NGHIÊN CỨU
NHỮNG GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN KINH
TẾ HÀNG HÓA
TỈNH QUẢNG NAM
1
NGHIÊN CỨU NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA
Ở TỈNH QUẢNG NAM
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tỉnh Quảng Nam nằm trên trục giao thông Bắc Nam, về ñường bộ có quốc lộ
1A và ñường sắt thống nhất, trong tương lai gần cảng Kỳ Hà xây dựng xong và sân
bay Chu Lai cũng như hình thành khu kinh tế mở Chu Lai ñược ñưa vào khai thác thì
Quảng Nam có nhiều ñiều kiện thuận lợi cho việc phát triển hàng hóa, mở rộng giao
lưu kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Quảng Nam là một tỉnh có tiềm năng, thế mạnh về nông nghiệp, ngoài lợi thế
về ñịa lý ảnh hưởng tích cực ñến phát triển ngành công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp trên ñịa bàn Quảng Nam ñược chia thành nhiều vùng kinh tế cho sự phát triển
kinh tế hàng hóa; vùng thị xã ven biển gồm có thị xã Tam Kỳ, thị xã Hội An; vùng
ñồng bằng ven biển có 4 huyện: Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành;
vùng ñồng bằng, trung du có hai huyện Đại Lộc, Quế Sơn; vùng trung du miền núi có
6 huyện: Hiên, Nam Giang, Tiên Phước, Hiệp Đức, Phước Sơn, Trà My. Với một
tỉnh duyên hải miền Trung có nhiều huyện miền núi và nhiều dân tộc thiểu số sinh
huyện miền núi tỉnh Quảng Nam chậm phát triển, trên cơ sở ñó xác ñịnh phương
hướng và ñề xuất những những giải pháp chủ yếu ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các
huyện miền núi của tỉnh.
b. Nhiệm vụ
- Luận giải có cơ sở khoa học của yêu cầu phát triển kinh tế hàng hóa ở các
huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam trong ñiều kiện kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần vận ñộng theo cơ chế thị trường ñịnh hướng XHCN, mà trước mắt là thực hiện
công nghiệp hóa hiện ñại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn.
- Đánh giá ñúng thực trạng của kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh
Quảng Nam và làm rõ sự hình thành, vận ñộng của kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh
tế hợp tác.
- Xác ñịnh phương hướng và ñề xuất những giải pháp khả thi, sát thực tế
nông thôn miền núi của tỉnh Quảng Nam trong ñiều kiện chuyển sang nền kinh tế thị
trường ñịnh hướng XHCN trong thời kỳ quá ñộ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những phương pháp chung, phổ biến trong nghiên cứu lý luận, nghiên
cứu kinh tế hàng hóa, ñề tài còn coi trọng phương pháp phân tích, thống kê, ñiều tra,
khảo sát thực tế và kế thừa các công trình ñã nghiên cứu có liên quan ñể làm rõ
những vấn ñề mới ñặt ra trong nông nghiệp hàng hóa của cơ chế thị trường.
5. Kết cấu và phân công chuyên ñề nghiên cứu
5.1.Kinh tế hàng hóa và vai trò của nó ñối với việc phát triển kinh tế xã hội
nói chung và ở nông thôn nói miền núi nói riêng.
Ths. Phạm Ngọc Giới
5.2. Thực trạng và phương hướng phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện
miền núi tỉnh Quảng Nam.
Ths. Đặng Văn Chu
5.3. Hoàn thiện công tác quy hoạch ñất ñai, cấp quyền sử dụng ñất ổn ñịnh
ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam.
