Lợi thế cạnh tranh và một số giải pháp nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ trong bối cảnh hiện nay - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
khoa kế hoạch phát triển

CHUYấN THC TP
Đề tài:
Lợi thế cạnh tranh và một số giải pháp nhằm nâng cao lợi
thế cạnh tranh của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trờng
Mỹ trong bi cnh hiện nay
Sinh viên thực hiện : lê ngọc thắng
Lớp : ktpt 47a
Giáo viên hớng dẫn : ths. đặng thị lệ xuân
H Ni - 2009
Giới thiệu chung
1. Sự cần thiết:
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đưa tới một
sự đột biến trong tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia và đưa xã hội loài người bước
vào một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên của nền văn minh trí tuệ. Trong bối cảnh ấy, xu
hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá là đòi hỏi tất yếu đối với tất cả các quốc gia trên thế
giới và Việt Nam cũng không thể là một ngoại lệ.
Để hoà vào xu hướng hội nhập ấy, từ Đại Hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 9
đã đề ra phương châm “Việt Nam muốn làm bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước”.
Trên thực tế, trong thời gian qua chúng ta đã không ngừng mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, tích cực tham gia vào các diễn đàn kinh tế song phương, đa phương, các liên kết
mậu dịch khu vực và liên khu vực.Đặc biệt là việc Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương
mại thế giới WTO càng tạo ra nhiều lợi thế và thách thức cho Việt Nam trong xuất khẩu
sang các nước khác, đặc biệt là các thị trường lớn và đầy tiềm năng. Toàn bộ nền kinh tế
nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ và
đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Đặc biệt là, chúng ta đã tạo được một số nhóm hàng có tiềm năng, có chỗ đứng
trên thị trường nước ngoài-đó chính là những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Để vượt

thương mại song phương đa phương với Mỹ tạo cơ hội lớn cho Việt Nam khi xuất khẩu
sang Mỹ
3
4. Phương pháp nghiên cứu:
Bài chuyên đề chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, đánh
giá dựa trên các nguồn tài liệu sưu tầm được kết hợp với những suy luận của cá nhân để
làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài.
5. Kết quả dự kiến:
Khắc phục từng bước những điểm yếu, không thể trông chờ, ỷ lại vào sự bảo hộ
của Nhà nước.
Rút ra được những bài học chung để áp dụng vào những thị trương tương tự.
Qua đó nâng cao được lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong bảng xếp hạng của
thế giới(WEF)
6. Bố cục của đề án:
Bố cục của bài khoá luận như sau:
Mục lục
Lời nói đầu
Chương I - Lý luận chung về lợi thế cạnh tranh và thị trường xuất khẩu
Chương II - Mỹ -Thị trường để Việt Nam có thể phát huy được lợi thế cạnh
tranh.
Chương III - Một số giải pháp nhằm nâng cao Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam
khi xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Mỹ
Kết luận
Danh mục tham khảo
4
Chương I - Lý luận chung về lợi thế cạnh tranh và thị trường
xuất khẩu
I. Lợi thế cạnh tranh
1.Tìm hiểu và phân biệt các khái niệm về lợi thế cạnh tranh:
Để hiểu về lợi thế cạnh tranh, trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là cạnh tranh.

Năm 2006 2007 2008
Việt Nam 77 68 70
Nguồn: Bảng khảo sát, công bố ngày 8-10-2008 tại Geneva xếp hạng tính cạnh
tranh của 134 nền kinh tế toàn cầu dựa trên phân tích những dữ liệu có sẵn và bảng
khảo sát ý kiến hơn 12.000 nhà lãnh đạo doanh nghiệp.
