Lập kế hoạch năm cho vật tư tại cty Cao Su Sao Vàng - Pdf 18

Chuyên đề thực tập chuyên ngành
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là vấn đề sống còn c
của doanh nghiệp, do đó, doanh nghiệp luôn tìm cho mình hướng đi đúng đắn
để có thể đứng vững trên thị trường. Hàng năm, doanh nghiệp lập nên các kế
hoạch nhằm định hướng các hoạt động kinh doanh trong năm của mình.
Trong một số năm gần đây, thị trường vật tư nước ta có nhiều biến
động. Giá xăng dầu tăng cao, kéo theo đó là sự tăng gia của các nguyên vật
liệu đầu vào. Nước ta là một nước nhập khẩu xăng dầu với một khối lượng
lớn. Các doanh nghiệp đang đứng trước nhiều khó khăn, họ không thể đột
ngột tăng giá sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp còn phải chịu lỗ để giữ chân
khách hàng.
Công ty cao su Sao vàng tuy là một doanh nghiệp đầu đàn trong ngành
công nghiệp cao su Việt nam nhưng trong những năm gần đây, công ty cũng
phải đối mặt với rất nhiều khó khăn vì sự biến động của thị trường vật tư. Vì
vậy hàng năm, công ty luôn cố gắng làm tốt công tác lập kế hoạch năm cho
vật tư để có thể đảm bảo đủ vật tư cho sản xuất, đồng thời có thể ứng phó
được với những sự thay đổi của môi trường.
Trong quá trình thực tập tại Công ty cao su Sao vàng, em đã có điều
kiện nghiên cứu về công tác lập kế hoạch năm cho vật tư tại Công ty cao su
Sao vàng. Do đó, em chọn đề tài: "Hoàn thiện công tác lập kế hoạch năm
cho vật tư tại Công ty cao su Sao vàng". Trong phạm vi nghiên cứu của đề
tài, em xin trình bày công tác lập kế hoạch năm cho vật tư tại công ty, những
kết quả đạt được và một số vấn đề còn tồn tại trong công tác lập kế hoạch
năm cho vật tư tại Công ty cao su Sao vàng, đồng thời em xin đưa ra một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác lập kế hoạch năm cho vật tư tại
Công ty cao su Sao vàng.
Kết cấu của bài viết ngoài phần mở đầu, kết luận được chia thành 3
chương:
Tạ Thị Quyên - Lớp Quản lý kinh tế 44A
1

Trong doanh nghiệp, vật tư được thể hiện dưới dạng vật hoá như sắt
thép, cao su, vải sợi, da...
1.1.2. Vai trò của Vật tư
Trong giai đoạn hiện nay, mỗi doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh
nhiều loại sản phẩm và hàng hoá khác nhau, và theo xu thế chung, những
chủng loại hàng hoá của một doanh nghiệp ngày càng đa dạng và phong phú.
Để sản xuất ra các sản phẩm hóa đó, người ta phải sử dụng rất nhiều
loại vật tư. Mỗi sản phẩm hàng hoá được cấu thành từ các loại vật tư theo một
tỉ lệ nhất định. Cho dù là một vật tư nhỏ nhưng thiếu nó, sẽ làm ảnh hưởng tới
quá trình sản xuất hoặc ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Thông thường,
trong các doanh nghiệp, chi phí vật tư chiếm đến 50% chi phí sản phẩm. Đặc
biệt đối với các sản phẩm thuộc khối ngành công nghiệp, chi phí vật tư chiếm
từ 70 - 80% chi phí sản phẩm.
Quá trình sản xuất có thể được ví như một hộp đen có đầu vào và đầu
ra. Trong đó, đầu vào bao gồm vốn, máy móc thiết bị, con người và vật tư.
Sơ đồ 1: Quy trình sản xuất của doanh nghiệp
(Nguồn: Giáo trình KHQL Tập II, trang 206)
(1)
Chiến lược kinh doanh và kế hoạch hoá nội bộ doanh nghiệp - Nhà xuất bản Khoa học và kĩ thuật, Hà nội,
2002.
Tạ Thị Quyên - Lớp Quản lý kinh tế 44A
3
Đầu vào
Đầu vào
Hộp đen
Hộp đen
Đầu ra
Đầu ra
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Vật tư chính là một trong những yếu tố đầu vào không thể thiếu của

