Tiểu luận "Hệ động vật không xương sống Nước Mặn" - Pdf 17

khu Hệ Động Vật Không Xương Sống Nước Mặn
I. Lý Do Chọn Đề Tài
Hệ sinh thái nước mặn vô cùng phong phú và đa dạng các chủng loài đến các quần cư
sinh vật. Từ những loài sống đơn độc đến những loài sống thành bầy, đàn hoặc thành tập
đoàn. Mõi loài có cách sống, cách săn bắt, đến những cách ngụy trang hoặc tự vệ riêng
đặc trưng cho loài. Ngoài ra chúng còn là nguồn lợi thủy sản lớn, là nơi tham quan, thám
hiểm phục vụ cho du lịch, Nó đem lại cho con người nguồn lợi kinh tế lớn. Nhưng hiện
nay, chúng vẫn chưa được quan tâm đúng mức và khai thác hết tiêm năng vốn có của nó.
Do những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp và chủ yếu của con người vào thiên nhiên mà
hệ sinh thái biển đang ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng, một số loài có nguy cơ bị
tuyệt chủng cao. Chính những lý do đó là nguyên nhân mà tôi chọn đề tài này.
II. Nội Dung
1. Đa dạng các loài sinh vật
Đến nay, hệ sinh thái trong vùng biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh
vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình. Các loài sinh vật đó thuộc về 6 vùng
đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó có 3 vùng biển: Móng Cái- Đồ Sơn, Hải Vân-
Đại Lãnh và Đại Lãnh- Vũng Tàu có mức độ đa dạng sinh học cao hơn các vùng khác.
Trong tổng số loài được phát hiện có khoảng 6.000 loài động vật đáy; 2.038 loài cá (trong
đó có hơn 100 loài cá kinh tế); 653 loài rong biển; 657 loài động vật phù du; 537 loài
thực vật phù du; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn
biển; 12 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước.
Nguồn: />2. Hệ động vật và thực vật ở nước mặn
a. Hệ động vật
SAN HÔ: Mặc dù trông giống như cây, san hô thực sự là những động vật và cấu tạo
tương tự như con sứa và hải quì. Chúng thuộc vào nhóm động vật biển có các trâm gây
ngứa (thích ty bào). Có đến hàng trăm kiểu san hô khác nhau nhưng tất cả đều do các cá
thể nhỏ bé, gọi là polyp tạo nên. Hầu hết polyp có kích thước nhỏ bé (thường dưới 1 mm)
và sống cạnh nhau thành nhóm hoặc tập đoàn như nhìn thấy san hô khối dạng bộ não.
1
Tuy nhiên, một số polyp có kích thước lớn (có thể đến 20 cm) và sống đơn độc. San hô
dạng nấm thuộc nhóm này. Có ba nhóm san hô chính là san hô cứng (còn gọi là san hô