VN có 23 chỉ tiêu lợi thế và 90 chỉ tiêu bất lợi. Ưu điểm cạnh tranh của VN tập
trung ở tính hiệu quả của thị trường lao động (xếp hạng 47) nhờ có lợi thế về nhân công
giá rẻ. Trong khi đó, những yếu tố bất lợi làm giảm tính cạnh tranh của VN là lạm phát,
cơ sở hạ tầng không đồng bộ, trình độ lực lượng lao động không đồng đều, tham nhũng
và các chính sách thiếu ổn định.
Theo một cách hiểu khác thì lợi thế cạnh tranh của một quốc gia là nói đến so
sánh bản thân mình với đối thủ cạnh tranh để khai thác triệt để lợi thế <1>(< >này ở
phần trích dẫn tài liệu tham khảo) mà mình có sẵn, nhằm đạt những mục tiêu chủ yếu
và thứ yếu đã đặt ra. Thông thường, đối với một nước thì mục tiêu chủ yếu là "dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" như Đảng ta đã đề ra.
6
Một thuật ngữ khác cũng hay được nhắc tới là chiến lược cạnh tranh. Chiến
lược cạnh tranh là chiến lược của một doanh nghiệp hoặc của một quốc gia nhằm tăng
khả năng của mình trên thị trường trong nước hay quốc tế để đạt một số mục tiêu như:
tăng thị phần, tăng lợi nhuận<2> .
Còn chính sách cạnh tranh được hiểu là các biện pháp của Nhà nước nhằm
khuyến khích cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng và giám sát (hoặc chống lại) độc
quyền. Các khía cạnh của chính sách cạnh tranh bao gồm:
+Kiểm soát các hành vi lạm dụng vị thế để lũng đoạn thị trường của những hãng
có vị thế khống chế thị trường.
+Kiểm soát sự sáp nhập để ngăn ngừa quá trình độc quyền hóa.
+Kiểm soát và ngăn chặn sự thỏa thuận giữa các hãng nhằm hạn chế cạnh tranh.
+Kiểm soát các hành vi phản cạnh tranh.
Về năng lực cạnh tranh (sức cạnh tranh), có một số cách hiểu khác nhau. Nhưng
thường các cách hiểu đều thống nhất ở một điểm, năng lực cạnh tranh thường có một ý

chiến lược phòng thủ, chiến lược bắt chước y nguyên chiến lược của đối thủ, chờ khi có
cơ hội sẽ cải tiến, sáng tạo theo cách riêng và vượt lên đối thủ (các nhà sản xuất hàng
điện tử, điện máy gia dụng của Trung Quốc có vẻ như đang áp dụng chiến lược này trên
thị trường Việt Nam khi sản xuất các mặt hàng có mẫu mã giống hệt hàng hóa cùng loại
của Nhật Bản và dần dần “lấn sân” người Nhật); chiến lược rút lui về các vị trí thích hợp
khi nhận thấy tình thế không thuận lợi (lùi một bước nhưng tiến hai bước).
* Nội dung của cách tiếp cận thứ hai lại xoay quanh mục tiêu đã đặt ra. Mục
tiêu chúng ta đã đặt ra là gì ? Để đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần phát huy những lợi
thế cạnh tranh nào? Và làm thế nào để xây dựng được lợi thế đó. Đi theo cách tiếp cận
này, chúng ta phải ý thức trước được rằng, không thể muốn gì được nấy, nghĩa là nếu cái
muốn là 100% thì thực hiện được khoảng 50% là đã thành công.
8
Cách tiếp cận thứ hai có thể đi theo một hướng khác gần thực tế hơn. Quan điểm
này được trình bày trong cuốn sách "Cạnh tranh cho tương lai"<3>: tìm lợi thế cạnh
tranh từ những cơ hội chưa được đối thủ cạnh tranh khai thác, thay đổi các luật chơi
trong môi trường cạnh tranh, tìm ra con đường riêng của chính mình, từ đó hoàn thành
các mục tiêu đã đặt ra trong tương lai. Cách này đã được các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản
áp dụng rất thành công khi thâm nhập vào và chiếm lĩnh thị trường ô tô dân dụng của
Mỹ "ngay trước mũi" các "ông lớn" của nền công nghiệp ô tô Mỹ như General Motor và
Ford Motor.
Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là không phải là lúc nào cũng có sẵn
những "khoảng trống" trên thị trường trong bối cảnh "vạn người bán trăm người mua"
như hiện nay, đồng thời việc phát hiện ra những cơ hội tiềm tàng (nếu có) cũng rất khó
khăn và tốn kém, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Do vậy, cách tiếp cận thứ hai đòi
hỏi phải vận dụng thành thục phương pháp tư duy năng động sáng tạo và đột biến sáng
tạo nếu muốn đạt được thành công.
*Cách tiếp cận thứ 3 dựa trên quan hệ chiến lược có thể được thể hiện tóm tắt
dựa trên sơ đồ dưới đây:
9
Hình thành lợi thế cạnh tranh như thế nào


*Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp:
Trên thực tế thì khái niệm lợi thế cạnh tranh đầu tiên được dùng hạn chế trong
phạm vi 1 doanh nghiệp trong lý thuyết tổ chức công nghiệp. Một doanh nghiệp được
coi là có lợi thế cạnh tranh và được coi là có thể đứng vững trên thương trường cùng với
các nhà sản xuất khác, thông qua việc nó có thể cung cấp các sản phẩm thay thế, hoặc
đưa ra các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn sản phẩm cùng loại, hoặc các sản
phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ cao hơn ( hay chí ít là ngang
bằng ).
Một điều cần chú ý là khi xác định lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp hay
một ngành công nghiệp cần xem xét đến khả năng của doanh nghiệp hay ngành công
nghiệp đó trong việc sản xuất một hàng hoá hay dịch vụ ở một mức giá ngang bằng hay
thấp hơn mức giá phổ biến nhất mà không cần thiết phải có trợ cấp, trợ giá từ phía chính
phủ.
*Lợi thế cạnh tranh của một quốc gia:
Thương mại quốc tế ra đời cách đây hàng ngàn năm, nhưng phải đến thế kỷ 15 thì
mới xuất hiện những nỗ lực nhằm giải thích nguồn gốc và lợi ích của thương mại quốc
tế. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của một quốc gia là lý thuyết mới để giải thích về lợi
11
ích của thương mại quốc tế xuất hiện trong thập kỷ 80 của thế kỷ 20. Biểu dưới đây sẽ
chỉ ra những thời điểm ra đời chủ yếu của các lý thuyết chủ yếu của thương mại quốc tế,
trong đó có lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.
Nguồn: Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc
tế- Bộ môn Kinh doanh quốc tế, Chủ biên:T.S Nguyễn Thị Hường, "Giáo trình Kinh
doanh quốc tế", tập I, NXB Thống Kê, Hà Nội, trang 205
Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của một quốc gia được Michael Porter đưa ra vào
những năm 90 để giải thích tại sao một số nước lại có được vị trí hàng đầu trong việc sản
xuất một số sản phẩm nhất định. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia cho rằng, khả
năng cạnh tranh của một ngành sản xuất của một quốc gia phụ thuộc vào khả năng sáng
tạo và đổi mới của ngành đó. Công trình của Michael Porter có sự kết hợp những kiến

duy trì lợi thế cạnh tranh của quốc gia trong việc sản xuất mặt hàng đó.
Ta có thể lấy ví dụ về Nhật Bản. Hiện nay, Nhật Bản là một nước có lợi thế cạnh
tranh về mặt hàng ô tô và thép. Ô tô và thép Nhật tràn ngập trên thị trường thế giới và
đánh bại các đối thủ khác. Nhưng Nhật giành được lợi thế cạnh tranh rõ ràng không phải
vì các yếu tố cơ bản, vì nước này không có nguồn quặng sắt và phải nhập khẩu phần lớn
mặt hàng này. Nhật có được lợi thế cạnh tranh nhờ gia tăng được năng suất và phát huy
được lợi thế của mình trong việc sản xuất các mặt hàng đó thông qua những nỗ lực như
đào tạo và phát triển nhân lực, cải tiến công nghệ và áp dụng phương pháp quản lý tiên
tiến vào quy trình sản xuất.