Phần này được tóm tắt từ : Giáo trình Quản trị vật tư kĩ thuật - Đại học Lâm Nghiệp, Nhà xuất bản Nông
nghiệp, Hà nội, 2003, trang 73.
Tạ Thị Quyên - Lớp Quản lý kinh tế 44A
4
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
b) Phân loại vật tư căn cứ vào tầm quan trọng của nó trong sản xuất
(3)
:
Theo cách phân loại này, người ta chi ra thành nguyên vật liệu chính và
nguyên vật liệu phụ
- Nguyên vật liệu chính là những nguyên vật liệu sau quá trình gia công
sẽ trực tiếp cấu thành thực thể của sản phẩm, hoặc những nguyên vật liệu
được sử dụng với số lượng lớn hoặc những vật liệu đắt tiền phải nhập khẩu.
- Nguyên vật liệu phụ: Là những vật tư không trực tiếp cấu thành sản
phẩm nhưng lại rất quan trọng trong sản xuất. Những vật tư này được sử dụng
kết hợp với nguyên vật liệu chính nhằm hoàn thiện tính năng cho sản phẩm,
để tăng chất lượng sản phẩm hoặc dùng để trang trí cho sản phẩm.
- Nhiên liệu: Là những thứ dùng để cung cấp nhiệt lượng cho quá trình
sản xuất bao gồm các loại nguyên vật liệu ở thể rắn, lỏng hay khí như than,
củi, xăng dầu, hơi đốt v..v...
Nhiên liệu trong các doanh nghiệp thực chất là một loại nguyên vật liệu
phụ. Tuy nhiên nó đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, và có
các tính năng cũng như kĩ thuật quản lý hoàn toàn khác với nguyên vật liệu
thông thường. Tuỳ từng doanh nghiệp mà có thể tách nhiên liệu làm đối tượng
quản lý riêng hay coi nhiên liệu là nguyên vật liệu phụ.
c) Căn cứ vào nguồn cung cấp nguyên vật liệu:
Theo căn cứ này, nguyên vật liệu được chia thành vật liệu mua ngoài,
vật liệu tự sản xuất và vật liệu từ các nguồn khác....
Nói chung, việc phân loại vật tư chỉ là tương đối. Nó phụ thuộc vào
lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đặc điểm tổ

đảm bảo được đặc tính kĩ thuật, tránh hư hỏng, hao hụt...
- Trong khâu dự trữ vật tư: Doanh nghiệp cần xây dựng được định mức
dự trữ tối đa và tối thiểu cho từng loại vật tư. Vật tư được dự trữ dao động
trong khoảng mức dự trữ tối đa và tối thiểu là hợp lý. Tránh việc dự trữ quá ít,
khi cần cho sản xuất thì doanh nghiệp lại không đủ để cung ứng. Đồng thời
tránh việc dự trữ quá nhiều mà làm tăng chi phí cho doanh nghiệp.
- Trong khâu tổ chức cung ứng và sử dụng vật tư: Doanh nghiệp cung
ứng cho các xưởng sản xuất một số lượng vừa đủ để khuyến khích việc sử
dụng tiết kiệm, hợp lý nhằm giảm mức tiêu hao vật tư.
Tạ Thị Quyên - Lớp Quản lý kinh tế 44A
6
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Công việc quản lý vật tư bao gồm rất nhiều nội dung. Nhưng do hạn
chế về thời gian và dữ liệu, trong bài viết này chỉ xin đề cập đến 1 khía cạnh
của quản lý vật tư. Đó là công tác lập kế hoạch năm cho vật tư.
2. Kế hoạch vật tư trong hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp.
2.1 Kế hoạch vật tư của doanh nghiệp.
Kế hoạch vật tư là một bộ phận của kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng
năm của doanh nghiệp. Kế hoạch vật tư được các doanh nghiệp lập ra vào đầu
năm nhằm xác định chính xác lượng vật tư cần mua sắm hay cần dự trữ trong
năm cho doanh nghiệp.
Kế hoạch năm vật tư có một vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp.
Bất kì một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào cũng cần có vật tư. Mỗi
doanh nghiệp có đến hàng trăm, thậm chí hàng nghìn loại vật tư khác nhau.
Nếu thiếu chỉ một loại vật tư dù là nhỏ sẽ làm gián đoạn việc sản xuất, ảnh
hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp.
Rõ ràng, vật tư quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sản xuất.
Việc quản lý tốt vật tư trong doanh nghiệp, lập kế hoạch năm cho các loại vật
tư thật chính xác là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp có thể đảm bảo chất
lượng của sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm và

