Động vật không xương sống ( phần 2 )
Sinh thái cá Lưỡng tiêm
Cá Lưỡng tiêm phân bố rộng rãi ở Ấn Độ Dương và dọc bờ biển châu Á
của Thái Bình Dương, khá phổ biến ở bờ biển Trung Quốc, Nhật Bản và
có nhiều ở eo biển Đài Loan. Ở vịnh Bắc Bộ Việt Nam đã phát hiện thấy
ở vùng biển Bạch Long Vĩ.
Cá Lưỡng tiêm thường sống nơi đáy cát thô, xốp, sâu khoảng 8 - 20m,
nước trong, nồng độ muối 2,0 - 3,1%, độ pH khoảng 8 - 8,18.
Thức ăn của cá Lưỡng tiêm là động vật phù du và khuê tảo. Cá thành thục
sau 1 năm tuổi, đạt chiều dài khoảng 30 - 45mm. Cá sinh sản vào mùa hè,
đẻ 3 lần trong đời, sống được 3 - 4 năm. Ban ngày cá ẩn mình trong cát,
ban đêm mới nổi dần lên mặt nước.
Là loại cá có giá trị dinh dưỡng cao (khoảng 70% protein và 20% lipit)
Sự phát triển cá Lưỡng tiêm
Kovalepski A. O. là người đầu tiên nghiên cứu quá trình phát triển của
Lưỡng tiêm, công trình này có một ý nghĩa to lớn. Nhờ nó mà có
thể phán đoán được những giai đoạn đầu của cây phát sinh động vật
Dây sống nói chung và động vật Có xương sống nói riêng.
Thụ tinh trong nước, thường xảy ra vào buổi chiều, sau đó phân cắt rất
nhanh. Đầu tiên hình thành phôi dâu (morula), tiếp theo là phôi nang
(blastula). Tiếp theo là sự lõm vào của phôi bào lớn cho đến khi tiếp giáp
với tế bào nhỏ, quá trình này là sự phôi vị hoá (gastrula), có 2 lớp tế bào
là lớp ngoài còn gọi là lá phôi ngoài (ectoderma) hay lá phôi thứ nhất, lớp
trong là lá phôi trong (entoderma) hay lá phôi thứ 2. Lúc này xoang phôi
được bọc bới lá phôi trong được gọi là xoang phôi vị hay ruột nguyên
thủy.
Sau đó phôi vị kéo dài ra, lỗ phôi vị (gastroporus) thu nhỏ lại, phần
ngoại bì phía lưng trước lỗ phôi lõm thành tấm thần kinh. Ngoại bì phát
triển nhanh phủ lên lên lỗ phôi và tấm thần kinh, mép của tấm thần kinh
cuốn lên, gắn với nhau, hình thành nên ống thần kinh, về phía sau xoang
- Hệ cơ: Ít phân hoá, mang tính chất phân đốt điển hình. Do vậy cơ chỉ có
thể đảm bảo được các cử động uốn mình đơn giản, phù hợp với lối sống
vùi mình trong cát. Hệ cơ gồm nhiều đốt cơ (myomera), săp xếp từ mút
trước đến mút sau cơ thể. Các đốt cơ phân canh nhau bởi các vách ngăn
bằng mô liên kết (myosepta). Các đốt cơ ở 2 bên phần thân sắp xếp xen
kẽ cài răng lược với nhau. Nhờ vậy cá Lưỡng tiêm khi bơi thì cơ thể uốn
mình theo mặt phẳng nằm ngang.
- Bộ xương: Là dây sống chạy dọc thân và về phía lưng từ đuôi đến đầu.
Vùng khe mang, bộ xương là một mạng lưới gồm nhiều que liên kết nằm
ngang và thẳng đứng. Các vây và xúc tu cũng được que liên kết nâng đỡ.
- Hệ thần kinh: Hệ thần kinh trung ương là một ống thần kinh chạy dọc
cơ thể, nằm phía trên dây sống nhưng không đi tới đầu dây sống, được
bọc trong một màng keo có tác dụng bảo vệ. Phần trước của ống lớn hơn
tương ứng với não bộ nguyên thủy. Trong ống thần kinh có một khe hẹp
được xem là xoang thần kinh, ở phần đầu xoang phình rộng được gọi là
buồng não (tương ứng với buồng não thứ 3 của động vật Có xương sống).