Ths. Lê Trung Hưng
5.4. Củng cố và ñầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ñể phát triển kinh tế hàng
1.1. Kinh tế hàng hóa và vai trò của nó ñối với việc phát triển kinh tế - xã hội.
Quá trình phát triển của xã hội loại người ñã khẳng ñịnh nơi nào tồn tại
nhiều hình thức sở hữu khác nhau thì ở ñó có sản xuất hàng hóa. Lịch sử sản xuất
hàng hóa ra ñời trên cơ sở phân công lao ñộng xã hội và chế ñộ tư nhân về tư liệu sản
xuất. Trong thời ñại ngày nay xu hướng quốc tế hóa trên tất cả các lĩnh vực ñời sống
kinh tế - xã hội ñã trở thành hiện thực, thì sản xuất hàng hóa không những tiếp tục
ñược khẳng ñịnh mà còn tạo ñiều kiện thúc ñẩy nền nền kinh tế phát triển, kể cả
những nước có trình ñộ kinh tế phát triển cao.
Vấn ñề ñặt ra với mỗi nước, ñặc biệt là nước quá ñộ lên CNXH là phải nhận
thức ñúng ñắn tính chất, mức ñộ và ñặc ñiểm của nền kinh tế hàng hóa của ñất nước
mình ñể ñề ra những chính sách, biện pháp sử dụng, cải tạo thích hợp và ñịnh hướng
ñúng nhằm thúc ñẩy sản xuất hàng hóa phát triển, tạo công ăn việc làm ổn ñịnh cho
người lao ñộng. Đúng như Lê nin ñã khẳng ñịnh: Đối với các nước kém phát triển
quá ñộ lên CNXH bỏ qua chế ñộ phát triển TBCN, không những phải tôn trọng thực
tại khách quan của nền kinh tế hàng hóa, mà còn phải tạo ñiều kiện thuận lợi ñể thúc
ñẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, làm cho lực lượng sản
xuất ngày càng ñược tăng cường, ñưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn,
tăng nhanh sản phẩm cung ứng cho xã hội, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao, ña dạng
của ñời sống và sản xuất, mở ộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các ngành, các ñịa
4
phương và vùng lãnh thổ, giữa kinh tế trong nước với kinh tế nước ngoài, góp phần
khắc phục sự mất cân ñối hàng - tiền, thu - chi tài chính .
Đối với nước ta, quá ñộ lên CNXH bỏ qua chế ñộ TBCN từ một nước với
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trình ñộ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp,
phân công lao ñộng xã hội chưa phát triển, lại phải gánh chịu hậu quả nặng nề của
các cuộc chiến tranh ñể lại, hàng năm luôn bị thiên tai, các thế lực thù ñịch trong và
ngoài nước thường xuyên cấu kết tìm mọi cách phá hoại nhằm lật ñổ chế ñộ XHCN ở
nước ta. Dưới sự lãnh ñạo của Đảng nhân dân ta quyết tâm thi ñua sản xuất ñưa nước
vị sang hạch toán kinh doanh theo quan ñiểm phát triển kinh tế hàng hóa có kế hoạch
gồm nhiều thành phần kinh tế ñi lên CNXH. Coi ñó là vấn ñề có ý nghĩa chiến lược
lâu dài và có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN ở nước ta.
Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991). Đảng ta tiếp tục khẳng ñịnh
ñường lối ñổi mới phát triển kinh tế ở nước ta do Đại hội VI ñã ñề ra là hoàn toàn
ñúng ñắn, hợp quy luật và Nghị quyết Đại hội VII cụ thể thêm một bước cho phù hợp
5
với tình hình mới: phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước là hoàn toàn cần thiết ñể giải phóng và phát
huy ñược các tiềm năng sản xuất trong xã hội. Đây là chủ trương ñúng, phù hợp với
ñặc ñiểm nền kinh tế nước ta và xu thế của thời ñại ngày nay. Chủ trương này là
chiến lược mới của công cuộc xây dựng CNXH, mang tính tất yếu từ yêu cầu giải
phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, xây dựng quan hệ sản xuất phải phù hợp với
tính chất và trình ñộ phát triển của lực lượng sản xuất, thực hiện quyền tự làm ăn sinh
sống hợp pháp của ñông ñảo quần chúng ở các thành phần kinh tế; phấn ñấu vì mục
tiêu dan giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ñưa cả nước quá ñộ
lên CNXH.
Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) trong ñiều kiện kinh tế mở
và hội nhập ñể ñẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH ñất nước mà trước mắt là thực hiện
CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Đảng ta xác ñịnh: Xây
dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường phải ñi
ñôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo ñịnh hướng XHCN trên cơ sở
ñường lối kinh tế của Đảng, Nhà nước ñã ban hành nhiều luật kinh tế quan trọng tạo
ra môi trường pháp lý thuận lợi ñể thu hút ngoại lực và khai thác nội lực tạo ra sức
mạnh tổng lực ñưa nước ta nhanh chóng vượt ra khỏi khủng hoảng và tiếp tục phát
triển. Bước vào thế kỷ XXI Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) của Đảng
lại diễn ra trong bối cảnh lịch sử ñặc biệt, (kết thúc kỷ nguyên củ bước sang kỷ
nguyên mới) lần nữa Đảng ta tiếp tục xác ñịnh và nêu rõ quan ñiểm: Đảng và Nhà
phương diện cho sự phát triển.
Miền núi Quảng Nam là vùng có nhiều ñồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh
sinh sống với tổng diện tích tự nhiên 7.281 km
2
(chiếm khoảng 70% diện tích của
tỉnh) ñược phân chia thành 4 huyện vùng núi cao: Hiên, Nam Giang, Phước Sơn, Trà
My và hai huyện miền núi: Tiên Phước, Hiệp Đức; toàn tỉnh có 109/217 xã ñược
chính phủ công nhận là miền núi, trong ñó có 55 xã thuộc khu vực III, có 60 xã nằm
trong diện ñặc biệt khó khăn. Tỷ lệ ñói, nghèo toàn vùng còn khá cao (hơn 50%). Dân
số toàn vùng miền núi có hơn 385.000 người, trong ñó có 4 dân tộc thiểu số với 9,4
vạn người chiếm khoảng 7,2% dân số toàn tỉnh. Cụ thể có dân tộc Cà Tu gồm 38.000
người; Cor trên 4.000 người; Giẻ Triêng gần 20.000 người và Xê Đăng gần 30.000
người. Các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam có nhiều tiềm năng lớn nhưng việc sử
dụng, khai thác còn nhiều hạn chế. Đất lâm nghiệp chiếm 62,04% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh, trong ñó ñất có rừng chiếm 54,66% diện tích ñất lâm nghiệp. Tài nguyên
rừng và ñất rừng phong phú, ña dạng tổng diện tích ñất lâm nghiệp 647.362 ha, trong
ñó ñất cso rừng 353.887 ha ngoài ra còn có nhiều lâm sản phụ như song mây, nhiều
loại ñộng, thực vật quý hiếm (nhất là cây dược liệu), trữ lượng gỗ trên 40 triệu m
3
.
Độ che phủ ở 6 huyện là 48,6%, dưới lòng ñất có nhiều nguồn tài nguyên quý giá
2.2. Quá trình phát triển kinh tế hàng hóa
Để tiện cho việc phân tích, phần này ñề tài chia thành hai giai ñoạn chính và
ñề tài tập trung vào giai ñoạn II.
2.2.1. Giai ñoạn I (1975 - 1986)
- Phát triển kinh tế trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp (1975 -
1977) .Sau khi miền Nam ñược hoàn toàn giải phóng, nước nhà thống nhất nhân dân
Quảng Nam- Đà Nẵng nói chung, các huyện miền núi Quảng Nam nói riêng, bắt tay
vào công cuộc khôi phục kinh tế, nhân dân các dân tộc tin theo Đảng hăng hái thi ñua
lao ñộng sản xuất với phong trào khai hoang, phục hóa sôi nổi khắp vùng nhờ ñó mà
triển kinh tế, mà chủ yếu là trồng khoai, sắn ñiều này dẫn ñến việc phá rừng ñây là
nguyên nhân sâu xa làm cho rừng ñầu nguồn bị tàn phá nặng nề. Việc xây dựng các
hình thức kinh tế hợp tác, mà chủ yếu là HTX nông nghiệp với quy mô lớn ñối với
các huyện miền núi Quảng Nam trong thời kỳ này không phù hợp với tính chất và
trình ñộ phát triển của lực lượng sản xuất ñã làm cho nền kinh tế lún sâu vào khó
khăn gay gắt.