Kế hoạch lao
động - tiền lương
Kế hoạch
vật tư
Kế hoạch xây
dựng và sửa chữa
lớn TSCĐ
Kế hoạch khoa
học-công nghệ
Kế hoạch giá
thành sản phẩm
Kế hoạch tài
chính
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
cơ sở cho các bộ phận kế hoạch khác. Trên cơ sở của kế hoạch sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp xác định các bộ phận kế hoạch khác.
Kế hoạch vật tư được thiết lập dựa trên cơ sở của kế hoạch sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm, đồng thời căn cứ vào kế hoạch xây dựng và sửa chữa lớn
TSCĐ và kế hoạch khoa học công nghệ để xác định năng lực của doanh
nghiệp trong năm và các định mức tiêu hao vật tư cho các đơn vị sản phẩm.
Các chỉ tiêu của Kế hoạch vật tư được phản ánh trong kế hoạch tài chính và
kế hoạch giá thành sản phẩm bởi vì, giá thành vật tư ảnh hưởng trực tiếp lên
giá thành sản phẩm.
Kế hoạch vật tư là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kế hoạch sản
xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Do đó, trước khi lập kế hoạch năm
cho vật tư, doanh nghiệp phải xem xét các mối liên hệ giữa kế hoạch vật tư và
các loại hình kế hoạch khác để có thể thu thập đầy đủ thông tin, nhằm lập
được một kế hoạch chính xác nhất.
2.2.2 Xét theo cấp độ kế hoạch:
Căn cứ vào sứ mệnh của doanh nghiệp, tức là lĩnh vực hoạt động, vai

nghiệp phải xác định được định mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị sản phẩm
từ đó để làm căn cứ lập kế hoạch số lượng vật tư cần dùng, cần mua một cách
hợp lý nhất.
- Định mức tiêu hao vật tư là lượng vật tư tiêu hao lớn nhất cho phép để
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc để hoàn thành 1 khối lượng công việc
nhất định trong một điều kiện tổ chức và kĩ thuật đã được xác định
(4)
.
Trong doanh nghiệp, định mức tiêu hao vật tư giữ một vai trò quan
trọng. Đối với với việc sản xuất kinh doanh, định mức tiêu hao vật tư là căn
cứ để cấp phát vật tư cho từng đơn vị sản xuất, đảm bảo cho việc sản xuất
được tiến hành cân đối, liên tục. Đối với công tác lập kế hoạch vật tư, định
mức tiêu hao vật tư vừa là căn cứ để tính nhu cầu vật tư, vừa là căn cứ để
doanh nghiệp xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư, cân đối các bộ phận kế
hoạch khác có liên quan...
(4)
Giáo trình Quản trị vật tư kĩ thuật - Đại học Lâm nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp - Hà nội, 2003, trang
76.
Tạ Thị Quyên - Lớp Quản lý kinh tế 44A
10
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Định mức tiêu hao vật tư có thể được tính theo nhiều cách khác nhau.
Mỗi cách tính có ưu và nhược điểm riêng. Tuy từng doanh nghiệp và điều
kiện sản xuất của doanh nghiệp mà có cách tính định mức tiêu hao phù hợp.
Tuy nhiên, định mức tiêu hao vật tư phải đảm bảo được tính chính xác, khoa
học và thực tiễn.
Có một số cách tính định mức tiêu hao vật tư như sau:
- Tính định mức tiêu hao vật tư theo phương pháp thống kê kinh
nghiệm: là xác định định mức tiêu hao vật tư dựa vào số liệu thống kê về mức
tiêu hao vật tư bình quân của kỳ trước, kết hợp với các điều kiện tổ chức sản