Ở cá thể non, phần trên buồng não còn thông với hố khứu giác nhờ một lỗ
thần kinh. Đến giai đoạn trưởng thành thì hố khứu giác mất liên hệ với
não. Từ não nguyên thủy có 2 đôi thần kinh phía trước thân, có chức năng
cảm giác.
Hệ thần kinh ngoại biên bao gồm các dây thần kinh xuất phát từ ống thần
kinh.
Từ phần ống thần kinh phát ra nhiều đôi thần kinh tuỷ tới 2 bên thân. Một
đốt cơ có một đôi rễ thần kinh: Rễ lưng tới da và cơ tạng, có chức năng
hỗn hợp là vận động và cảm giác, còn rễ bụng phát nhánh tới cơ thân, có
chức năng vận động. Đôi rễ thần kinh bên này xen kẽ với đôi rễ bên kia.
Ngoài ra trong thành ruột có nhiều đám rối thần kinh (plexus) giao cảm,
có nhánh thần kinh liên lạc với thần kinh tuỷ.
- Giác quan: Ở cá Lưỡng tiêm phát triển yếu, gồm nhiều tế bào cảm giác
Vùng hầu có 2 ống hẹp trên hầu và 3 ống dưới ruột. Ở vùng sau hầu có
các khoảng trống bao quanh ruột.
- Hệ tuần hoàn: Có hệ tuần hoàn kín nhưng không có tim và máu
không có màu, chứa ít bạch cầu. Máu lưu thông được nhờ sự co bóp của
nhịp nhàng của gốc động mạch bụng và sự co bóp độc lập của những
phần phình rộng của động mạch mang.
+ Hệ động mạch: Động mạch bụng đem máu tĩnh mạch về phía trước. Từ
động mạch bụng đi lên phía trên có hàng trăm đôi động mạch đến mang.
Gốc của chúng phình rộng thành những túi có khả năng co bóp để
đẩy máu đi động mạch đến mang không tạo thành mao mạch nhưng
nằm nổi trên khe mang, tiếp xúc trực tiếp với dòng nước làm cho quá
trình trao đổi khí dễ dàng hơn. Sau khi đổi khí khí, máu tĩnh mạch thành
máu động mạch, theo các đôi động mạch rời mang tập trung vào hai rễ
động mạch chủ lưng. Tại đây một phần nhỏ máu theo 2 động mạch cổ đi
về phía trước tới các cơ quan ở đầu, còn phần lớn chảy về phía sau, đổ
vào động mạch chủ lưng chạy đến tận mút đuôi, trên đường đi chúng
phân nhánh tới nội quan.
+ Hệ tĩnh mạch: Máu tĩnh mạch từ nửa sau cơ thể đổ vào tĩnh mạch đuôi
sau đó vào tĩnh mạch dưới ruột. Đến mấu lồi gan. tĩnh mạch dưới ruột
phân nhánh thành mao mạch, hình thành hệ gánh gan sau đó đổ vào
xoang tĩnh mạch. Máu của xoang tĩnh mạch sau còn theo 2 tĩnh mạch
chính sau đi về phía trước. Máu tĩnh mạch từ phần đầu theo tĩnh mạch
chính trước đi về phía sau. Hai tĩnh mạch chính trước và sau đổ vào 2 ống
Cuviê ở 2 bên. Hai ống Cuviê này chuyển máu vào xoang tĩnh mạch.
- Hệ bài tiết: Gồm 100 đôi đơn thận nằm dọc 2 bên phần lưng của hầu.
Mỗi đơn thận gồm một ống đơn thận ngắn, uốn cong nằm giữa 2 khe
mang. Ống này có một lỗ thận mở vào xoang mang và một dãy lỗ thông
với xoang cơ thể được gọi là miệng thận. miệng thận được bịt kín và trên
đó có nhiều tế bào mặt trời (solenocyst), hình ống dài, bên trong có nhiều