Rõ ràng trong thời kỳ này các huyện miền núi của tỉnh tập trung xây dựng
HTX, nên kinh tế cá thể, tư nhân không ñược quan tâm, ngăn cấm việc giao lưu hàng
hóa, triệt tiêu ñộng lực của sản xuất hàng hóa tất cả những vấn ñề trên ñã vi phạm
nghiêm trọng lợi ích của người lao ñộng, dẫn ñến hậu quả là ñời sống ñồng bào các
dân tộc nơi ñây vô cùng khó khăn, ñất ñai bị bỏ hoang hoa, nợ nần chồng chất, nạn
ñói lan rộng, HTX tan rã.
2.2.2.Giai ñoạn II (1986 - ñến nay)
Dưới ánh sáng của ñường lối ñổi mới tại Đại hội VI của Đảng các huyện
miền núi của tỉnh từng bước chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung, tự túc sang kinh tế
hàng hóa trong lĩnh vực nông nghiệp.
Trước sự bế tắc của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ñã làm cho hệ thống
HTX nhanh chóng tan rã. Chỉ thị 100 của Ban bí thư (1/1991) ra ñời thưc hiện khoán
ñến nhóm và người lao ñộng ñã cứu nguy cho phong trào HTX - sản phẩm dư thừa
ñược tự do trao ñổi mua bán trên thị trường. Đây là tiền ñề ñể thúc ñẩy kinh tế hàng
hóa phát triển. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, công khai thừa nhận
nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ñã thật sự tạo ra ñộng
lực mới cho nền kinh tế ñặc biệt Nghị quyết 10 của bộ chính (10/ 1988) về ñổi mới
cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, ñất ñai ñược giao quyền sử dụng lâu dài
cho người lao ñộng, hộ nông dân là ñơn vị kinh tế tự chủ sản xuất, tự do lưu thông
hàng hóa.
Những chủ trương, chính sách ñúng ñắn trên ñây ñã tạo ñiều kiện xuất hiện
các nhân tố tích cực của nền kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam,
8
2000) là 8.150 triệu ñồng, trồng mới mỗi năm ñạt 324 ha rừng tập trung, ñã giao
khoán khoanh nuôi, quản lý, bảo vệ 6.642 ha / 72.242 ha rừng tự nhiên. Huyện Tiên
Phước (1996 - 2000) ñã trồng mới 1.699 ha, nâng ñộ che phủ từ 39% năm 1996 lên
43% năm 2000.
Trên các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mạng lưới
thương mại, dịch vụ tuy với quy mô còn nhỏ chủ yếu là hộ gia ñình nhưng cũng phát
triển khá mạnh, nhiều hình thức dịch vụ sản xuất, dịch vụ thương mại, sửa chữa xe
máy, các HTX ô tô vận tải hàng hóa, vận tải khách cũng phát triển ñã góp phần làm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các huyện miền núi từ chỗ là các huyện thuần nông,
nay cơ cấu kinh tế của huyện ñều xác ñịnh: nông, lâm, công, tiểu thủ công nghiệp -
dịch vụ. Các huyện ñã hình thành vùng chuyên canh trồng công nghiệp tập trung, hộ
hàng hóa, kinh tế trang trại cũng phát triển mạnh, trong vài năm gần ñây tỷ trọng
ngành nông nghiệp trong GDP có xu hướng giảm dần, tỷ trọng ngành công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tăng lên.
9
Phải khẳng ñịnh rằng khi chia tách tỉnh năm 1997 Quảng Nam lúc ñó còn
nhiều khó khăn số hộ thiếu ñói khoảng 40%, 6 huyện miền núi tỷ lệ hộ ñói, nghèo
còn cao hơn. Năm 1997 các huyện vùng cao chỉ có 1.200 ha ñến nay ñã có 2.020 ha
diện tích ñất canh tác. Hầu hết ở các xã vùng cao ñều có ruộng lúa nước hai vụ, công
tác ñịnh canh ñịnh cư ngày càng ổn ñịnh, hộ hàng hóa theo mô hình VAC, VACR
ngày càng nhiều kinh tế hàng hóa, kinh tế trang trại ngày càng tăng ñã xất hiện nhiều
ñiểm sáng làm ăn có hiệu quả trong thời kinh tế thị trường tạo thành ñộng lực cho
toàn vùng phát triển.