n
j
j
i

=
=
1
(5)
Trong đó: V
i
là tổng nhu cầu vật tư i
D
ij
là định mức tiêu hao vật tư i cho một đơn vị sản phẩm j
Q
j
là số lượng sản phẩm j theo kế hoạch sản xuất
n là số chủng loại sản phẩm có dùng vật tư i
3.2 Xác định nhu cầu dự trữ vật tư:
Trong khi lập kế hoạch năm cho vật tư, doanh nghiệp phải tính được
hợp lý số lượng vật tư cần dự trữ. Doanh nghiệp không thể sản xuất đến đâu,
mua sắm vật tư đến đấy vì như vậy sẽ có những trở ngại xảy ra như không có
đủ thời gian chuẩn bị vật tư cho sản xuất, không chủ động trong sản xuất vì
phải chờ đợi vật tư, việc cung ứng vật tư cho sản xuất có thể xảy ra bất trắc
khiến cho việc sản xuất bị đình trệ, điều này sẽ dẫn đến doanh nghiệp sẽ
không thực hiện đúng hợp đồng giao hàng cho khách hàng, làm giảm uy tín
của doanh nghiệp... Do vậy, để đảm bảo chắc chắn cho hoạt động sản xuất
của năm sau, ngay từ khi lập kế hoạch cho vật tư của năm nay, doanh nghiệp
phải có kế hoạch dự trữ vật tư cuối năm để đảm bảo cho hoạt động sản xuất

 Giúp doanh nghiệp ứng phó với sự thay đổi của môi trường: Môi
trường ở đây có nghĩa là cả môi trường bên trong và bên ngoài của doanh
nghiệp. Môi trường của một doanh nghiệp trong một năm có thể có nhiều thay
đổi. Trước khi lập kế hoạch nói chung và kế hoạch vật tư nói riêng, doanh
nghiệp phải nghiên cứu và dự báo môi trường. Công việc này giúp doanh
nghiệp có thể dự đoán trước những biến động của môi trường, từ đó doanh
nghiệp sẽ lập ra một kế hoạch phù hợp.
 Giảm thiểu thời gian, và lượng dự trữ nguyên vật liệu: Kế hoạch
vật tư xác định chính xác số lượng vật tư cần mua, cần sử dụng của doanh
nghiệp ở từng thời điểm. Do đó, doanh nghiệp sẽ biết được chính xác lượng
mà doanh nghiệp cần dùng, từ đó, tránh được việc tồn đọng quá nhiều vật tư
trong kho, giảm được chi phí lưu kho và giảm được chi phí vốn lưu động
trong doanh nghiệp.
Tạ Thị Quyên - Lớp Quản lý kinh tế 44A
Nhu cầu mua sắm
vật tư
=
Tổng nhu cầu
vật tư
- Tồn đầu kì +
Dự kiến tồn
cuối kì
13
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
 Giảm thời gian sản xuất và thời gian cung ứng vật tư: Các chi tiết
vật tư dù là rất nhỏ, được sử dụng với số lượng ít nhưng khi lập kế hoạch vật
tư, người lập kế hoạch phải tính đến cả những chi tiết đó để khi công việc sản
xuất cần đến là doanh nghiệp sẵn sàng cung ứng, tránh phải chờ đợi, làm gián
đoạn cả quy trình sản xuất chỉ vì những chi tiết rất nhỏ, hoặc để tránh thiếu
vật tư mà làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm từ đó làm giảm hiệu quả

