Động vật không xương sống ( phần 7 ) Lớp Sán - Pdf 18

Động vật không xương sống ( phần 7 )
Lớp Sán lá đơn chủ
Sán lá ký sinh cỡ bé (0,5 – 6mm), vật chủ là bò sát, cá, lưỡng thê, hay
không thay đổi.
Hiện biết khoảng 1.100 loài. Nhiều loài gây hại cho nghề nuôi cá. Có các
đặc điểm khác với sán lá Song chủ như sau:
Cơ thể có đĩa bám phức tạp, thường ở phía cuối cơ thể (hình 4.11).

Đẻ trứng, ấu trùng có móc, phát triển biến thái nhưng không xen kẽ thế hệ
và không có vật chủ trung gian. Trứng nở thành ấu trùng có móc
(Onchomiracidium), sau đó bám vào vật chủ để phát triển thành trưởng
thành.
Phần lớn ký sinh ngoài (da, mang) hay ký sinh trong (xoang
miệng, xoang hầu…) của cơ thể vật chủ. Gây bệnh cho cá, có trường
hợp trên một cá chép con gặp tới 500 cá thể sán ký sinh. Các loài có ý
nghĩa thuộc về họ Dactylogyridae sống trên mang cá nước ngọt, gây bệnh
cho cá giống, làm cho cá chết hàng loạt.
Ở Việt Nam hiện biết có khoảng gần 100 loài. Các giống có
nhiều loài là Dactylogyrus, Sundamonchus… Khu hệ sán lá đơn chủ ở
lưu vực sông Hồng và lưu vực sông Cửu Long khác nhau rõ rệt (chỉ
có 2 loài chung cho 2 khu vực là Quandriacanthus kobiensis và
Gyrodactylus fusci).
Lớp Sán lá Song chủ
Có khoảng 3.000 loài, phát triển có xen kẽ thế hệ, di chuyển qua ít nhất là
2 vật chủ. Cấu tạo cơ thể có nhiều đặc điểm giống với sán lông, kích
thước thay đổi.

1. Cấu tạo cơ thể của sán trưởng thành Cơ thể thường dẹp, hình lá, có 2 giác bám, một giác bám bụng và một

trình thụ tinh xảy ra như sau: Noãn từ tuyến trứng được chuyển vào ôôtyp
khi giao phối, tinh trùng theo tử cung vào ôôtyp và gặp noãn. Lượng tinh
trùng thừa được thải ra ngoài theo ống Laurer. Tế bào noãn hoàng
theo ống dẫn vào ôôtyp, bao quanh trứng, tuyến vỏ hình thành lớp
vỏ cứng. Trứng sau đó chuyển ra ngoài theo tử cung. Ngoài ra còn có thể
Melit là thành phần của cơ quan sinh dục cái. Thể Melit là một khối hình
cầu, tại đây ống dẫn của thể Melit đổ vào ống dẫn trứng.
2. Vòng đời của Sán lá song chủ (hình 4.9)

Quá trình phát triển của sán lá song chủ rất phức tạp, có hiện tượng xen
kẽ thế hệ và di chuyển vật chủ. Trứng theo mật vào ruột rồi theo phân
ra ngoài, rơi vào nước và vỏ trứng vỡ, giải phóng ra ấu trùng có
lông được gọi là mao ấu (miracidium). Miracidium có cơ thể đầy
lông bao phủ, mắt lẻ hình chữ thập, có hạch não và một đôi nguyên đơn
thận và có nhiều tế bào mầm.
Sau một thời gian bơi lội tự do trong nước miracidium chui vào nội quan
của cơ thể ốc thuộc các giống Limnaea, Melanoides, Melania
(thường là vào gan hay tuyến sinh dục) phát triển hình thành nên ấu
trùng nang hay bào nang (sporocyst). Bào nang có hình dạng thay đổi
(hình túi hay hình trụ), mất mắt, bên trong có các tế bào mầm. Bào nang
lớn dần lên, tế bào mầm bắt đầu phân chia, hình thành nên mầm
của một thế hệ ấu trùng mới được gọi là redia. Khác với bào nang, redia
có hầu, có túi ruột ngắn và có lỗ. Bào nang sẽ vỡ ra, các redia tiếp tục
hoạt động trong cơ thể ốc. Các tế bào mầm trong cơ thể redia hình thành
nên cercaria có đặc điểm giống với trưởng thành. Cercaria rời khỏi cơ thể
ốc ra ngoài, nhờ có đuôi mà có thể hoạt động tự do trong nước. Sau một
thời gian, cercaria bám vào lá cây thuỷ sinh, rụng đuôi, kết vỏ cứng tạo
thành bào xác (abdocercaria). Cũng có khi cercaria có phần đầu kết vỏ
trong suốt nằm trong nội quan của vật chủ trung gian thứ hai trước khi
vào vật chủ chính (được gọi là metacercaria).

cừu, dê, gây bệnh nặng cho vùng chiêm trũng. Vật chủ trung gian là ốc tai
Lynaea swihoei.
Sán lá ruột lợn hay Sán bã trầu Fasciolopsis buski: Ký sinh trong ruột non
của lợn và ruột tá của người. Mỗi ngày đẻ 5.000 trứng, phát triển qua 3-7
tuần, vật chủ trung gian là ốc đĩa dày Polypilis hemisphoerula. Kén bám
trên bèo Nhật bản, rau lấp, rau muống phổ biến ở vùng đồng bằng. Ký
sinh gây bệnh tắc ruột, phù gan thiếu máu
San lá gan nhỏ Clonorchis sinensis: Ký sinh trong ống dẫn mật
của người, mèo, chó… Người bị nhễm bệnh do ăn gỏi cá, triệu chúng
phù gan, vàng da, viêm
túi mật phát triển qua 2 vật chủ trung gian là ốc Melanoides
tuberculatus hay ốc Parafossarulus striatulus và vật chủ trung gian thứ 2
là các loài cá trong họ cá chép (chép, trắm cỏ, mè trắng…). Bệnh khá phổ
biến ở Việt Nam, vùng đồng bằng hay Tây nguyên.
Giống Sán máu (Schistosoma): Có 3 loài phổ biến là S. haematobium (ký
sinh ở bọng đái của người gây đái ra máu); S. mansoni (ký sinh ở ruột gây
loét ruột); S. japonicum (ký sinh ở gan gây sưng gan, lách. Bệnh rất phổ
biến trên thế giới (200 triệu người bị nhiễm bệnh và hàng năm có
khoảng 800.000 người bị chết) (hình 4.10).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status