tu.
Hình thức sinh sản: Polyp san hô có thể sinh trưởng bằng hai cách: đẻ trứng (sinh sản hữu
tính) và nảy chồi (sinh sản vô tính):
-Khi sinh sản hữu tính, polyp san hô đẻ ra trứng và tinh trùng. Trứng thụ tinh tiếp tục
phát triển và tạo nên ấu trùng san hô với kích thước nhỏ bé. Tử đó polyp san hô được
hình thành. San hô thừơng sinh sản vào một đêm trăng tròn của đầu mùa hè, thừơng vào
lúc triều thấp và biển lặng gió. Hàng triệu giao tử trông như những viên bi màu hồng,
xanh nhạt lần lượt được phóng thích từ miệng polyp và trôi giạt lên mặt biển. Thủy triều
hồng là tên gọi cho hiện tượng này. Hầu hết ấu trùng san hô trôi nổi bị sinh vật khác ăn
hoặc biến mất. Chỉ một số ít đến được vùng nước nông, ấm áp và lắng xuống nền đáy
thích hợp để phát triển thành những polyp san hô mới.
-San hô còn có thể mọc chồi. Những polyp nhỏ đầu tiên xuất hiện ở mặt bên của polyp cũ
và lớn dần thành những polyp riêng biệt với bộ xương do tự chúng sinh ra. Hàng loạt san
4
hô sống cùng nhau thành những thảm rộng lớn với nền móng là đá vôi tạo thành rạn san
hô.
Tảo hiển vi (gọi là Zooxanthellae) sống trong mô san hô, chúng hô hấp chủ yếu vào ban
đêm. Khi đó chúng hấp thu oxy và thải ra khí carbonic. Chức năng quan trọng diễn ra vào
ban ngày –đó là qúa trình quang hợp. Qua đó, tảo sử dụng ánh sáng mặt trời và khí
carbonic để tạo ra oxy cung cấp cho cuộc sống trên trái đất. Tảo sống trong san hô rất cần
thiết cho polyp. Thông qua quang hợp, tảo sử dụng ánh sáng, nước và khí carbonic để tạo
thành chất dinh dưỡng mà một phần được san hô sử dụng làm thức ăn và xây dựng bộ
xương của mình. Để đổi lại, san hô cung cấp cho tảo nơi ở và một số chất bài tiết như là
phân bón cho tảo phát triển. Mối quan hệ này được gọi là cộng sinh.
ĐỘNG VẬT THÂN MỀM
Các loại ốc sứ, ốc Cối và ốc Tù và được gọi là những loài chân bụng. Chúng nạo thức ăn
bằng dải răng kitin, một bộ phận mềm gần miệng được bao bộ với những răng nhỏ. Các
loại chân bụng có thể là bọn ăn động vật, ăn thực vật hoặc ăn xác thối rữa của động vật.
Nhiều loài sống trên vùng triều và khi không ngập nước chúng vẫn bám chắc vào đá. Khi
triều cao chúng di chuyển trong nước và tìm kiếm thức ăn.

Một thành viên của động vật chân đầu với đặc điểm có vỏ ngoài là ốc Anh vũ chỉ được
tìm thấy ở Tây Thái Bình Dương. Nó chỉ có duy nhất một vỏ để bơi thay vì bỏ và đã hiện
diện trên quả đất khoảng 360 triệu năm. Nó duy chuyển giật lùi bằng cách bóp nước từ
“vòi”.Ốc Anh vũ sống ở độ sâu 150đến 300 mét. Tuy nhiên thỉnh thoảng vào ban đêm nó
có thể được nhìn thấy ở độ sâu chỉ 20 mét. Nó không thể chịu đựng nhiệt lớn hơn 24
0
c và
cũng không thích ánh sáng.
Các loài mực có một vỏ bên trong gọi mai. Mai mực có màu sáng và sau khi mực
chết, chúng thường trôi dạt vao các bãi biển.
Tất cả bạch tuộc hoàn toàn không có vỏ, thường đựơc gặp dưới các tảng đã san hô trên
những thềm rạn.
6

ĐỘNG VẬT GIÁP XÁC
Động vật giáp xác gồm có các loài tôm, tôm hùm và
cua với hình dạng có một lớp vỏ cứng (áo giáp) và
cơ thể chia làm ba phần (đầu, ngực, bụng với nhiều
chân khớp). Để lớn lên, động vật giáp xác phải lột
bỏ lớp vỏ của chúng một cách định kỳ. Phương thức
này được gọi là sự thay vỏ, lúc đó động vật thoát
khỏi ra vỏ của nó. Khi vỏ của nó trở nên quá chật
chội,động vật giáp xác xây dựng một vỏ mềm khác
ở dưới lớp vỏ cũ. Chúng vức bỏ lớp vỏ cũ, nở ra
bằng cách hút nước và chờ đợi cho đến khi lớp vỏ mới cứng lên. Nước sau đó sẽ được
thay thế dần bằng chất thịt. Cách thức tương tự xảy ra ở mỗi thời kỳ thay vỏ. Hầu hết
động vật giáp xác đều chuyển động và di chuyển trên đáy biển. Chúng di chuyển hoặc
bằng cách sử dụng chân bò hoặc bơi bằng chân mái chèo. Chúng có thể vứt bỏ chân để
thoát thân. Chân mới sau đó sẽ tự động mọc lại ngay ở nơi cũ của nó.
Nhiều loại tôm khác nhau sống trong vực nước của rạn san hô. Một trong những loài