2.2 Phân loại lợi thế cạnh tranh theo tính chất:
*Lợi thế cạnh tranh dạng tĩnh.
Lợi thế cạnh tranh trước hết tồn tại dưới dạng tĩnh, tức là lợi thế đang có. Lợi thế
dạng này có ưu điểm là đã có sẵn để khai thác, không cần tốn thêm chi phí nghiên cứu và
phát triển.
13
Lợi thế này thường tồn tại dưới dạng tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động thủ
công với giá nhân công rẻ …Tuy nhiên, hạn chế của lợi thế cạnh tranh loại này là ở chỗ
nó là lợi thế của quá nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, nên dễ dẫn đến sự
trùng hợp về cơ cấu hàng xuất khẩu, từ đó gây tác động ngược trở lại làm triệt tiêu lợi
thế cạnh tranh.
*Lợi thế cạnh tranh dạng động.
Lợi thế cạnh tranh của bất kỳ nước nào cũng chỉ có tính chất tương đối, luôn
trong quá trình biến động và thay đổi. Cũng có những nước duy trì được lợi thế cạnh
tranh của mình trong một thời gian rất dài. Nhưng thường thì lợi thế cạnh tranh của các
nước có sự biến động trong một thời gian ngắn. Một quốc gia khi xuất khẩu một mặt
hàng nào đó, hiện nay đang có lợi thế cạnh tranh, nhưng trong một vài năm tới có thể trở
nên bất lợi và ngược lại. Trong mỗi giai đoạn phát triển, mỗi quốc gia sẽ lại tìm ra được
lợi thế cạnh tranh của mình trong điều kiện nguồn lực của quốc gia đó. Hay nói một cách
khác, đó chính là lợi thế cạnh tranh dưới dạng động hay lợi thế dưới dạng tiềm năng.
Ví dụ như một quốc gia đông dân, ít vốn, lao động rẻ thì trước hết phải định

độ trốn thuế, quy mô chính phủ, chính sách tài khoá, các mức thuế.
c) Hệ thống tài chính: Hiệu quả và cạnh tranh, rủi ro tài chính, đầu tư và tiết
kiệm.
d) Năng lực công nghệ: Năng lực phát triển công nghệ trong nước , đầu tư
công nghệ thông qua FDI hoặc chuyển giao của nước ngoài.
e) Kết cấu hạ tầng: Bưu chính viễn thông, điện lực, giao thông vận tải và
những hỗ trợ kết cấu hạ tầng khác.
15
f) Quản trị: Quản lý nguồn nhân lực, các yếu tố quản trị không liên quan đến
nhân lực như về các công tác điều hành vĩ mô.
g) Lao động: Kỹ năng tay nghề và năng suất, tính linh hoạt của thị trường lao
động, hiệu quả của các chương trình xã hội, quan hệ lao động ngành.
