30 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TÌM HIỂU VỀ HIV - Pdf 18

30 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TÌM HIỂU VỀ HIV/AIDS
1. Bạn hãy cho biết, kết qủa xét nghiệm HIV(+) được thông báo cho đối tượng nào sau đây:
A.Trưởng khu hành chính của người được xét nghiệm.
B. Người được xét nghiệm.
C. Cán bộ Thông tin- văn hoá xã.
D. Cả 3 đáp án trrên đều đúng.
Đáp án: B.
Khoản 1 điều 30 Luật phòng, chống Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người quy định:
1. Kết quả xét nghiệm HIV dương tính chỉ được thông báo cho các đối tượng sau:
a. Người được xét nghiệm;
b. Vợ hoặc chồng của người được xét nghiệm, cha, mẹ, hoặc người giám hộ của người được xét nghiệm là
người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự.
c. Nhân viên được giao nhiệm vụ trực tiếp tư vấn, thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính cho người
được xét nghiệm.
d. Người có trách nhiệm chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV tại các CSYT, bao gồm trưởng khoa, trưởng
phòng nơi người nhiễm HIV điều trị, nhân viên y tế được giao trách nhiệm trực tiếp điều trị, chăm sóc cho người
nhiễm HIV tại CSYT.
e. Người đứng đầu, CB phụ trách y tế, nhân viên y tế được giao nhiệm vụ trực tiếp CSSK cho người nhiễm HIV
tại cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam.
f. Người đứng đầu và cán bộ, công chức được giao trách nhiệm của các cơ quanquy định tại khoản 1 Điều 28
của Luật này.
2. Bạn hãy cho biết, ưu tiên tiếp cận thông tin, giáo dục truyền thông về phòng, chống HIV/ AIDS cho đối
tượng nào sau đây?
A. Người nhiễm HIV và gia đình họ.
B. Người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục.
C. Phụ nữ có thai.
D. Cả 3 đáp án trên.
Đáp án: D
3. Bạn hãy cho biết, HIV không lây qua con đường nào sau đây?
A. Đường tình dục.
B. Giao tiếp thông thường ( ôm hôn, bắt tay…).

8. Theo bạn, thời gian dự phòng lây nhiễm HIV tốt nhất là trong thời gian nào?
A. Ngay sau 2-3 giờ đầu.
B. Sau 1 tuần.
C. Sau 10 ngày.
D. Khi xác định rõ nguồn lây nhiễm HIV của người lây nhiễm.
Đáp án: A ( Thời gian điều trị dự phòng tốt nhất là ngay từ những giờ đầu tiên, tức là khoảng 2-3 giờ sau khi
xẩy ra tai nạn, muộn nhất không quá 7 ngày).
9. Bạn hãy cho biết, thời gian điều trị thuốc kháng vi rút HIV ( ARV) cho bệnh nhân AIDS là bao lâu?
A. 1 năm.
B. 3 năm.
C. 5 năm.
D. Suốt đời.
Đáp án: D ( Hiện nay trên thế giới chưa có thuốc điều trị khỏi bệnh AIDS, chỉ có thuốc kháng vi rút HIV, là thuốc
ức chế sự phát triển của vi rút HIV do đó khi bệnh nhân AIDS đã dùng thuốc kháng vi rút HIV thì phải dùng suốt
đời).
10. Bạn hãy cho biết dấu hiệu lâm sàng chính của AIDS?
A. Sút cân trên 10% trọng lượng cơ thể.
B. Sốt kéo dài trên 1 tháng.
C. Ỉa chảy kéo dài trên 1 tháng.
D. Cả 3 đáp án trên.
Đáp án: D.
11. Bạn hãy cho biết, các giai đoạn lây truyền HIV từ mẹ sang con?
A. Khi mang thai.
B. Khi sing con.
C. Khi cho con bú.
D Cả 3 đáp án trên.
Đáp án D.
12. Bạn hãy cho biết Luật phòng, chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải quy định
người nhiễm HIV có những nghĩa vụ nào dưới đây:
A. Thực hiện các biện pháp phòng lây nhiễm HIV sang người khác.

f. Các quyền khác theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
15. Khi bị bơm kim tiêm dính máu đâm vào tay, bạn cần làm gì ngay sau đó?
A. Băng kín vết thương bằng băng vô trùng;
B. Uống ngay kháng sinh và đến cơ sở y tế nơi gần nhất.
C. Nặn máu, rửa tay bằng xà phòng nhiều làn dưới vòi nước chảy rồi đến ngay Trung tâm phòng, chống HIV/
AIDS.
D. Không cần xử trí.
Đáp án: C
16. Bạn hãy cho biết nguyên nhân gây ra HIV/ AIDS là gì?
A. Vi khuẩn.
B. Nấm.
C. Vi rút.
D. Ký sinh trùng
Đáp án: C ( HIV là Vi rút thuộc họ Retroviridae. Chúng có dạng hình cầu, kích thước khoảng 80- 120 nanômet).
17. Theo bạn, loại dịch nào trong cơ thể sau đây có nhiều vi rút HIV?
A. Nước bọt.
B. Nước mắt.
C. Tinh dịch.
D. Mồ hôi.
Đáp án: C ( Trong nước bọt, nước mắt và mồ hôi, nước tiểu cũng có HIV, nhưng với số lượng rất ít, không đủ “
Ngưỡng” nên không đủ khả năng làm lây truyền HIV từ người này sang người kia khi tiếp xúc trực tiếp với các
loại dịch thể này)
18. Bạn hãy cho biết, người nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc vào năm
nào? ở đâu?
A. Năm 1995 tại Thành Phố Vĩnh Yên.
B. Năm 1998 tại Huyện Tam Dương.
C. Năm 1995 tại Thị xã Phúc Yên.
D. Năm 1990 tại Thị xã Phúc Yên.
Đáp án: C ( Hiện nay người này vẫn còn sống)
19. Theo bạn những nhóm người nào sau đây có nhiều nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS?

