Lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm gạo - Pdf 18

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trước xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới là toàn cầu hoá
và tự do hoá thương mại, mỗi quốc gia đều có cơ hội khai thác tối đa lợi thế so sánh
của mình để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Việt Nam đang trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải phát huy lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh
tranh trên thị trường thế giới.
Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển với thế mạnh là nước nông
nghiệp xuất khẩu gạo, đang dần được các thị trường lớn công nhận. Lợi thế cạnh
tranh về xuất khẩu lúa gạo đang ở vị trí cao. Sản xuất tăng trưởng nhanh, kim
ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao, góp phần cân bằng cán cân
xuất nhập khẩu và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên,
để giữ vững và phát triển thị phần mặt hàng gạo có hiệu quả tối ưu trong thị trường
khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung, Việt Nam cần có những chính sách
hợp lý nhằm thúc đẩy những lợi thế so sánh, đồng thời khắc phục những khó khăn,
hạn chế trong thời gian tới.
Vì vậy, việc tìm hiểu về lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu mặt hàng
gạo là vấn đề cần thiết trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
Xuất phát từ lý do trên, chúng em chọn vấn đề: “Lợi thế so sánh của Việt Nam
trong xuất khẩu sản phẩm gạo” làm đề tài của tiểu luận.
Kết cấu tiểu luận gồm: Ngoài lời mở đầu và kết luận, gồm 3 phần
Phần 1: Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Phần 2: Lợi thế so sánh của Việt nam trong xuất khẩu sản phẩm gạo
Phần 3: Một số kiến nghị tăng lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm
gạo
Chúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giảng dạy của TS Nguyễn
Xuân Thiên. Rất mong nhận được sự góp ý và ủng hộ của thầy.
2
Phần 1
Cơ sở lý luận về lý thuyết lợi thế so sánh
1. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại. Như vậy, lợi thế so
sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao
động quốc tế.
1.2 Lợi thế so sánh và lý thuyết giá trị của lao động
Theo lý thuyết giá trị của lao động, giá trị hay giá cả của hàng hoá phụ thuộc
nhiều vào số lượng lao động được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá đó. Điều này ngụ ý
3
rằng: (1) hoặc lao động là yếu tố duy nhất để sản xuất ra hàng hóa hoặc lao động được
sử dụng với một tỷ lệ cố định như nhau ở tất cả các loại hàng hoá và (2) lao động là
đồng nhất (nghĩa là chỉ có một loại lao động). Vì cả hai giả thiết này không hợp lý nên
chúng ta không thể giải thích lợi thế so sánh dựa trên lý thuyết giá trị của lao động.
Cụ thể hơn, lao động không phải là yếu tố sản xuất duy nhất và nó cũng không
thể được sử dụng với một tỷ lệ nhất định như nhau ở tất cả các loại hàng hoá. Ví dụ, tỷ
lệ vốn trên lao động ở một số ngành (như thép) sẽ lớn hơn một số ngành khác (như dệt
may). Hơn thế nữa, luôn tồn tại khả năng thay thế giữa vốn, lao động và các yếu tố sản
xuất khác trong việc sản xuất hàng hoá. Ngoài ra, rõ ràng lao động không thể đồng
nhất mà nó luôn khác biệt do đào tạo, do năng suất và mức lương. Cuối cùng, năng
suất lao động luôn luôn khác nhau. Do đó, lý thuyết lợi thế so sánh không thể được
giải thích dựa trên lý thuyết giá trị của lao động nhưng có thể được giải thích dựa trên
lý thuyết về chi phí cơ hội (điều này có thể dễ chấp nhận hơn).
2. Sự phát triển lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo
Những nhà kinh tế thế hệ sau và theo trường phái Ricardo (còn gọi là Ricardian)
tiếp tục nghiên cứu về lợi thế so sánh dựa trên cách tiếp cận khác hơn và mở rộng mô
hình nghiên cứu so với Ricardo. Tiêu biểu như Haberler, Heckscher - Ohlin và Paul
Krugman. Haberler đã vận dụng lý thuyết chi phí cơ hội để nghiên cứu giải thích lợi thế
so sánh. Mô hình nghiên cứu của Ricardo với một yếu tố sản xuất đó là lao động, nhưng
đối với Heckscher - Ohlin nghiên cứu lợi thế so sánh với mô hình 2 yếu tố sản xuất, đó
là lao động và vốn trong điều kiện chi phí cơ hội tăng. Mô hình thương mại của
Heckscher - Ohlin còn gọi là 2 x 2 x 2 (2 quốc gia, 2 sản phẩm và 2 yếu tố sản xuất).
Paul R.Krugman xem xét lợi thế so sánh trong trường hợp nhiều hàng hoá

