Ascaridata).
Phát triển gián tiếp: Phát triển qua vật chủ trung gian là động vật không
xương sống như côn trùng, giun đất, ốc, giáp xác… Thông thường trứng