A. Tại BVĐK tỉnh.
B. Tại BVĐK khu vực.
C. Tại trung tâm phòng, chống HIV/ AIDS của tỉnh.
D. Tại trung tâm y tế dự phòng của tỉnh.
Đáp án: C.
24. Bạn hãy cho biết, Điều mấy trong luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải ở người quy định quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV?
A. Điều 3.
B. Điều 4.
C. Điều 5.
D. Điều 7
Đáp án: B.
25. Bạn hãy cho biết luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở
người có hiệu lực kể từ ngày nào?
A. 01/01/2005.
B. 01/01/2006.
C. 01/01/2007.
D. 10/01/2007.
Đáp án: C.
26. Bạn hãy cho biết, Bộ Luật hình sự quy định người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền
bệnh cho người khác sẽ bị xử lý như thế nào?
A. Phạt tiền từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng.
B. Phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng.
C. Phạt tiền từ 30.000.000 đến 50.000.000 đồng
D. Phạt tù từ 1- 3 năm.
Đáp án: D ( Điều 117).
Điều 117. Tội lây truyền HIV cho người khác:
1. Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác, thì bị phạt tù từ một đến
3 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm:

A. Ho, hắt hơi, dùng chung bơm kim tiêm.
B. Bắt tay người nhiễm HIV, quan hệ tình dục.
C. Dùng chung nhà vệ sinh, truyền máu.
D. Mẹ truyền sang con, truyền máu, quan hệ tình dục.
2/ Chúng ta nên đối xử với người nhiễm HIV như thế nào?
A. Xa lánh B. Sợ hãi
C. Ghét bỏ D. Gần gũi để động viên, giúp đỡ.
Câu số 1:
Người có HIV là một người không còn giá trị gì?
1.
Đúng
2.
Không đúng, người có HIV vẫn là người có ích
3.
Không biết
Câu số 2:
Hiện nay chưa có thuốc điều trị HIV nên một người nhiễm HIV có nghĩa là
hết?
1.
Đúng, nhiễm HIV là chết
2.
Không đúng, một người nhiễm HIV vẫn có thể sống bình thường trong một thời gian dài
3.
Không biết
Câu số 3:
Có thể xác định một người có HIV bằng cách nào dưới đây?
1.
Nhìn là biết người có HIV
2.
Đi khám bệnh

Mỗi lần quan hệ tình dục không an toàn sẽ có xác suất 50/50 có thể nhiễm HIV
3.
Không biết
Câu số 6:
HIV lây truyền qua những hành vi nào dưới
đây?
1.
Sử dụng chung đồ ăn
2.
Sử dụng chung nhà tắm, bồn tắm
3.
Sử dụng chung bơm kim tiêm
4.
Quan hệ tình dục không dùng bao cao su
5.
Sử dụng chung dao cao râu
6.
Bơi chung bể bơi, dùng chung bồn tắm
7.
Sử dụng chung dụng cụ phẫu thuật
8.
Không biết
Câu số 7:
Những ai là người có khả năng nhiễm HIV?
1.
Người làm nghề mại dâm
2.
Người tiêm chích ma túy
3.
Người hít heroin

Câu số 10:
HIV là gì?
1.
Là tên viết tắt của vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
2.
Là hội chứng suy giảm miễn dịch ở người
3.
Không biết
Câu số 1:
Quan hệ tình dục đường hậu môn có khả năng lây nhiễm HIV ít hơn quan hệ
tình dục đường âm đạo, Đúng hay sai?
1.
Đúng
2.
Sai
3.
Không biết
Câu số 2:
Cho người khác quan hệ đường miệng (thổi) không có khả năng lây nhiễm
HIV?
1.
Đúng
2.
Sai, vi rút vẫn có thể xâm nhập qua những tổn thương trên niêm mạc ở lỗ miệng sáo và trên da dương vật
3.
Không biết
Câu số 3:
Dùng miệng để quan hệ tình dục với người khác
không có nguy cơ nhiễm HIV?
1.

đối tượng tình dục là ai
3.
Cả hai đối tượng này đều là đối tượng có nguy cơ cao
4.
Không biết
Câu số 7:
Khả năng lây nhiễm HIV có thể tăng
lên nếu một người:
1.
Có nhiều bạn tình và không sử dụng bao cao su khi quan hệ
2.
Sử dụng chất gây nghiện
3.
Sử dụng chất kích thích rượu bia
4.
Buồn chán, ức chế
5.
Quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su
6.
Không biết
Câu số 8:
Sử dụng chất bôi trơn sẽ:
1.
Giảm nguy cơ lây nhiễm HIV do hạn chế tổn thương khi quan hệ tình dục
2.
Chất bôi trơn nhớt và khó chịu, chả có ích gì
3.
Không biết
Câu số 9:
Sử dụng bao cao su sẽ:

lây nhiễm HIV/AIDS qua đường tình dục, bảo vệ SKSS.<br />Trong giáo dục giới tính cho lứa tuổi
thanh thiếu niên, vai trò của gia đình và nhà trường cực kỳ quan trọng. Thời gian qua Tổ chức cứu trợ
Anh đã tài trợ cho Viện chiến lược và Chương trình giáo dục - Bộ giáo dục và đào tạo tiến hành Dự
án “Can thiệp và quản lý HIV/AIDS tập trung vào trẻ em” tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng.
Thực tế cho thấy HIV/AIDS là vấn đề của trẻ em, liên quan trực tiếp đến cuộc sống của các em, do
vậy có thể tăng cường các biện pháp bảo vệ trẻ em thông qua lồng ghép quyền trẻ em, giới và
HIV/AIDS. Trẻ em cần được nâng cao khả năng, kiến thức, kỹ năng và dễ dàng tiếp cận các dịch vụ
để biết cách tự bảo vệ khỏi lây nhiễm HIV/AIDS và các ảnh hưởng của đại dịch. Các thử nghiệm của
quá trình lồng ghép giáo dục giới tính với phòng chống HIV/AIDS đã được hướng vào 3 nhóm tuổi:
Nhóm học sinh tiểu học (từ 6-11 tuổi) tập trung chủ yếu vào các nội dung về quyền trẻ em và các
nguyên tắc cơ bản về an toàn thân thể; Nhóm học sinh trung học cơ sở (từ 12-15 tuổi) giới thiệu về
các khái niệm liên quan đến tình dục, phát triển thể chất, HIV/AIDS và quyền trẻ em; Nhóm học sinh
phổ thông trung học (từ 16-18 tuổi) với nội dung về tình dục và các mối quan hệ, quyền trẻ em và tình
dục an toàn. Kết quả dự án đã giúp cho các chuyên gia giáo dục xây dựng bộ tài liệu về “Giáo dục
giới tính cho học sinh tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông trung học qua các hoạt động ngoại
khóa”. Việc giáo dục giới tính cho học sinh thực sự là một biện pháp hữu hiệu hạn chế nguy cơ lây
nhiễm HIV/AIDS trong giới trẻ hiện nay
Theo thống kê của Ủy ban dân số quốc gia, Việt Nam là một nước có dân số trẻ hiện có trên 84 triệu người, trong
đó: Số người có độ tuổi từ 10 đến 29 chiếm 40,2% . Ở đất nước đang phát triển như Việt Nam, thì lực lượng thanh
thiếu niên là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước trong tương lai. Trong gia đình, thanh thiếu niên có vai trò quan
trọng, họ là “người kiến tạo nên sự bền vững của mỗi tế bào của xã hội” và dần thay thế cho bố, mẹ để đảm bảo
đời sống và sự tồn tại của mỗi gia đình
Ngày nay, do ảnh hưởng bởi nguồn dinh dưỡng tốt, môi trường thuận lợi để phát triển về thể chất và tinh thần và
được tiếp xúc với cuộc sống hiện đại, nên tuổi vị thành niên kéo dài hơn trước đây, tuổi dậy thì đến sớm hơn, nhưng
tuổi dựng vợ, gả chống thì lại muộn hơn, trễ hơn do đó có một thời gian dài trong khi các bạn nam, nữ đã có khả
năng sinh sản, có nhu cầu tình dục, nhưng vẫn chưa kết hôn, vì vậy số thanh thiếu niên có quan hệ tình dục trước
hôn nhân ngày càng trở nên phổ biến.
Viện khoa học dân số, gia đình trẻ em đã khảo sát, đánh giá kết quả giáo dục SKSS cho học sinh THPT, với 3402
em tham gia trả lời các câu hỏi về giới tính, tình dục, tình bạn, tình yêu, phòng tránh thai, phòng tránh bệnh lây
nhiễm qua đường tình dục thì.