Biểu 1:
Danh mục Trà My Tiên Phước Hiệp Đức Nam Giang
2001 2002 2001 2002 2001 2002 2001 2002
Sản lương thực có hạt (tấn) 8570 9.000 12.010 14.900 13.400 14.190 5000 6000
Khai hoang ñồng ruộng (ha) 41,5 50 30 20 35 30 120 120
10
hóa, ñẩy nhanh tốc ñộ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh miền
núi, nhằm từng bước rút ngắn khoảng cách chệnh lệch kinh tế - xã hội do ñiều kiện tự
nhiên và lịch sử ñể lại.
Kết quả của chủ trương, ñề án, giảp pháp ñó ñã làm cho sản xuất hàng hóa
nông, lâm nghiệp có bước phát triển tích cực, diện tích khai hoang làm lúa nước ñược
mở rộng; năng suất, sản lượng cây lương thực tăng lên. Bình quân lương thực ñầu
người từ 163 kg (1997) tăng lên 193 kg (2001). Các công trình thủy lợi vừa và nhỏ
ñược quan tâm xây dựng, giải quyết nước tưới cho gần 30% diện tích canh tác hiện
có. Chăn nuôi hộ gia ñình ở các huyện tiếp tục phát triển ñàn gia súc, gia cầm tăng từ
15% lên 20%. Diện tích trồng quế ñược mở rộng, hàng năm trồng mới từ 300 - 400
ha. Rừng và tài nguyên rừng dần ñược phục hồi, công tác quản lý bảo vệ rừng, trồng
rừng ngày một tốt hơn. Đời sống vật chất và văn hóa của ñồng bào từng bước ñược
cải thiện. Bộ mặt xã hội ñược thay ñổi theo hướng tích cực.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả trong việc phát triển kinh tế hàng hóa
thì thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp trong vùng ñồng bào dân tộc thiểu số vẫn
còn nhiều khó khăn. Phần lớn trồng trọt vẫn còn ñộc canh lúa rẫy, diện tích lúa nước
còn ít, manh mún, phân tán; kỹ thuật canh tác còn nhiều hạn chế; cán bộ khuyến
nông, khuyến lâm ở xã còn yều và thiếu. Chăn nuôi phần lớn còn ở dạng thả tự nhiên,
không quản lý ñược dịch bệnh. Công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng chưa tốt, sự
gắn bó giữa ñồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với rừng, ñất rừng chưa ñược giải quyết
tốt, chưa thực sự coi ñó là nhu càu tất yếu cho sự phát triển bền vững về mọi mặt ñối
với ñịa phương.
Công nghiệp, thiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ ở miền núi có
phát triển nhưng còn chậm, một số ngành nghề truyền thống của ñồng bào Xê Đăng,
Giẻ Triêng, Cor hầu như không còn nghề ñan mây tre, rèn bị mai một; hoạt ñộng mua
bán ở chợưa nhiều, không ổn ñịnh, nhiều xã cho ñến nay vẫn chưa có chợ ñể giao lưu
hàng hóa; hoạt ñộng thương mại dịch vụ chuyên nghiệp của ñồng bào thiểu số chưa
Thứ năm: sản xuất chậm phát triển, nhiều vùng làm chưa ñủ ăn, lại thêm cơ
sở vật chất hạ tầng kinh tế - xã hội vốn yếu kém. Giao lưu hàng hóa còn ở trình ñộ
quá thấp, thị trường còn sơ khai, hoang dã. Sức mua thấp nhiều hạn chế, sản phẩm
làm ra (tiêu, quế ) thiếu sự quan tâm của tổ chức thương mại Nhà nước nên tư
thương thao túng, ép giá, ép cấp làm cho người dân bị thiệt thòi kéo dài.