h) Thể chế: Chất lượng các thể chế pháp lý, thể chế điều chỉnh hoạt động
xuất khẩu
3.2. Lợi thế cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực xuất khẩu các sản phẩm có
thế mạnh, các yếu tố quyết định:
Lợi thế cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực xuất khẩu đó là việc sản xuất ra
những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, có khả năng cạnh tranh về nguồn lực, lợi thế so
sánh, giá cả chất lượng… so với các nước khác khi cùng xuất khẩu vào một thị
trường .Nó được quyết định bởi các yếu tố:
3.2.1 Nhu cầu và mức độ ổn định của nhu cầu trên thị trường thế giới:
Đây là một yếu tố then chốt và kiên quyết. Thị trường thế giới có nhu cầu và nhu
cầu đó phải ổn định thì mới có thể tiến hành sản xuất và xuất khẩu. Thị trường thế giới
không có nhu cầu, hoặc có nhu cầu nhưng lại thất thường thì không thể xuất khẩu được,
tức là lợi thế cạnh tranh không thể được phát huy. Thị trường thế giới bão hòa, xuất khẩu
gặp khó khăn và lợi thế cạnh tranh sẽ bị triệt tiêu. Điều này thể hiện rõ rệt nhất trong
hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam. Nông sản là mặt hàng có lợi thế cạnh
tranh của Việt Nam, nhưng trong nhiều năm qua tồn tại một thực tế là lượng nông sản
xuất khẩu của ta cao nhưng kim ngạch đạt được không đáng kể do sự biến động thất
thường của giá cả trên thị trường thế giới, ta không phát huy được lợi thế cạnh tranh và

trường chính là một trong những yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc
gia.
Duy trì sự ổn định của môi trường kinh doanh chủ yếu bao gồm việc duy trì sự ổn
định của môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường chính trị và môi trường xã hội.
Duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô là làm giảm những biến động ngắn hạn trong nền
kinh tế và khuyến khích tăng trưởng bền vững lâu dài. Đây là điều kiện tiên quyết cho
việc tính toán kinh doanh của các chủ thể kinh tế, vì nếu giá cả thay đổi thất thường, tỷ
giá tăng mạnh hoặc giảm mạnh làm cho chủ đầu tư không tính toán nổi lỗ lãi. Ngoài ra,
sự ổn định kinh tế vĩ mô tạo ra sự tin tưởng của các chủ thể kinh tế vào tương lai, tránh
cho nền kinh tế khỏi những cuộc khủng hoảng kinh tế, dẫn đến sự tàn phá nền kinh tế.
Sự ổn định về mặt chính trị cũng tạo ra môi trường thuận lợi đối với các hoạt
động kinh doanh, trong đó có hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, góp phần nâng cao lợi
thế cạnh tranh của một quốc gia. Trong một xã hội ổn định về mặt chính trị, các nhà kinh
doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu và các loại tài sản khác. Do đó các
nhà kinh doanh sẵn sàng đầu tư những khoản tiền lớn vào các dự án kinh doanh dài hạn,
từ đó thúc đẩy nền sản xuất chung của một quốc gia phát triển.
Môi trường xã hội cũng có những tác động nhất định đến hoạt động của các tổ
chức kinh doanh. Các giá trị chung của xã hội, các tập tục truyền thống, lối sống của
nhân dân, các hệ tư tưởng tôn giáo và cơ cấu dân số, thu nhập của dân chúng đều có ảnh
hưởng đến hiệu quả của các hoạt động kinh doanh. Những vấn đề xã hội mà Nhà nước
phải quan tâm để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy được lợi thế cạnh tranh quốc
gia bao gồm : vấn đề việc làm, vấn đề xoá đói giảm nghèo, vấn đề công bằng xã hội, vấn
đề xoá bỏ những tệ nạn xã hội, vấn đề thái độ lao động, vấn đề bảo vệ môi trường, y tế
và giáo dục và vấn đề đạo đức kinh doanh.
3.2.3. Lợi thế so sánh:
18
Yếu tố thứ 3 quyết định lợi thế cạnh tranh của một quốc gia trong xuất khẩu sản
phẩm là lợi thế so sánh. Lý thuyết về lợi thế so sánh được nhà kinh tế học người Anh
David Ricardo xây dựng vào năm 1817 và trở thành một công cụ lý luận rất quen thuộc
trong khoa học kinh tế khi người ta muốn giải thích lợi ích của thương mại quốc tế.

Cà phê Chè
Mỹ 1 2
Việt Nam 6 3
Mỹ cần 1 đơn vị lao động để sản xuất 1 cà phê, và cần 2 đơn vị lao động để sản
xuất 1 tấn chè. Việt Nam cần 6 đơn vị lao động để sản xuất 1 tấn cà phê và cần 3 đơn vị
lao động để sản xuất 1 tấn chè.