tính hay SKSS lại là chuyện khó khăn. Thiết nghĩ, cần có nhiều hơn những quyển sách về giới tính để giúp cha mẹ
có thể giáo dục cho con em, còn bản thân giới trẻ có thể tự học học và định hướng hành vi.
5 Hiện nay, trên mạng điện thoại di động đang có nhiều dịch vụ “giáo dục giứoi tính và SKSS”. Việc giáo dục giưói
tính trên điện thoại di động khắc phục được yếu tố ngại ngần khi đề cập đến chuyện thầm kín. Tuy nhiên, nó cũng
có mặt tiêu cực là những thông tin mang tính giáo dục này được các nhà cung cấp dịch vụ đưa ra nhằm mục đích
câu khách với những câu hỏi và lời giải đáp chẳng dựa trên cơ sở khoa học nào. Những thông tin kiểu này đã gây
nhiều sự tò mò và phản ứng không tốt đối với trẻ vị thành niên bởi ranh giới giữa tư vấn SKSS và kích dục là mong
manh.
6 Tin nhắn tư vấn tình cảm và giáo dục giới tính là dịch vụ viễn thông gia tăng, Vụ viễn thông thuộc Bộ BCVT cấp
phép, nhưng việc quản lý nội dung thuộc về Bộ VHTT-TT-DL. Vậy ai là cơ quan quản lý?
7 Những sáng kiến trên đã được áp dụng tại Trung Quốc, một đất nước khá giống Việt Nam về tập quán, văn hóa.
Nên chăng chúng ta cần có những quán café hay công viên dành cho người lớn?
Phương pháp tuyên truyền.:
1. Nội dung tuyên truyền :
- Nguyên nhân dẫn đến sai lầm.
- Tình huống sai lầm.
- Suy nghĩ , tư tưởng lệc lạc.
- Hậu quả
- Cách để ngăn chặn, kịp thời sủa đổi sai lầm.
- Học cách yêu quý bản thân, thấy được tầm quan trọng trong suy nghĩ và tâm tư tuổi mới lớn định hướng cho họ
bít những vấn đề (dúng sai)mà họ gặp phải và cách giải quyết tình huống ấy như thế nào để không xảy ra những
hậu quả đáng tiếc.
Tuyên truyền cho tre kỹ năng sống Theo định nghĩa của WHO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm
lý xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn
đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông,
tư duy bình luận phê phán, ra quyết định, giao tiếp hiệu quả và thương thuyết.
Không áp đặt cấm đoán, vì khuynh hướng càng cấm thì họ càng tò mò, muốn tự tìm hiểu…Thay vì vậy hãy chỉ cho
họ cái đúng, cái sai….
Để tuyên truyền tốt thì nên học cách lắng nghe tốt, đối với người lớn phải dành thời gían quan tâm nhiều hơn đến
tuổi vị thành niên, nhất là trẻ đang ở tuổi dậy thì. Và phải cân nhắc trong hành động, đôi khi ở một khía cạnh nào

viên rộng, nếu muốn tổ chức các hoạt động văn nghệ lớn một chút cũng phải chạy đi mượn địa điểm thì làm sao mà
mời các chuyên gia tư vấn tâm lý về nói chuyện được. Chúng em muốn biết thì phải tìm sách mà đọc hoặc hỏi bạn
bè, xem phim thôi”.
Ví dụ: Ở tiểu học, nội dung này được lồng ghép vào môn khoa học, lên cấp hai, nội dung này có ở môn Sinh học lớp
8, cấp ba cài vào môn Giáo dục công dân, môn Địa lý. Lên đại học có rải rác ở các môn: Kinh tế chính trị, Địa lý,
Tâm lý và tên gọi không phải là SKSS mà là dân số. Lồng ghép như vậy dẫn đến thực trạng là môn nào giảng thì
nội dung này sẽ được viết và dạy theo cách của môn học đó. Ví dụ, ở môn Địa lý sẽ chú trọng vào vấn đề dân số và
sự khác biệt về địa lý, môn Kinh tế chính trị nhấn mạnh vào việc di cư, nhập cư và những ảnh hưởng của nó đến
dân số… Không có một môn học riêng biệt, độc lập nên không có sự toàn diện, có tính hệ thống. Cũng vì lý do này
mà giáo viên kinh tế chính trị cũng phải dạy về sức khỏe sinh sản, giáo viên địa lý cũng phải dạy về SKSS.
Quỹ Dân số thế giới trước khi thực hiện các dự án đều khảo sát và điều tra tình hình giáo dục SKSS tại các trường
phổ thông. Kết quả khảo sát đã phát hiện nhiều câu chuyện "cười như mếu": Một cô giáo dạy giáo dục công dân khi
dạy về SKSS, phải nhận những câu hỏi đại loại: “Thưa cô, sử dụng bao cao su như thế nào” hay là “Tính vòng kinh
ra sao?”…
Thực tế, vẫn chưa có giáo viên có thể đứng lớp với tư cách một chuyên gia về lĩnh vực này để giải đáp những thắc
mắc cho học sinh. Các trường khắc phục thiếu sót này bằng việc mời chuyên gia uy tín về nói chuyện để “mở
mang” cho các em. Đây được xem là biện pháp tích cực nhưng không phải trường nào cũng làm được và làm đều
đặn. Nhân dịp kỷ niệm Ngày Dân số thế giới, Ngày Thế giới phòng chống HIV/AIDS… các trường mời chuyên gia,
trung tâm y tế dự phòng hoặc trung tâm phòng chống AIDS đến nói chuyện cho vài trăm học sinh một khối lớp.
Tuy nhiên, biện pháp tích cực này vẫn bị hạn chế, một phần vì sự “rào trước, đón sau” của chính các thầy cô.
TS Đinh Đoàn sau một số lần được các trường phổ thông mời về nói chuyện với học sinh về vấn đề SKSS đã chia
sẻ: “Khi xuống các trường nói chuyện về chủ đề “Tình bạn – Tình yêu – Sức khỏe sinh sản”, tôi vẫn thường được
nhắc nhở rằng: Đừng nói chuyện tình dục với các em, chỉ nên khuyên bảo các em cố gắng học, học, học!”.
Bài học giới tính dành cho học sinh hiện nay chưa lớn kịp sự trưởng thành của thanh thiếu niên. Và vì lẽ đó, theo ý
kiến nhiều chuyên gia, nên chăng các trường cần thay đổi quan điểm về việc đưa tài liệu cũng như phương pháp
giảng dạy các kiến thức về SKSS cho học sinh .
Ngày 8-11, tại Hà Nội, Bộ Y tế Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) đã khởi động dự án phòng chống HIV/AIDS ở
Việt Nam từ năm 2005 đến 2011, tổng kinh phí 35 triệu USD do WB hỗ trợ.
Đây là lần đầu tiên WB hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực này. Đại diện WB tại Việt Nam cho biết mục tiêu của dự án
nhằm hỗ trợ Chiến lược phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020.