những vấn đề có thể xảy ra đối với vật tư trong doanh nghiệp như vật tư bị hư
hại do bốc xếp, vận chuyển...
2.2 Thiết lập các mục tiêu
Mục tiêu của bất cứ loại kế hoạch nào cũng cần phải được lượng hoá.
Đối với kế hoạch năm cho vật tư, mục tiêu của việc lập kế hoạch là việc xác
định được chính xác số lượng của từng loại vật tư. Bao gồm:
- Nhu cầu vật tư cần dùng cho sản xuất.
- Nhu cầu vật tư cần dự trữ vào cuối kì kế hoạch.
- Nhu cầu mua sắm vật tư trong kì kế hoạch.
2.3 Lựa chọn các phương thức, công cụ để đạt được mục tiêu
 Lựa chọn nhà cung cấp vật tư để có được vật tư: Theo quy luật của
thị trường, có cầu về vật tư thì sẽ có cung về vật tư. Trên thị trường, có rất
nhiều nhà cung ứng vật tư cho 1 doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp phải
chọn lựa cho mình một hay nhiều nhà cung ứng vật tư tốt nhất.
- Nếu chọn một nhà cung ứng vật tư, doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận
lợi như giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng có mối quan hệ ổn định lâu dài,
tin tưởng lẫn nhau... do đó thuận tiện cho việc quản lý, và dễ dàng giải quyết
khi có mâu thuẫn xảy ra. Tuy nhiên doanh nghiệp nếu chọn một nhà cung ứng
vật tư sẽ gặp rủi ro cao.
- Nếu doanh nghiệp chọn nhiều nhà cung ứng: do các nhà cung ứng vật
tư có sự cạnh tranh với nhau nên dễ dàng được giảm giá, việc cung ứng đảm
bảo an toàn cao... Tuy nhiên việc chọn nhiều nhà cung ứng sẽ rất dễ xảy ra
mâu thuẫn giữa các nhà cung ứng...
Tạ Thị Quyên - Lớp Quản lý kinh tế 44A
15
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Do đó, doanh nghiệp nên chọn số lượng nhà cung ứng vật tư ở một
mức độ nhất định, nên chọn người cung ứng ở gần doanh nghiệp, là những
nhà cung ứng tin cậy...
 Lựa chọn các nguồn lực để đạt được mục tiêu:

- Mô hình JIT (Just in time)....
3.1. Mô hình quản trị hàng dự trữ
(7)
:
Mô hình này đưa ra giả thiểt rằng nhu cầu vật tư biết trước và không
đổi, các chi phí liên quan đến vật tư chỉ có chi phí lưu kho và chi phí đặt
hàng, và sự thiếu hụt vật tư hoàn toàn không xảy ra nếu như các đơn đặt hàng
được thực hiện đúng.
Với những giả thiết trên, lượng dự trữ vật tư tối ưu được tính theo công
thức sau:

=
Q
i

H
DS2
Trong đó: Q là lượng dự trữ vật tư i tối ưu
D là nhu cầu hàng năm về lượng dự trữ vật tư i.
S là chi phí đặt hàng vật tư i tính trên 1 đơn hàng.
H là chi phí dự trữ trung bình trên 1 đơn vị dự trữ trong năm.
Ưu điểm của mô hình này là cách tính đơn giản, dễ thực hiện. Tuy
nhiên các giả thiết mà mô hình này đưa ra trên thực tế là không phù hợp với
các doanh nghiệp. Trên thực tế, chi phí cho vật tư không chỉ có chi phí lưu
kho và chi phí cho đơn đặt hàng mà còn nhiều chi phí khác như chi phí vận
chuyển....
3.2 Mô hình JIT (Just in time)
(8)
:
Mô hình này còn được gọi là mô hình dự trữ đúng thời điểm.