quốc tế.
Tuy nhiên, để tiến sát dần với thực tế hơn chúng ta cần phải hiểu lợi thế sánh
hoạt động như thế nào trong trường hợp một mô hình có nhiều loại hàng hoá. Chúng ta
giả định rằng thế giới chỉ có hai nước: Nội địa và Nước ngoài. Mỗi nước chỉ có một
yếu tố sản xuất đó là lao động. Trình độ công nghệ mà mỗi nước sử dụng được phản
ánh bằng yêu cầu lao động theo đơn vị sản phẩm cho mỗi loại hàng hoá, đó là số giờ
lao động để sản xuất một đơn vị hàng hoá. Yêu cầu lao động theo đơn vị sản phẩm của
Nội địa được ký hiệu bằng chữ X, yêu cầu lao động theo đơn vị sản phẩm của Nước
ngoài được ký hiệu bằng chữ Y.
Theo quy luật lợi thế so sánh, Nội địa sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu
táo, chuối và cam ra Nước ngoài và nhập khẩu chà là và bánh mì từ nước ngoài; còn
Nước ngoài thì ngược lại. Bằng việc chuyên môn hoá và trao đổi như vậy sẽ đem lại
lợi ích cho cả Nội địa và Nước ngoài.
2.3 Lợi thế so sánh trong trường hợp nhiều nước
Trong quy mô hai nước, mô hình thương mại luôn đúng. Với hai loại hàng hoá,
mô hình thương mại được quyết định bởi lợi thế so sánh dựa trên đại lượng tương đối
về lao động. Trong mô hình nhiều nước, có sự xuất hiện của tiền, mô hình thương mại
được quyết định bởi tiền lương và chi phí lao động tương đối. Tuy nhiên, khi ba nước
được đưa ra xem xét, chuyên môn hoá trong mô hình không đúng.
Trở lại với thế giới chỉ có 2 loại hàng hoá, để nhằm đơn giản việc phân tích,
chúng ta hãy kiểm nghiệm trong trường hợp trao đổi giữa 3 nước để khái quát hoá mô
hình thương mại.
5
Phần 2
Lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm gạo
1. Những ưu thế của Việt Nam trong sản xuất và xuất khẩu gạo so với các
nước trên thế giới
Sản xuất lúa gạo là ngành sản xuất cổ truyền, có từ lâu đời và gắn với lịch sử phát
triển nông nghiệp của Việt Nam. Cho đến nay, lúa là cây lương thực thiết yếu đóng vai
trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế -xã hội của Việt Nam nhiều năm qua.