rằng mình hiểu nhiều về HIV, nhưng thực sự khi tham gia buổi truyền thông này em mới thấy mình biết chưa
nhiều. Từ nay, em đã có được nhiều kiến thức về HIV/AIDS để bảo vệ bản thân và tuyên truyền cho người thân,
bạn bè”.
Theo bà Nguyễn Thị Sen, Trưởng phòng Truyền thông Chi cục DS-KHHGĐ, Thư ký dự án phòng chống HIV/AIDS
trong thanh niên: Đây là một trong những hoạt động của dự án phòng chống HIV/AIDS trong thanh niên tỉnh năm
2009. Dự án được triển khai giai đoạn 2008-2010, do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ, tập trung vào 4
hoạt động chủ yếu: vận động phòng chống HIV/AIDS, truyền thông đại chúng và sản xuất các tài liệu truyền thông
trực tiếp, phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng, quản lý - giám sát - đánh giá và nâng cao năng lực.
Riêng tại Bình Dương, dự án triển khai tại 2 huyện Dĩ An và Thuận An. Dự án đẩy mạnh các hoạt động truyền thông
đại chúng, nhằm tăng cường sự nhận thức và ủng hộ phòng chống HIV/AIDS thông qua các chương trình phát
thanh truyền hình, các tài liệu truyền thông trực tiếp. Dự án còn đào tạo và tập huấn cho các giáo dục viên, giáo
dục viên đồng đẳng tại cộng đồng, cho cán bộ đoàn khu ấp ở các địa bàn triển khai dự án.
Từ tháng 6 đến tháng 9, dự án đã mở được 29 lớp tập huấn cho các đối tượng: cộng tác viên, Đoàn thanh niên, HS-
SV, giáo viên THPT và dạy nghề, thanh niên đường phố, thanh niên khu công nghiệp, nhân viên dịch vụ giải trí -
nhà hàng khách sạn - karaoke, thanh niên nghiện chích ma túy; 3 buổi truyền thông cho công nhân ở Khu công
nghiệp Sóng Thần 1, Việt Hương và học sinh trường Trung cấp Nghề Dĩ An. Bà Sen còn nói: “Qua các lớp tập huấn,
truyền thông đã giúp các đối tượng nêu trên có thêm kiến thức, kỹ năng, có thể tham gia làm giáo dục viên, giáo
dục viên đồng đẳng.
Theo kế hoạch, dự án sẽ chọn ra 60 giáo dục viên và 20 giáo dục viên đồng đẳng cùng chúng tôi tham gia truyền
thông về HIV/AIDS trong thời gian tới. Họ sẽ được hỗ trợ kinh phí, cấp các phương tiện như túi xách, áo mưa, tranh
lật, tài liệu tuyên truyền cho đối tượng có nguy cơ cao, cấp bơm tiêm và bao cao su miễn phí, thời gian thực hiện từ
nay đến năm 2011”.
Hiện nay, Bình Dương có 100% huyện, thị có người nhiễm HIV, trong đó có 81/89 xã, phường, thị trấn có người
nhiễm, tập trung nhiều ở TX.TDM, Thuận An, Dĩ An. Mỗi năm, tỉnh có 200 - 300 ca nhiễm mới. Qua giám sát, tỷ lệ
nhiễm HIV trên đối tượng ma túy giảm, mại dâm tăng, 0,8% thanh niên khám nghĩa vụ quân sự nhiễm HIV, phụ nữ
có thai là 0,26 - 0,47% nhiễm HIV.
HỒNG THÁI
seudaudo
01-12-09, 07:32 AM
Theo ước tính của UNAIDS (Chương trình Liên hợp quốc về phòng, chống HIV/AIDS), hiện nay trên thế giới có hơn