Để dễ so sánh, ta có thể biểu thị lại hiệu quả sản xuất của 2 nước theo cùng một
gốc là 1 đơn vị lao động (bằng một số lượng lao động nhất định) như sau:
+Ở Mỹ, 1 đơn vị lao động = 1 tấn cà phê hoặc 1/2 tấn chè.
+Ở Việt Nam, 1 đơn vị lao động = 1/6 tấn cà phê hoặc 1/3 tấn chè.
Như vậy, với mỗi đơn vị lao động được sử dụng thì Mỹ đều sản xuất được nhiều
cà phê và chè hơn Việt Nam , hay nói cách khác Mỹ có lợi thế tuyệt đối trong việc sản
xuất cả 2 mặt hàng. Khi đó, phải chăng Mỹ sẽ không thu được lợi ích gì từ việc buôn
bán với Việt Nam - 1 quốc gia sản xuất kém hiệu quả hơn?
Điều này không đúng, bởi vì mặc dù Mỹ có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai
mặt hàng cà phê và gạo, nhưng nước này chỉ có lợi thế so sánh về mặt hàng cà phê, tức
là chỉ có thể sản xuất cà phê có hiệu quả hơn so với sản xuất gạo. Tuy không thể sản
xuất cả cà phê và chè với hiệu quả cao hơn Mỹ, nhưng Việt Nam lại có lợi thế so sánh về
mặt hàng gạo, tức là có thể sản xuất gạo một cách có hiệu quả cao hơn so với sản xuất cà
phê.
20
Một lần nữa giả sử rằng (đây chính là hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh vì đặt
ra quá nhiều giả định phi thực tế), Mỹ và Việt Nam quyết định trao đổi với nhau theo tỷ
lệ 1 tấn cà phê = 1 tấn chè.
Việt Nam có thể sử dụng 1 đơn vị lao động của mình để sản xuất 1/6 tấn cà phê.
Nhưng giải pháp tốt hơn là sử dụng 1 đơn vị lao động đó để sản xuất 1/3 tấn chè (là mặt
hàng Việt Nam có lợi thế so sánh) sau đó trao đổi với Mỹ lấy 1/3 tấn cà phê (là mặt hàng
Mỹ có lợi thế so sánh). Khi đó, nhờ chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi, Việt Nam có
được lượng cà phê nhiều gấp đôi (1/3 tấn) so với trường hợp tự sản xuất lấy cà phê (1/6
tấn).

điểm một lý thuyết quan trọng nói về vị trí của các nguồn lực trong lợi thế cạnh tranh
của một quốc gia.
Vào đầu thế kỷ 20, một lý thuyết thương mại mới xuất hiện khẳng định vai trò
của các nguồn lực đối với lợi thế cạnh tranh của một quốc gia. Trọng tâm của lý thuyết
này đề cập đến chi phí nguồn lực ở các quốc gia, theo đó mức chi phí của bất kỳ nguồn
lực nào đều đơn thuần là kết quả của cung và cầu: các nguồn lực có mức cung lớn hơn
so với mức cầu sẽ có chi phí thấp hơn so với các nguồn lực có mức cung nhỏ hơn
mức cầu.
Lý thuyết tỷ lệ các yếu tố phát biểu rằng, các quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu
những mặt hàng đòi hỏi sử dụng nhiều nguồn lực (yếu tố) dồi dào và nhập khẩu những
mặt hàng đòi hỏi sử dụng nhiều nguồn lực (yếu tố) khan hiếm của các quốc gia đó. Lý
22
thuyết này là kết quả của công trình nghiên cứu của hai nhà kinh tế học là Eli Heckscher
và Bertil Ohlin nên còn gọi là lý thuyết Heckscher-Ohlin (H-O).