nhiều tiềm năng trong việc mở rộng diện tích đất canh tác để có thể tăng sản lượng so
với các quốc gia khác.
1.3 Điều kiện tự nhiên, khí hậu và sinh thái
6
Nhìn chung,so với các nước khác,khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa,
khá thuận lợi cho sản xuất lúa gạo.Việt Nam có 2 vựa lúa lớn là 2 đồng bằng phù sa
màu mỡ: đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Nước ta nằm trong khu
vực nhiệt đới ẩm có độ ẩm không khí cao khoảng 80%, nhiệt độ thường xuyên trên
20
o
C, khí hậu ấm áp , số giờ nắng trong năm đạt trung bình 1200h/ năm và tập trung
mạnh vào thời kì làm hạt của lúa, góp phần cho năng suất cao. Lượng mưa hàng năm
lớn, trung bình 1500 –2000 mm, hệ thống nước ngầm có trữ lượng lớn, hệ thống sông
ngòi dày đặc đảm bảo cung cấp đủ nước tưới cho hàng triệu ha lúa. Ngoài ra, Việt
Nam còn có 7 vùng sinh thái khác nhau, mỗi vùng có đặc thù và thế mạnh riêng trong
phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt có nhiều tiểu vùng “sinh thái –khí hậu đặc
thù” cho phép phát triển một số cây lúa đặc sản có giá trị xuất khẩu cao mà ít nơi có
được.
Ví dụ: vùng Tây sông hậu và tứ giác Long Xuyên: cho phép áp dụng các giống lúa
thâm canh cao như giống OM2517, OM4498,
1.4 Nguồn lực
Nước ta có 70% lực lượng lao động trong cả nước là lao động trong nông nghiệp.
Hàng năm có khoảng 1 –1,2 triệu người đến tuổi lao động. Ưu thế đặc trưng của người
lao động Việt Nam là cần cù, chăm chỉ hơn nữa với bề dày lịch sử sản xuất lúa gạo,
người nông dân Việt Nam đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trồng lúa, bên cạnh
đó trình độ học vấn của người dân lại ngày càng được cải thiện, trong đó nhóm lao
động có học vấn cao ở khu vực nông thôn chiếm khoảng 41% dân số nông thôn. Thêm
vào đó, thu nhập bình quân đầu người thấp hay giá nhân công tương đối rẻ: thu nhập
bình quân đầu người tính theo tỉ giá sức mua tương đương (PPP) của Việt Nam là
1,979 USD, thấp hơn nhiều so với Philipine (2,852 USD) ; Indonesia (3,064 USD);

6.6
6.8
7
7.2
7.4
7.6
7.8
triệu ha
diện ch đất trồng lúa
Hình 1: Diện tích trồng lúa của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Diện tích đất trồng lúa tăng đều đặn hàng năm, riêng năm 2012 có sự sụt giảm
tương đối mạnh về diện tích đất trồng lúa, xuống chỉ còn khoảng 7 triệu ha. Nguyên
nhân do một phần diện tích đất trồng lúa được chuyển sang mục đích sử dụng khác
như làm các khu công nghiệp, khu chế xuất. Một lý do nữa là giá gạo trong thời gian
này có sự sụt giảm mạnh dẫn đến việc người dân không còn mặn mà với việc trồng lúa
nước.
Năm 2008 diện tích canh tác lúa có khoảng 7,36 triệu ha. Năng suất lúa bình
quân 4,2 tấn/ha vào năm 2000 đã tăng lên 5,3 tấn/hà vào năm 2010. Năm 2012 theo số
liệu mới công bố, năng suất lúa bình quân đạt khoảng 5,6 tấn/ha.
So với các nước trong khu vực, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa
gạo của Việt Nam nói riêng đã phát triển một cách vượt bậc, ổn định và nhanh chóng.
Sản xuất và xuất khẩu lúa gạo đã giúp cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống người
nông dân. Bên cạnh đó đã nâng cao giá trị hạt gạo của Việt Nam và thúc đấy ngành
nông nghiệp của nước nhà ngày càng phát triển. Với kết quả trên, Việt Nam đã nhận
8
được sự đánh giá rất cao của tổ chức quốc tế và khách hàng nhập khẩu gạo của Việt
Nam.
Mặc dù có sự tăng trưởng ngoạn mục về sản lượng lúa trong những năm vừa
qua nhưng về cơ cấu đang có sự mất ổn định và không bền vững.

8000
0
500000
1000000
1500000
2000000
2500000
3000000
3500000
4000000
sản lượng gạo xuất khẩu Việt Nam
sản lượng gạo xuất khẩu Việt Nam
Hình 3: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2008-2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Hình 3 cho thấy giá trị và sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn có sự tăng
trưởng, tuy nhiên sự tăng trưởng này không ổn định mà có sự khác biệt giữa các năm.
Đặc biệt, trong giai đoạn 201-2012, lượng gạo xuất khẩu tăng khảng 8% tuy nhiên giá
trị xuất khẩu gần như không có sự thay đổi. Nguyên nhân do giá gạo xuất khẩu của
Việt Nam giai đoạn 2011-2012 có sự sụt giảm đáng kể so với năm trước đó.
2008 2009 2010 2011 2012
0
200
400
600
800
1000
1200
giá gạo 5% tấm Thái Lan
giá gạo 5% tấm Việt Nam
Hình 4: Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam và Thái Lan giai đoạn 2008 – 2012