lây nhiễm HIV cho tất cả mọi người, không phân biệt giới tính, địa vị xã hội, dân tộc, tôn giáo Một trong những
hoạt động tiêu biểu hưởng ứng Tháng hành động là tổ chức mít tinh và diễu hành đồng loạt ở các địa phương vào
cùng một thời điểm là 7 giờ 30 phút chủ nhật, ngày 29-11-2009. Hoạt động này nhằm tạo ra phong trào quần
chúng sâu rộng, thể hiện sự đồng tâm hiệp lực của cả hệ thống chính trị và của toàn dân tham gia phòng, chống
HIV/AIDS.
Đại dịch HIV/AIDS tuy nguy hiểm nhưng chúng ta hoàn toàn có thể chủ động phòng tránh. Hiện nay, Bộ Y tế có tổ
chức các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS thiết thực như: Giới thiệu và quảng bá rộng rãi các cơ sở cung cấp dịch
vụ dự phòng, chăm sóc, điều trị HIV/AIDS sẵn có để mọi người dân, nhất là người nhiễm HIV/AIDS dễ dàng tiếp
cận và sử dụng. Tăng cường cung cấp dịch vụ y tế, dịch vụ xã hội, chăm sóc sức khỏe, tư vấn và các phương tiện
dự phòng lây nhiễm HIV như bao cao su, bơm kim tiêm sạch cho các đối tượng có nhu cầu. Vận động các tổ chức,
cá nhân tham gia ủng hộ và chăm sóc người nhiễm HIV; vận động người nhiễm HIV và gia đình tích cực tham gia
các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS. Bên cạnh đó, các địa phương đã và đang tổ chức nhiều hoạt động truyền
thông như: Phổ biến Luật Phòng, chống HIV/AIDS; nói chuyện sức khỏe với cá nhân, với nhóm, thăm gia đình, tổ
chức sinh hoạt của các câu lạc bộ phòng, chống HIV/AIDS, các nhóm giáo dục đồng đẳng…
Với quân đội, mắt xích quan trọng của hệ thống chính trị, ở đây có một số lượng khá đông cán bộ, chiến sĩ trẻ. Mặc
dù đã được tuyển chọn kỹ lưỡng trước khi nhập ngũ và hoạt động trong môi trường kỷ luật cao, nhưng vẫn không
tránh khỏi sự đe dọa của đại dịch. Để bảo đảm 100% quân số khỏe, không mắc HIV, các đơn vị trong toàn quân,
mà cơ quan quân y các đơn vị phải là đầu mối triển khai hoạt động truyền thông đến tất cả cán bộ, chiến sĩ trong
đơn vị mình nhằm nâng cao nhận thức về HIV/AIDS và biện pháp dự phòng bệnh thế kỉ.
Bác sĩ QUỐC TUẤN
Để vị thành niên tự phòng tránh HIV/AIDS
Cập nhật ngày: 22/08/2005
Ở Việt Nam, hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục của vị thành niên, thanh niên chưa cao, do vậy các
em chưa có kỹ năng về an toàn tình dục để bảo vệ mình tránh lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, nhất là
HIV/AIDS.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), lứa tuổi từ 10 đến 19 là vị thành niên (VTN), thanh niên (TN) trẻ tuổi từ 19 đến 24. Chương
trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục VTN – TN của khối Cộng đồng chung Châu Âu (EU) và Qũy Dân số Liên hiệp
quốc (UNFPA) coi độ tuổi này từ 15 đến 24. Ở Việt Nam, VTN từ 10 đến 16 tuổi, TN từ 16 đến 24 tuổi. Độ tuổi VTN có nhiều thay
đổi về mặt sinh lý học và tâm lý học. Cơ thể lớn nhanh, các cơ quan sinh dục phát triển, tâm lý, nhận thức thay đổi, đặc biệt là
xung động tình dục phát triển mạnh. Các em thường đặt nhiều câu hỏi để khám phá thế giới của người lớn theo cách riêng của

Tuy vậy, truyền tải vấn đề nhạy cảm này bằng cách nào, phương pháp nào hiệu quả nhất vẫn đang là
câu hỏi lớn cho ngành giáo dục. Bằng chứng là, không ít giáo viên còn đỏ bừng mặt khi nói về vấn đề
giới tính cho học sinh tại các buổi giảng, còn học sinh ở dưới thì cứ khúc khích cười
Những quan điểm trái ngược
Hiểu một cách đầy đủ, vấn đề giáo dục giới tính bao gồm rất nhiều nội dung, như sức khỏe sinh sản,
các mối quan hệ cá nhân, sự phát triển giới tính, tình cảm, ngoại hình Để có được những kết quả khả
quan, các chương trình giáo dục giới tính phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, diễn ra trong quá trình lâu
dài và đây vẫn là vấn đề rất nhạy cảm, tồn tại những quan điểm khác, trái ngược nhau.
Một số ý kiến thậm chí là chính những giáo viên trực tiếp giảng dạy các tiết học giáo dục giới tính cho
rằng, nếu cung cấp cho học sinh những thông tin và giúp chúng phòng ngừa thai cũng như các bệnh lây
truyền qua đường tình dục sẽ đẩy các học trò này vào hoạt động tình dục sớm và bừa bãi. Nhiều ý kiến
khác "tẩy chay" việc đưa giáo dục giới tính vào học đường, nhất là các học sinh có độ tuổi từ 12 đến
16. Họ cho rằng, các em vẫn còn quá nhỏ, chưa đủ nhận thức để hiểu được vấn đề một cách thấu đáo,
thậm chí còn cho giáo dục giới tính là "con dao 2 lưỡi", "vẽ đường cho hươu chạy"
Không đồng tình với những quan điểm trên, TS. Nguyễn Thị Lâm - Viện phó Viện Dinh dưỡng Việt
Nam phân tích: "Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng các mặt của đời sống xã hội đã ảnh hưởng, làm
thay đổi một số quan điểm truyền thống. Nếu như trước đây, học sinh lớp 6 được coi là "quá bé", "chưa
biết gì" và chưa thể nhồi nhét những kiến thức về giới tính thì những năm trở lại đây, với sự phát triển
một cách ồ ạt các hệ thống truyền tải thông tin, như đài, báo, tivi, internet, phim ảnh, chế độ dinh
dưỡng được cải thiện đã làm ảnh hưởng đến những quan điểm cũng như sự trưởng thành sớm của các
em học sinh".
Bên cạnh đó, để chứng minh tác dụng của việc đưa giáo dục giới tính vào học đường vừa qua, Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) đã tiến hành khảo sát gần 20 chương trình giáo dục giới tính ở trường học của
nhiều quốc gia trên Thế giới và đã cho thấy các dấu hiệu rất khả quan. Tỷ lệ trẻ vị thành niên hoạt động
tình dục muộn hơn. Nội dung của chương trình hoàn toàn không thúc đẩy những học sinh này hoạt
động tình dục sớm.
WHO cũng khuyến cáo, các chương trình giáo dục giới tính nên tiến hành khi các trẻ chưa bước vào độ
tuổi hoạt động tình dục. Với hướng đi này sẽ giúp trẻ không hoạt động tình dục sớm và trang bị được
nhiều kiến thức tình dục an toàn, giảm thiểu tối đa tình trạng có thai ngoài ý muốn, hoang thai
Tiến sỹ y học Nguyễn Thu Hà còn có những đánh giá khả quan hơn khi cho rằng, giáo dục giới tính