Lý thuyết tỷ lệ các yếu tố có sự khác biệt quan trọng so với lý thuyết lợi thế so
sánh. Lý thuyết lợi thế so sánh cho rằng một quốc gia nên thực hiện chuyên môn hoá sản
xuất mặt hàng mà mà quốc gia có thể sản xuất một cách có hiệu quả hơn so với các mặt
hàng khác. Nhưng lý thuyết tỷ lệ các yếu tố cho rằng, một nước nên thực hiện chuyên
môn hoá và xuất khẩu các mặt hàng sử dụng nhiều nguồn lực dồi dào nhất và do đó rẻ
nhất. Lý thuyết lợi thế so sánh nhấn mạnh đến năng suất của quá trình sản xuất một
mặt hàng cụ thể, còn lý thuyết tỷ lệ các yếu tố nhấn mạnh đến sự phong phú của các
nguồn lực đầu vào sản xuất mặt hàng đó.
Dựa trên nội dung cơ bản của lý thuyết tỷ lệ các yếu tố, ta có thể xác định một số
nguồn lực cụ thể quy định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia khi xuất khẩu sang
các nước khác như sau
+Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố về khoảng cách, địa điểm,
khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, dân số, … Đây là những yếu tố có tác động quan trọng
đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.
Lợi thế cạnh tranh của một quốc gia thể hiện một cách trực tiếp nhất ở những

mục tiêu cạnh tranh quốc tế, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế thành công cũng như
củng cố các cơ sở để tăng trưởng bền vững.
Xét theo quan điểm dài hạn, phát triển nguồn nhân lực là tạo lập cơ sở quan trọng
hàng đầu để nhanh chóng tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức cơ sở của lợi thế cạnh
tranh trong tương lai. Khoảng cách lớn giữa yêu cầu về một nguồn nhân lực chất lượng
cao với thực trạng lao động với trình độ thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu ở nhiều quốc
gia trong bối cảnh xu hướng phát triển kinh tế tri thức đang được đẩy nhanh trên thế giới
24
càng đòi hỏi Chính phủ các nước phải sớm có chương trình phát triển nguồn nhân lực
tổng thể và cơ bản.
+Trình độ khoa học công nghệ:
Hầu như sự phát triển nhanh chóng và không lường trước được của nhưng bộ
phận cấu thành lớn trong nền kinh tế thế giới trong những thập kỷ qua là do những tiến
bộ về khoa học công nghệ.
Những tiến bộ công nghệ này có thể được bán để trang trải một phần chi phí cho
những nước phát minh ra nó. Xét từ góc độ này, công nghệ chính là sản phẩm có lợi thế
cạnh tranh. Hơn thế nữa, sự phát triển của khoa học công nghệ và việc áp dụng với tốc
độ nhanh chóng những thành tựu của khoa học công nghệ đã làm gia tăng khả năng cạnh
tranh của các quốc gia.
Thực tế đã cho thấy, quốc gia nào nắm được “vũ khí” công nghệ tiên tiến sẽ chiến
thắng trong “cuộc chiến” cạnh tranh khốc liệt và sẽ đem lại sự phát triển và thịnh vượng
cho nước mình.
+Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng là tổng thể các cơ sở vật chất kỹ thuật, các công trình, các phương
tiện tồn tại trên một lãnh thổ nhất định được dùng làm điều kiện sản xuất và điều kiện
sinh hoạt nói chung, bảo đảm sự vận hành liên tục, thông suốt của các luồng của cải vật
chất, các luồng thông tin và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu có tính phổ biến của sản xuất
và đời sống<5>(<>trích dẫn cuối chuyên đề). Các bộ phận của cơ sở hạ tầng được chia
làm hai nhóm: cơ sở hạ tầng kỹ thuật (phần cứng) và cơ sở hạ tầng xã hội (phần mềm).
Thuộc nhóm cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm: hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước, hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status