6,
107,572

6,107,572
6
,107,572
Tổng
17
5,907,915
175,
907,915
175,
907,915
17
5,907,915
175
,907,915
Thế
giới
Gạo
1
7,539,116
17,
539,116
17,
539,116
1
7,539,116
17
,539,116

những năm gần đây (2008-2012) có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao và cao hơn
Thái Lan. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm lợi thế so sánh của Việt nam,
trong đó phải kể đến:
- Sự thay đổi trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Sau khi ra nhập
tổ chức Thương mại thế giới, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có sự dịch
11
chuyển mạnh mẽ sang các mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao như: đồ điện tử, giày dép
và dệt may
- Diện tích đất canh tác gần như không được mở rộng thậm chí sụt giảm mạnh
trong năm 2012.
- Sự cạnh tranh gay gắt từ các nước xuất khẩu gạo chính, trong đó phải kể đến
một số nước có sự tăng trưởng ngoạn mục trong xuất khẩu gạo như Ấn Độ, Pakistan,
Hoa Kỳ
- Năng suất lúa trong những năm gần đây tuy có tăng nhưng tốc độ tăng trưởng
đang giảm dần do những giới hạn về giống lúa cũng như các điều kiện canh tác.
Gạo là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và có thể
khẳng định là mặt hàng có lợi thế so sánh cao trong trước mắt và lâu dài. Tiềm năng
sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam còn rất lớn. Đồng thời, nhu cầu của thị trường
thế giới về mặt hàng này còn rất lớn. Do đó, Việt Nam cần coi trọng việc đẩy mạnh
xuất khẩu mặt hàng này và cố gắng duy trì mức độ lợi thế so sánh đó. Tuy nhiên, lợi
thế so sánh cao cũng có thể bị thay đổi khi điều kiện sản xuất, tình hình cung cầu thế
giới thay đổi.
12
Phần 3
Một số kiến nghị tăng lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm gạo
1. Cần có sự hỗ trợ về thông tin về thị trường
Lợi thế so sánh cần được phát huy bằng các kỹ thuật giao dịch trên thị trường
gạo thế giới có hiệu quả, do đó cả phía các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội xuất
khẩu gạo, các doanh nghiệp cần coi trọng việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị
trường xây dựng hệ thống cập nhật, hữu hiệu về thị trường để các doanh nghiệp tiến

trùng gây hại chủ yếu cho cây “Siêu Lúa”.
Tuy nhiên, việc phát triển một dạng cây lúa mới nhằm cứu một nửa thế giới loài
người khỏi nạn đói là một công việc không phái dễ dàng trôi chảy. Những nhà khoa
học của IRRI đã chạm trán nhiều vấn đề khó khăn trong việc tạo ra một “Siêu Lúa”.
13
Cho ví dụ cụ thể đó là phần lớn những giống lúa có năng suất cao hiện nay sản xuất
khoảng 100 hạt cho mỗi bông lúa. Còn “Siêu Lúa” kiểu mẫu ngược lại có khả năng
sản xuất khoảng 250 đến 300 hạt trên mỗi bông lúa. Đó là quá nhiều hạt mà cây trồng
đơn giản không thể cung cấp đủ hyđrat-cacbon và dinh dưỡng làm đầy hạt. Vì thế,
những nhà tạo giống “Siêu Lúa” khắc phục bằng cách giảm số số hạt xuống còn
khoảng 200 cũng vẫn còn làm cho cây “Siêu Lúa” tạo ra gấp đôi năng suất so với cây
lúa kiểu cũ hiện nay. Các nhà khoa học cũng cố gắng cải thiện chất lượng hạt của
“Siêu Lúa” và kết hợp gen kháng bệnh và côn trùng. IRRI hy vọng rằng sản phẩm
“Siêu Lúa” sẽ sẵn sàng cho bước ngoặc của thế kỷ 21.
Hy vọng với ý tưởng và những nghiên cứu mới theo các hướng này sẽ giúp cho
các nhá khoa học IRRI tạo ra được những giống “Siêu Lúa” hay những giống lúa có
quang hợp theo kiểu cây C4 … trong tương lai gần nhằm tăng cường năng suất và sản
lượng lúa cho an ninh lương thực toàn cầu.
3. Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
3.1 Áp dụng "3 giảm, 3 tăng"
Một trong những chương trình có thể giúp tăng sản lượng, chất lượng lúa, đồng
thời bền vững với môi trường là "3 giảm, 3 tăng". Đây là chương trình đúng, thích hợp
với từng vùng sinh thái. Trên cơ sở đó, bà con nông dân và cán bộ khuyến nông xem
xét nên chọn giống lúa, kỹ thuật nào có tác dụng mạnh nhất để tập trung vào thực hiện,
góp phần tăng năng suất, sản lượng, giảm giá thành, từ đó tăng thu nhập cho nông dân.
Thực tế đã xác định, giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh là
điều kiện tiên quyết để việc thực hiện chương trình "3 giảm, 3 tăng" có kết quả tốt.
Theo khuyến cáo của Viện Lúa ĐBSCL, các giống lúa hiện đang được dùng trong sản
xuất đại trà có thể kháng rầy nâu và đạo ôn là OM 576, IR 64, VND 95-20, AS 996,
OMCS 2000, IR 50404, OM 2517, OM 4498, ST3, OM 2395, Những giống phải