hưởng đến kết quả, mức độ nhận thức của các em học sinh về vấn đề giới tính.
Theo quan điểm của bà Liên: "Điều quan trọng là việc các giáo viên có thu hút được sự quan tâm của
các em hay không, có gây được những hứng thú, tích cực tham gia của các em hay không". Và để làm
tốt được điều này, các trường đã có sự điều chỉnh về phương pháp giảng dạy, phương pháp tổ chức. Bà
Liên dẫn chứng: "Rất nhiều học sinh tỏ ra thích thú với việc nhập, sắm vai vào các nhân vật - một trong
những nội dung giảng dạy của chương trình giáo dục giới tính". Qua hoạt động sắm, nhập vai các giáo
viên sẽ có cơ hội quan sát, nắm bắt được tâm tư, tình cảm, phản ứng của các học sinh với vấn đề giới
tính, qua đó giáo viên sẽ có những sự điều chỉnh, uốn nắn cho phù hợp.
Mặc dù đã có những dấu hiệu khả quan, nhưng trên thực tế, khi chương trình giảng dạy về giáo dục
giới tính cho học sinh được triển khai, trong 4 năm đầu, mới chỉ vẻn vẹn có 3 quận của Hà Nội áo
dụng. Vậy nguyên nhân do đâu? Bà Liên lý giải: "Đầu tiên phải kể tới vấn đề kinh phí hoạt động, như
việc tổ chức cho hoạt động nhóm, giáo viên phải mua sắm các thiết bị, giấy tờ, sổ sách. Hoặc, để công
tác giáo dục đạt chất lượng, các trường còn tổ chức các cuộc thi hiểu biết về giới tính nhưng chưa biết
lấy kinh phí ở đâu".
Bên cạnh đó, những trường học chưa có, thiếu địa điểm cũng rất khó tổ chức các buổi giảng ngoại
khóa. Để tháo gỡ, nhiều lớp học sinh được tổ chức vào các ngày nghỉ, cuối tuần và giải pháp này đã
gặp phải những phản ứng không ủng hộ từ phía phụ huynh học sinh, nhiều gia đình không cho con em
mình tham gia.
Với những khó khăn do xuất hiện những quan điểm khác nhau, trái ngược nhau về giáo dục giới tính và
với tình trạng xâm phạm tình dục ngày một gia tăng cùng với nó là tỷ lệ nạo phá thai ở giới trẻ đang rơi
vào tình trạng báo động. Bên cạnh đó, sự phát triển với tốc độ chóng mặt của nên kinh tế thị trường
cùng với những mặt trái của nó đã đặt giới trẻ, nhất là độ tuổi vị thành niên đứng trước những thử thách
vô cùng lớn. Vậy để tháo gỡ vấn đề, còn gì tốt hơn là trang bị cho học sinh những thông tin, kiến thức,
kỹ năng và phương tiện để đưa ra được những quyết định, quan điểm đúng đắn về giới tính, góp phần
hạn chế tối đa những hậu quả đáng tiếc do thiếu hiểu biết.
Nên chăng, đã đến lúc đưa vấn đề giáo dục giới tính trở thành một bộ môn chính khóa trong nhà
trường?
Gần đây, tình trạng tội phạm vị thành niên, nhất là các thế hệ 9x ngày
càng gia tăng, đặc biệt loại tội xâm phạm tình dục. Bên cạnh đó, là
hiện tượng yêu sớm, quan hệ tình dục sớm, gia tăng tỷ lệ nạo phá thai


Giáo dục đạo đức cho học
sinh, sinh viên là quan
trọng bên cạnh việc dạy
kiến thức, dạy nghề
theo lối sống thực dụng; 31,2% cho rằng sinh viên hiện nay chưa có khát vọng cao về lập thân, lập nghiệp vì
tương lai; 21,8% cho là sinh viên có biểu hiện mờ nhạt về hoài bão và lý tưởng…
Theo báo cáo của TS.Phạm Thị Kim Anh (Đại học Sư phạm Hà Nội) cho thấy: năm 2007, cuộc điều tra
khảo sát tại 30 trường ĐH-CĐ trong cả nước của Vụ Văn hóa (Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương) phối hợp
với Vụ Công tác HS-SV (Bộ Giáo dục Đào tạo) nói lên con số đáng lo ngại 51,4% sinh viên cho rằng “sống thử
trước hôn nhân là hiện tượng khá phổ biến”.
* Giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên: cần sự liên kết gia đình – nhà trường – xã hội
Để đi tìm giải pháp các chuyên gia, nhà khoa học tâm lý, giáo dục cùng nhau phân tích nguyên nhân của
thực trạng trên. Theo TS.Phạm Thị Kim Anh (Đại học Sư phạm Hà Nội) đã nêu lên 3 nguyên nhân chủ yếu: Thứ
nhất là sự buông lỏng trong việc quản lý giáo dục con cái của gia đình. Nhiều bậc cha mẹ sau thời gian đi làm
về, muốn rảnh nợ đã mở ti vi hoặc trò chơi trên máy vi tính cho con. Cứ như thế những đứa trẻ ngày càng tách
khỏi thế giới thực và bị cuốn hút bởi những trò chơi bạo lực li kì, hấp dẫn mà quên đi nhiệm vụ học tập, giúp đỡ
gia đình. Nhiều gia đình cả cha lẫn mẹ đều nặng về mưu sinh, không có thời gian quản lý dạy dỗ con cái đành
giao trách nhiệm cho ông bà hoặc phó thác cho nhà trường; Thứ hai, việc giáo dục đạo đức trong nhà trường từ
bậc phổ thông đến đại học còn nhiều bất ổn. Các chương trình giáo dục đạo đức còn nặng về lý thuyết, nhẹ
giáo dục kĩ năng sống, không tạo được dấu ấn và điều kiện thuận lợi để hình thành nhân cách cho học sinh;
Thứ ba, tác động của nền kinh tế thị trường, sự hội nhập các nền văn hóa và sự hấp dẫn của đời sống đô thị đã
làm cho các giá trị đạo đức truyền thống bị xâm hại và mai một dần.
Đó cũng là 3 nguyên nhân cơ bản nhất được đề cập, phân tích, đánh giá một cách sâu sắc, tỉ mỉ tại buổi
hội thảo.
Phân tích nguyên nhân dẫn đến vi phạm đạo đức của học sinh, sinh viên ở
khía cạnh tâm lý, ThS. Tống Thị Hồng (Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm
Đồng Nai) cho rằng: Về mặt tâm sinh lý cho thấy ở tuổi nhỏ các em không mắc
phải sai lầm nhiều như lứa tuổi Mầm non, Tiểu học, nhưng lớn lên thì do thiếu sự
dìu dắt và quan tâm đúng mức nên các em lại bị lôi cuốn vào những cái mà các