Ưu điểm của Mô hình JIT là xác định được khá chính xác số lượng
từng loại vật tư để đảm bảo vật tư được đưa đúng đến nơi có nhu cầu thực sự
đúng lúc, kịp thời, không đưa đến nơi chưa có nhu cầu, sao cho hoạt động của
bất kì nơi nào cũng được liên tục. Hạn chế của mô hình này là không tính đến
các chi phí liên quan đến vật tư như chi phí vận chuyển, chi phí lưu kho...
III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH
NĂM CHO VẬT TƯ
1. Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp:
1.1 Thị trường vật tư
Thị trường vật tư có ảnh hưởng lớn tới công tác lập kế hoạch vật tư cho
doanh nghiệp. Thị trường vật tư chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế,
chính trị, xã hội. Do vậy, thị trường vật tư thường xuyên biến động. Khi lập
kế hoạch vật tư, các doanh nghiệp phải tính đến những biến động của thị
trường vật tư để có thể ứng phó kịp thời khi điều kiện bất lợi xảy ra. Thị
trường vật tư biến động có thể do giá cả vật tư biến động hay nguồn vật tư có
thể dồi dào hay khan hiếm. Những điều kiện này xẽ tạo ra những thuận lợi
hay khó khăn cho doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp phải có sách lược thích
Tạ Thị Quyên - Lớp Quản lý kinh tế 44A
18
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
hợp để đối phó với những sự thay đối đó, và có thể điều chỉnh kế hoạch khi
cần thiết.
1.2 Các nhà cung cấp vật tư:
Đây là một yếu tố quan trọng vì đây là nguồn để đảm bảo cho vật tư cả
năm cho doanh nghiệp. Trên thị trường có rất nhiều nhà cung cấp vật tư. Do
đó doanh nghiệp có thể chọn cho mình một hay nhiều nhà cung cấp vật tư.
Điều này tuỳ thuộc vào số lượng và chủng loại vật tư của doanh nghiệp.
Trước khi lập kế haọch, doanh nghiệp phải xem xét đến các yếu tố như giá cả,
chất lượng vật tư mà nhà cung cấp đưa ra để có thể chọn cho mình một nhà
cung cấp tốt nhất, đảm bảo đầu vào cho doanh nghiệp

- Thông tin về kế hoạch sản xuất: Hàng năm, công ty có một kế hoạch
sản xuất thật cụ thể, chi tiết. Kế hoạch sản xuất hàng năm là yếu tố quyết định
để doanh nghiệp lập nên kế hoạch năm đó cho vật tư, giúp doanh nghiệp có
thể xác định được lượng vật tư mà doanh nghiệp cần có trong năm kế hoạch.
- Thông tin về các loại vật tư: Mỗi doanh nghiệp có một bảng danh mục
vật tư. Danh mục vật tư cho biết những chủng loại vật tư mà doanh nghiệp
cần dùng để sản xuất ra sản phẩm hàng hoá cuối cùng. đồng thời cho biết các
đặc tính kĩ thuật của vật tư, kí hiệu..... Trước khi lập kế hoạch vật tư, doanh
nghiệp phải nắm được số lượng, chủng loại các loại vật tư mà mình cần có.
- Thông tin về việc dự trữ vật tư: Thông thường, để đảm bảo cho việc
sản xuất không gặp sự cố, không bị gián đoạn do thiếu vật tư, doanh nghiệp
luôn luôn dự trữ một lượng vật tư nhất định. Trước khi lập kế hoạch vật tư,
doanh nghiệp cần biết chính xác được số lượng dự trữ của từng loại vật tư từ
đó có thể lập nên một kế hoạch chính xác, không để thừa quá nhiều vật tư.
Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, của
công nghệ thông tin, máy tính được ứng dụng rất rộng rãi trong các doanh
nghiệp trong việc quản lý vật tư. Một máy tính có thể lưu trữ được một lượng
thông tin rất lớn và cho phép người dùng có thể truy cập rất nhanh. Do đó,
ngày nay, việc lập kế hoạch vật tư trong các doanh nghiệp ngày càng chịu ảnh
hưởng nhiều của máy tính, của các phần mềm máy tính hiện đại. Tuy nhiên,
Tạ Thị Quyên - Lớp Quản lý kinh tế 44A
20
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
máy tính chỉ là công cụ cho phép việc lập kế hoạch vật tư được dễ dàng hơn.
Việc lập kế hoạch vật tư còn phụ thuộc chủ yếu vào các cán bộ phục vụ cho
công tác lập kế hoạch vật tư.
2.3 Bộ máy tổ chức làm công tác lập kế hoạch:
Hệ thống thông tin chỉ là công cụ để phục vụ cho công tác lập kế hoạch
vật tư. Điều quan trọng là phải có đội ngũ cán bộ phục vụ cho công tác lập kế
hoạch thật tốt. Đội ngũ cán bộ đòi hỏi phải là những người có trình độ chuyên