Dùng máy GĐLH chỉ tổn thất 1-3%, tương đương 500.000 tấn thóc. Việc dùng
máy sạ lúa theo hàng tính trên 1ha giảm 1 bao phân urê, giảm 1-3 lần phun thuốc trừ
sâu do ít sâu bệnh; riêng hạt giống giảm 100-150kg so với sạ lan theo tập quán cũ,
năng suất có thể tăng 300 400kg, thậm chí hàng tấn thóc, nhất là trong vụ hè thu.
Nếu làm tốt việc phổ cập máy GĐLH và gieo hạt bằng máy, ĐBSCL đỡ lãng
phí, hay nói cách khác là có thể cung cấp thêm cả triệu tấn thóc/năm. Nhiều địa
phương như Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ hỗ trợ nông dân được vay 30% tiền
mua máy GĐLH, 70% Nhà nước hỗ trợ lãi suất. Nếu như Nhà nước cấp không hoàn
lại 50-70% tiền mua máy thì diện tích lúa gặt bằng máy ở ĐBSCL sẽ tăng rất nhanh.
15
KẾT LUẬN
Qua quá trình tìm hiểu về việc hội nhập kinh tế quốc tế và tăng lợi thế so
sánh của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm gạo, chúng em nhận thấy:
Trong quá trình hội nhập sản phẩm gạo đã đạt được những thành tựu nhất
định, kim ngạch xuất khẩu trong những năm gần đây đều đạt chỉ tiêu và góp
phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Những ưu thế của Việt Nam về vị
trí địa lý, nguồn tài nguyên đất quý giá, điều kiện tự nhiên, khí hậu, sinh thái và
nguồn nhân lực trẻ, cần cù, chịu khó là những yếu tố cần được chú trọng quan
tâm, đầu tư phát triển trong tương lai để đạt được thành tựu cao hơn nữa.
Bên cạnh những thành công đó, xuất khẩu sản phẩm gạo cũng đối mặt với
những khó khăn trong quá trình hội nhập. Về khoa học kỹ thuật, những chính
sách tạo thuận lợi trên thị trường thế giới là những thách thức đang cần giải
quyết khi mà nền kinh tế nước ta còn non kém và tiềm lực của các doanh nghiệp
còn nhỏ.
Như vậy, để tận dụng được những lợi thế của mình, gạo xuất khẩu cần có
chính sách phát triển phù hợp với điều kiện Việt Nam và không ngừng phát triển
trong quá trình hội nhập quốc tế, phát huy lợi thế sẵn có, đồng thời khai thác
những lợi thế mới và giải quyết những khó khăn trước mắt thì xuất khẩu gạo của
Việt Nam sẽ hội nhập thành công và phát triển trong thời gian tới.
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status