hệ tình dục, qua truyền máu và tiêm chích ma túy. Hiện chưa có thuốc đặc trị.
- Vi-rút HIV là nguyên nhân gây ra bệnh AIDS. Chúng gây nhiễm trên chính bạch cầu lympho T (loại bạch cầu
mạnh nhất trong cơ thể), gây rối loạn chức năng của tế bào này và dẫn tới hội chứng suy giảm miễn dịch (cơ
thể mất khả năng chống lại các vi khuẩn, vi-rút…).
Hiểu rõ căn bệnh AIDS, chúng ta mới thấy tại sao thế giới gọi là “đại dịch” và tầm quan trọng của công việc
tuyên truyền, tự bảo vệ chống lại căn bệnh này.
c. Sơ bộ về căn bệnh AIDS
Chủ đề cuộc thi năm nay được UPU chọn về đại dịch bệnh HIV/AIDS. Đây là một căn bệnh hiểm nghèo đã
được thế giới phát hiện ra cách đây gần 30 năm, phát triển và lây lan nhanh chóng trên toàn cầu. Trên thế giới
có khoảng 33 triệu người sống chung với HIV/AIDS. Hàng ngày, có 7400 trường hợp mới phơi nhiễm bệnh. Cho
tới nay, vẫn chưa tìm ra vắc xin phòng chống căn bệnh này.
Hưởng ứng chiến dịch phòng chống HIV toàn cầu, Liên minh Bưu chính thế giới – UPU đã phối hợp với
Chương trình về HIV/AIDS của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Công Đoàn Thế
giới chọn chủ đề HIV/AIDS cho cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 39 và phát động phong trào hưởng ứng
chiến dịch phòng chống HIV tới các bưu cục trên toàn mạng Bưu chính toàn cầu.
d. Tại sao cần hiểu biết về bệnh AIDS và tự bảo vệ mình chống lại căn bệnh này?
Sở dĩ AIDS phát triển với tốc độ khủng khiếp như trên vì thời kỳ nhiễm HIV có thể kéo dài từ 2-10 năm. Trong
thời kỳ này, người vẫn khỏe mạnh bình thường, không có triệu chứng gì rõ rệt, nhưng cũng chính vì vậy mà
khả năng lây nhiễm là rất lớn, do không biết phòng tránh.
Bởi vậy, việc hiểu biết đầy đủ về căn bệnh này từ tác hại đến quá trình phát triển, gây tử vong, thay đổi thái độ
và hành vi, chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là hết sức cần thiết. Việc kết hợp các biện pháp
xã hội và biện pháp chuyên môn kỹ thuật y tế trong phòng chống HIV/AIDS trên nguyên tắc lấy phòng ngừa là
chính, trong đó thông tin giáo dục, truyền thông nhằm thay đổi hành vi là biện pháp chủ yếu.
e. Việc hiểu biết và tự bảo vệ như thế nào?
Cha ông ta đã dạy: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Từ khi trên thế giới và Việt Nam phát hiện ra căn bệnh này,
Chính phủ và các tổ chức xã hội, đoàn thể đã có nhiều chương trình, hoạt động tuyên truyền để mỗi người dân,
thành viên trong cộng đồng hiểu rõ căn bệnh HIV/AIDS.
Đối với tuổi học trò, căn bệnh HIV/AIDS thực sự trở thành nguy cơ, mối lo lắng với mỗi gia đình, nhà trường và
xã hội. Nguyên nhân: Do chủ quan, nhiều bạn học sinh ban đầu bị rủ rê, lôi kéo “thử” cho biết; một số bạn chạy
theo lối sống hưởng thụ, ăn chơi, đua đòi… bởi vậy mà sa ngã vào tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục bừa

Ngày 5 tháng 6 năm 1981, ca đầu tiên về bệnh suy miễn dịch bất bình thường có thể gây tử vong được phát
hiện ở một người nam đồng tính luyến ái và người nghiện dùng chung kim chích tại California, Hoa Kỳ.
Năm 1982, danh từ AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) được đặt tên cho bệnh suy miễn dịch này.
Trước đó bệnh có tên là GRID (Gay Related Immune Deficiency)
Năm 1983, siêu vi gây bệnh HIV (Human Immunodeficiency Virus) được tìm ra.
Cũng trong thời gian này, dịch bệnh HIV/AIDS ở người hoạt động tình dục dị tính xuất hiện ở châu Phi.
1985: Thử nghiệm đầu tiên để tìm kháng thể HIV được áp dụng.
Tài tử Rock Hudson tiết lộ đang bị AIDS.
1986: Có hơn 38.000 trường hợp AIDS trên 85 quốc gia trên thế giới.
Hệ thống toàn cầu người nhiễm HIV/AIDS được thành lập
1987: Tổ Chức Y tế Thế giới phát động Chương Trình Toàn cầu Chống nhiễm HIV/AIDS.
1988: Thuốc trị bệnh AIDS đầu tiên zidovudine(AZT) được dùng ở Hoa Kỳ.
1990: Trên toàn thế giới có khoảng 8 triệu người sống với HIV
1994: Các nhà khoa học khai triển phác đồ trị liệu để giảm lây lan HIV từ mẹ sang con.
1996: Thuốc trị bệnh HIV/AIDS rất công hiệu (Active Antiretroviral Treatment) được sản xuất và được sử dụng
tại một số quốc gia đang phát triển.
1997: Có khoảng 30 triệu người sống với HIV trên thế giới.
Brazil là quốc gia đang phát triển đầu tiên trên thế giới cung cấp thuốc trị HIV/AIDS miễn phí cho bệnh nhân qua
hệ thống y tế quốc gia.
2001: Nguyên thủ các quốc gia đặt kế hoạch lâu dài để đối phó với HIV/AIDS
2003: WHO và UNAIDS đặt kế hoạch phát thuốc chữa HIV cho 3 triệu người khó khăn kinh tế trên thế giới từ
năm 2003 tới năm 2005.
2004: Hoa kỳ khởi sự chương trình PEPFAR để chống bệnh AIDS trên thế giới.
Hiện trạng
Hiện nay, trên toàn thế giới có khoảng 38.6 triệu người sống với HIV/AIDS, riêng khu vực Cận Sahara ở châu
Phi có 25 triệu.
Trong năm 2006 có 4.3 triệu bệnh nhân mới và khoảng 2.9 triệu trường hợp tử vong mà gần ¾ ở châu Phi.
Kể từ khi ca bệnh đầu tiên được xác định vào năm 1981, số tử vong vì bệnh lên tới trên 25 triệu người.
Theo WHO, nếu không có biện pháp ngăn chặn, số tử vong vì AIDS vào năm 2010 sẽ là 45 triệu và tăng gấp đôi
vào năm 2020.