nhà máy cao su Sao vàng. Đây chính là tiền thân của nhà máy cao su Sao
vàng Hà Nội sau này. Ngày 6/4/1960 được lấy làm ngày thành lập Nhà máy
cao su Sao vàng.
Từ năm 1960 đến nay, nhà máy ngày càng khẳng định vị trí đi đầu của
mình trong ngành công nghiệp cao su Việt Nam. Nhà máy đã đạt được nhiều
thành tích và nhiều lần được nhận cờ, bằng khen của cấp trên.
Năm 1992, theo quyết định số 645/CNNG ngày 27/8/1992 của Bộ công
nghiệp nặng, nhà máy đã đổi tên thành Công ty cao su Sao vàng.
Tạ Thị Quyên - Lớp Quản lý kinh tế 44A
22
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Ngày 1/1/1993, Công ty chính thức sử dụng con dấu mang tên Công ty
cao su Sao vàng.
Theo quyết định số 215/QĐ/TCNSĐT ngày 5/5/1993 của Bộ công
nghiệp nặng, Công ty cao su Sao vàng chính thức được công nhận là một đơn
vị hạch toán độc lập của tổng công ty hoá chất việt Nam, có tư cách pháp
nhân, có tài khoản tại ngân hàng và có con dấu riêng.
1.2. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh.
Khi bắt đầu đi vào hoạt động, với năng lực về vốn, lao động, khoa học
kĩ thuật còn hạn chế, Công ty chỉ sản xuất 2 mặt hàng chủ yếu là săm và lốp
xe đạp. Năm đầu tiên đi vào hoạt động sản xuất, Công ty sản xuất ra 93.664
chiếc lốp xe đạp và 38.388 chiếc săm xe đạp.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của thị trường và khoa học kĩ thuật,
Công ty đã và đang mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện nay, Công
ty hoạt động sản xuất kinh doanh trên 3 lĩnh vực chính:
- Công nghiệp sản xuất sản phẩm cao su.
- Xuất nhập khẩu phục vụ ngành công nghiệp chế tạo cao su.
- Chế tạo và lắp đặt máy, thiết bị dùng gia công các mặt hàng cao su.
Hàng năm Công ty sản xuất ra hàng chục triệu bộ săm lốp xe đạp, xe
máy và ô tô, hàng chục ngàn tấn sản phẩm cao su kĩ thuật. Đặc biệt trong

Giá trị SXCN(tỉ đồng) 341,917 309,112 478,240 385,480
Doanh thu (tỉ đồng) 368,528 342,874 537,370 618,680
Các sản phẩm chủ yếu (chiếc)
Lốp xe đạp 6.465.400 7.164.500 7.350.000 4.970.000
Săm xe đạp 6.997.300 8.685.100 7.850.000 5.930.000
Lốp xe máy 875.900 1.027.000 1.339.100 758.080
Săm xe máy 2.747.600 3.072.600 3.918.800 3.240.780
Lốp ô tô 169.580 201.380 247.160 256.150
Săm ô tô 139.500 157.800 135.000 138.000
Yếm ô tô 39.540 71.160 69.000 69.000
Pin các loại 48.136.70
0
49.722.00
0
45.920.00
0
24
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
nghiệp luyện cao su Xuân Hoà, xí nghiệp cao su kỹ thuật, xí nghiệp cơ điện-
năng lượng, xưởng kiến thiết bao bì và chi nhánh cao su Thái Bình...
2. Thực trạng vật tư và quản lý vật tư tại Công ty cao su Sao vàng
Đối với bất kì doanh nghiệp nào, muốn cho hoạt động sản xuất được
tiến hành liên tục, đều đặn, phải thường xuyên đảm bảo các loại vật tư đủ về
số lượng, kịp về thời gian, đúng về quy cách phẩm chất của vật tư đó. Đây là
vấn đề bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp sản xuất. Vì vậy, đảm bảo vật tư
cho sản xuất là một tất yếu khách quan, một điều kiện chung của các doanh
nghiệp.
Đối với Công ty cao su Sao vàng, việc lập kế hoạch năm cho vật tư đủ
số lượng, cung ứng kịp thời và đầy đủ cho các xưởng sản xuất, sử dụng tiết
kiệm vật tư tạo tiền đề cho sự liên tục của quá trình sản xuất của Công ty.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status