Trong hầu hết các trựờng hợp, chúng có cơ thể đối xứng tỏa tròn (giống như những cái
8
nan của bánh xe). Khung xương bên ngòai của chúng được tảo bởi phiến đá vôi. Chúng
có một hệ thống “chân ốc” như những ống thịt nhỏ đặt ở mặt dưới của động vật, dùng để
vận động. ăn uống và hô hấp.
-Sao biển được tạo bởi một thân ở giữa, quanh đó lòi ra năm cánh tay cứng đều (hay là
một bội số năm). Sao biển không có đầu, và việc di chuyển thực bằng cách dùng hai hàng
chân ống trên mỗi cánh tay. Những động vật bò trườn này sốngở vùng nước nông và là
sinh vật đáy, tức sống trên nền đáy biển. Miệng của chúng nằm phía dưới và ở trung tâm.
Sao biển xanh, Linkia laevigata, thườngđược tìm thấy trên các rạn san hô Thái Bình
Dương.
Hầu như tất cả các loài sao biển đều ăn thịt với hai cách ăn khác nhau. Trường hợp nhất,
chúng nuốt mồi và tiêu hóa nó trong bao tử. Trong trường hợp thứ hai, con vật lộn cái
bao tử của nó ra ngoài cơ thể và tiêu hóa thức ăn. Cách sau này cho phép sao biển tiêu
hóa các cơ thể bất động hay có lớp phủ ngoài như san hô và bọt biển.
Sao biển gai Ancanthaster planci, là loài sao biển có
cách ăn đặc biệt. Nó chỉ ăn duy nhất san hô. Dạ dày của
nó đưa ra ngoài cơ thể và phủ lên các polyp san hô để
tiêu hóa các polyp. Loại sao biển này có thể hoại những
vùng san hô rộng lớn. Chúng ta cũng khôngđược sờ vào
loại sao biển này vì những gai của nó có chứa độc tố và
có thể gây rất đau.
Các loài cầu gai được bao bọc bởi một vỏ ngoài gồm những
mảnh canxi hợp nhất tại vỏ đựơc bao phủ với những chiếc
gai có hình dạng và kích thước khác nhau tùy từng loài.
Chúng có những chân ống để giúp cầu gai di chuyển. Miệng
9
nằm ở mặt dưới con cầu gai chứa những hàm nạo mạnh mẽ. Thức ăn của cầu gai rất
khác nhau: rong, bọt biển và những con sò nhỏ…
-Cầu gai đen, Diadenma sentosum, có những gai nhọn và có thể gây đau nhức, những cái

khí ôxi thấp. Rừng ngập mặn thường phân bố trên vùng đất bằng phẳng và có chế độ thủy
triều.
THỰC VẬT TRONG RỪNG NGẬP MẶN
Không phải nhiều loài thực vật có thể thích nghi được với môi trường khắt khe này (phải
có rễ chùm để bám trên nền đất mêm, khả năng chịu đựng nồng độ muối cao, cấu tạo rễ
thở, sinh sảnh theo kiêu hạt nảy mầm trên cây mẹ). Một số rừng ngập mặn được coi là hệ
sinh thái có năng suất sinh học rất cao và là nơi cung cấp dinh dưỡng khởi nguồn cho
nhiều chuỗi thức ăn. Chúng còn được coi là vùng đệm giữa biển và đất liền.
Thực vật ngập mặn phân bố theo các đai khác nhau từ biển vào hướng đất liền và phụ
thuộc vào mức độ chịu đựng muối và kết cấu của đất. Ở đai gần với biển, chúng ta
thường gặp cây đước (Rhizophora). Tiếp theo về phía đất liền, đước được thay thể bằng
ấy vẹt và sau đó là cây mắm. Rìa phía sau của rừng ngập mặn nơi mà đất có độ mặn rất
cao (có khi tơi 5g/l) chỉ một ít tảo và rong có thể sinh sống được trong điều kiện rất khắc
nghiệt đó.
Nhiều loài động vật khác nhau sinh sống trong môi trường này. Một số sống lưỡng cư
như là cá thoi loi, một loài cá nhỏ thích nghi với cách sống trong nước và trên cạn. Chúng
ăn côn trùng và những sinh vật thủy sinh nhỏ, Chúng ta cũng có thể gặp rất nhiều loài
cua trong rừng ngập mặn như là cua xanh, Scylla serrata - một loại động vật ăn động vật
và xác thối rữa.
11
Cua học trò Uca uca sử dụng chiếc càng rất lớn nhằm hấp dẫn cua cái và cảnh báo những
cua đực khác và cả kẻ thù.
.
Nhiều loại động vật sống cố định trên rễ cây ngập mặn bao gồm hầu, hải miên và hà.
Chim và cá cũng coi rừng ngập mặn là nơi kiếm ăn và sinh đẻ.
Ngoài ra còn có Hệ sinh thái cỏ biển cũng đóng vai trò quan trọng trong cả hệ thống ven
biển rộng lớn và có mối tương tác qua lại với môi trường sống này. Các thảm cỏ biển
được coi như một nguồn lợi biển quan trọng bởi khả năng ổn định nền đáy, tổng hợp các
chất hữu cơ từ vô cơ như cacbon, nitơ, oxy và phốt pho, tham gia vào chuỗi thức ăn, chu
trình dinh dưỡng và là nơi sống cho nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Thảm cỏ biển cũng