Hầu như mọi người bệnh tại Hoa Kỳ đều được điều trị với thuốc đặc trị ARV do chương trình bảo trợ y tế liên
bang hoặc tiểu bang, bảo hiểm tư nhân đài thọ…nên họ có thể sống lâu hơn và đời sống của họ tương đối cũng
được bảo đảm. Tuy vậy hàng năm cũng có cả ngàn người không nhận được thuốc vì không hội đủ các tiêu
chuẩn được trợ cấp. Trung bình, chi phí thuốc đặc trị cho mỗi bệnh nhân/ năm là 12.000 mỹ kim.
Một điều đáng lưu ý là, ngay tại Hoa Kỳ với phương tiện truyền thông rộng lớn, giáo dục bệnh tật rất phổ biến
mà có tới ¼ những người sống với HIV không biết là họ đang bị nhiễm. Họ sẽ không tìm kiếm điều trị chăm sóc
cho tới khi bệnh trầm trọng, khó chữa và họ cũng không áp dụng các phương pháp phòng chống lây lan bệnh
cho người khác. Do đó, gần đây chính quyền khuyến khích mọi người thử nghiệm HIV để tìm ra người đang bị
nhiễm và giúp họ đừng truyền bệnh cho người khác.
Những yếu tố gây khó khăn cho phòng chống điều trị HIV/AIDS
Năm 1996, Liên Hiệp Quốc coi HIV/AIDS không chỉ là chuyện sức khỏe riêng rẽ nhưng là một vấn đề quan trọng
cho nhân loại mà thế giới phải đương đầu, giải quyết. Họ cam kết sẽ cùng nhau tận lực để loại bỏ dịch bệnh này
vào năm 2015.
Tại hội nghị quốc tế về bệnh AIDS ở thành phố Sydney, Australia, trong tuần lễ vừa qua, các nhà hữu trách có
nhiều kinh nghiệm đã tỏ vẻ bi quan về cuộc chiến chống lại bệnh này.
Thực vậy, mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng các biện pháp đối phó với bệnh cho tới nay vẫn chưa đủ. Chỉ
trong vòng 25 năm, bệnh đã lan truyền từ một số điểm nóng tại vài quốc gia tới hầu như mọi nơi trên thế giới với
65 triệu người bị bệnh và đã gây tử vong cho 25 triệu sinh mạng. Bệnh đã gây rất nhiều trở ngại cho nhiều quốc
gia trong việc giảm thiểu nghèo đói, nâng cao giáo dục, thúc đầy bình đẳng nam nữ, giảm tử vong ở trẻ em và
chấn chỉnh sức khỏe các bà mẹ.
Việc phòng tránh và điều trị HIV/AIDS gặp nhiều khó khăn trở ngại. Sau đây là một số yếu tố chính:
1- Thái độ kỳ thị, đối xử khác biệt với người nhiễm HIV/AIDS
Ngay từ khi được phát hiện, đã nẩy sinh ra một sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV.
Kỳ thị là có thái độ tiêu cực đối với một cá nhân hoặc nhóm người vì bản chất hoặc những đặc điểm của họ.
Chẳng hạn kỳ thị nam nữ vì khác giống với mình, kỳ thị tuổi tác vì già trẻ hơn mình, kỳ thị người khác màu da,
không cùng nghề nghiệp.
Kỳ thị với người bệnh HIV/AIDS có thể là xa lánh, hắt hủi và coi họ là:
- là những thành phần xấu trong xã hội
- là người đã có những hành vi không bình thường
- bệnh của họ là hậu qủa của không đạo đức, trách nhiệm

Nơi đây, các cố gắng đều tập trung ở các dược phẩm giản dị để loại trừ các bệnh bội nhiễm và giảm sự đau
đớn của bệnh nhân.
Một trở ngại nữa trong việc dùng thuốc là, bệnh nhân cần được thử nghiệm máu theo định kỳ để theo dõi kết
quả điều trị. Thử nghiệm này rất tốn kém và cần nhân viên có chuyên môn cao. Ngoài ra, việc đào tạo nhân viên
biết sử dụng thuốc để trị bệnh cũng cần thời gian với nhiều chi phí.
Cho tới tháng 12 năm 2006, có khoảng 7 triệu người nhiễm HIV tại các quốc gia có thu nhập kinh tế trung bình
và thấp cần thuốc ARV để điều trị, vậy mà chỉ có hơn 2 triệu người nhận được thuốc.
Tại hội nghị Sydney, bác sĩ Pedro Cahn, Chủ tịch IAS, tuyên bố: “ Chưa tới 1/3 bệnh nhân HIV tại các quốc gia
có lợi tức thấp được điều trị với thuốc công hiệu và số người tiếp nhận được các phương thức phòng ngừa hữu
hiệu như bao cao su, kim sạch lại càng ít hơn”.
Cơ quan Y Tế Thế giới và nhiều tổ chức thiện nguyện khác đã kêu gọi các công ty dược phẩm giảm giá thuốc
để giúp đỡ cho bệnh nhân tại các quốc gia nghèo khó này. Vì, như Federico Mayor, một giới chức của
UNESCO, đã nói một cách cay đắng “Thực là đáng xấu hổ khi để cho bệnh nhân HIV tại các quốc gia nghèo
khó chết vì họ không được hưởng các phương thức trị liệu hữu hiệu có sẵn cho dân chúng các quốc gia giầu
có”.
3- Mãi dâm
Tại nhiều quốc gia, đặc biệt ở châu Phi và mấy quốc gia ở Đông Nam châu Á, lây nhiễm HIV/AIDS qua sinh
hoạt tình dục không an toàn vẫn là con đường quan trọng.
Người mãi dâm có nhiều rủi ro mắc bệnh và lan truyền bệnh.
- Họ thường tiếp cận với nhiều khách và họ cũng như khách lại ít khi dùng bao cao su bảo vệ, do không có hoặc
không hiểu rõ ích lợi của bao cao su. Nhiều khi khách không chịu dùng vì muốn có cảm giác thực.
- Họ không được pháp luật bảo vệ nên khi bị khách hãm hiếp, lạm dụng, không dám tìm sự bảo vệ của công lý.
- Họ thường bị kỳ thị, đối xử khác biệt, nên không dám tìm kiếm giúp đỡ y tế, do đó dễ dàng nhiễm và truyền
bệnh cho người khác.
- Họ hay dùng thuốc cấm để giải tỏa khó khăn đời sống, nghề nghiệp hoặc bán dâm để lấy tiền mua thuốc.
Dùng chung kim chích rất thường xảy ra và dễ dàng nhiễm, truyền HIV.
Theo WHO, để hoàn thành việc giảm thiểu rủi ro lây lan bệnh, cần phải chấm dứt kỳ thị trừng phạt người mãi
dâm và phải khích lệ họ tham gia vào việc phòng ngừa lây lan và tự bảo vệ, chăm sóc. Họ vẫn còn quyền hạn
công dân nhưng chỉ vì hoàn cảnh phải làm một nghề mà chính họ không muốn.
Chính phủ phải cung cấp cho họ và khách hàng các kiến thức về HIV/AIDS, cách thức phòng tránh; thuyết phục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status