c. Những mối đe dọa của con người và thiên nhiên
Trong thiên nhiên, một số sinh vật có thể gây hại cho rạn san hô như sao biển gai ăn san
hô. Bão tố cũng phá hủy nhiều vùng rạn rộng lớn. Một tác động khác khá nghiêm trọng là
hiện tượng tẩy trắng san hô. Trong năm 1998 -1999, 40 -50 % ran san hô trên thế giới đã
bị tẩy trắng và tỷ lệ chết của san hô khá cao. Hiện tượng đó được giải thích là do sự tăng
nhanh nhiệt độ nước biển cũng như những điều kiện khí tượng bất thường.
Tuy vậy, những hoạt động của con người gây ra những tác động có hại lớn hơn đối với
rạn san hô và rừng ngập mặn.
Đe dọa từ thiên nhiên Tác động môi trường
- Bão tố.
-Mưa lớn
- Tăng cao nhiệt độ.
• Tỷ lệ chết cao của cá, hủy diệt rừng ngập
mặn, phá hủy san hô và quấn xã rạn.
• Thải bùn và chất thải ra biển.
• Tẩy trắng san hô.
• Phá hủy sinh cảnh.
• Hủy họai thảm cỏ biển, rạn san hô.
• Suy giảm nguồn lợi thủy sản.
Đe dọa từ con người
-Hoạt động trực tiếp:
+ Xây dựng (cảng, cầu tàu, phá rừng).
+ Giã cào, thả neo, giẫm đạp.
13
+Khai thác quá mức, đánh bắt hủy diệt
-Hoạt động gián tiếp:
+ Chất thải (phân bón, nước thải đô thị, xả
rác…).
4. CẦN BẢO TỒN RẠN SAN HÔ VÀ RỪNG NGẬP MẶN
Ngư dân, chủ thuyền:

• Xây dựng các nhà máy xử lý chất thải hợp lý.
• Quy hoạch vùng đổ rác có kiểm soát và xây dựng chính sách quản lý chất thải.
• Xây dựng qui chế và tạo ra phương tiện để áp dụng.
III. Kết Luận.
Hệ sinh thái biển có sự hiện diện rất đa dạng của các quần cư dưới nước khác nhau, bao
gồm rạn san hô, rừng ngập mặn, cỏ biển, Nhiều quần cư trong số này vẫn còn có hiện
trạng tốt, có độ đa dạng sinh học cao và là nguồn nuôi sống cho dân địa phương và nguồn
thu nhập cho du lịch. Tuy nhiên, các quần cư này chịu áp lực sử dụng và phá hủy ngày
càng gia tăng bởi hàng loạt các mối tác động của con người và nhiên nhiên, đáng kể là sự
đổ đất, sự lắng đọng trầm tích và sự ưu dưỡng, Sao biển gai và ốc Drupella ăn san hô, sự
thả neo vô ý thức, nguồn ô nhiễm từ sông và các nguồn gây ô nhiễm khác. Nguyên nhân
chính làm mất đi các loài động, thực vật biển là do phát triển du lịch nghỉ mát trên các
đảo. Các quần cư vùng biển vẫn nằm trong tình trạng bị đe dọa, và sự cải thiện các mối
đe dọa đang diễn ra đòi hỏi có sự quan tâm hơn của các tổ chức nhà nước và sự ý thức
của con người về việc khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status