Thứ sáu: Thiếu vốn ñể phát triển kinh tế việc vay vốn làm ăn còn nhiều thủ
tục phiền hà do ñó người sản xuất rất ngại ñi vay, nhiều khi phải vay lại của “cò” với
lãi suất thực tế rất cao. Nhiều chương trình ñầu tư của Nhà nước như: ñiện, ñường,
thủy lợi, giao thông, chợ chưa thật sự phù hợp với từng thôn, nóc; chất lượng công
trình thấp. Trên ñây là những vấn ñề cơ bản kìm hãm sự phát triển kinh tế hàng hóa ở
các huyện miền núi Quảng Nam.
Những vấn ñề ñặt ra ñối với kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh
Quảng Nam cần quan tâm giải quyết.
Thứ nhất: Mục ñích của việc ñẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa là tiến tới
phá vở phương thức canh tác cổ truyền lạc hậu của nền kinh tế tự nhiên khép kín. Do
ñó phát triển kinh tế hàng hóa là yêu cầu phải mở rộng mối quan hệ kinh tế với các
vùng trong cả nước kể cả các nước trong khu vực và quốc tế. Trên cơ sở phương thức
canh tác tiến bộ, tạo ra những sản phẩm mới ñáp ứng nhu cầu của thị trường. Điều
này muâu thuẫn với phương thức canh tác lạc hậu của bà con dân tộc các huyện miền
núi của tỉnh ñã kéo dài trong lịch sử.
Thứ hai: Muốn thoát khỏi cảnh ñói nghèo triền miên của nông dân miền núi
phải ñẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa. Tình trạng ñói nghèo ñược coi là mục tiêu
kiên quyết. Nghèo ñói của ñồng bào các huyện miền núi của tỉnh là do tập quán canh
tác lạc hậu, dân trí thấp, thiếu vốn, cơ sở hạ tầng thấp, núi ñèo cách trở, thời tiết khắc
nghiệt. Phát triển kinh tế hàng hóa cần phải phát triển các nhân tố: nhân lực, tài
nguyên, vốn, khoa học công nghệ, thị trường, quy hoạch ñất ñai, nhưng các huyện
miền núi của tỉnh lại ñang thiếu rất lớn các nhân tố trên.
Thứ ba: phát triển kinh tế hàng hóa yêu cầu phải có hệ thống kết cấu hạ tầng
ñồng bộ, hoàn chỉnh, nhất là giao thông vận tải, thông tin liên lạc, công nghệ chế
biến, hệ thống chợ v.v.
kinh tế hợp lý, nhằm khai thác có hiệu qủa kinh tế, thế mạnh từng vùng của từng
huyện miền núi như: quế, tiêu, cao su cho xuất khẩu; mía, dứa, sắn tạo vùng nguyên
liệu ổn ñịnh cho các nhà máy chế biến; trâu, bò, heo cho các nhà máy súc sản v.v.
Sáu là: Phát triển kinh tế hàng hóa gắn liền với việc từng bước xây dựng
quan hệ sản xuất mới trong nông thôn các huyện miền núi. Củng cố các thôn, lâm
trường hiện có ñể tạo ra sức mạnh liên kết, hỗ trợ làm dịch vụ cho kinh tế gia ñình,
kinh tế trang trại, kinh tế tập thể ở các buôn, làng phát triển.
Bảy là: Phát triển kinh tế hàng hóa gắn liền với việc bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hóa của các dân tộc ở các huyện miền núi của huyện. Yếu tố văn hóa tinh
thần ñược xem là ñộng lực ñể phát triển kinh tế - xã hội. Coi việc phát triển kinh tế
hàng hóa ở các huyện miền núi không chỉ là sự nghiệp của Đảng bộ và nhân dân các
dân tộc trong vùng mà còn là sự nghiệp của nhân dân Quảng Nam và nhân dân cả
nước trên con ñường quá ñộ lên CNXH ở nước ta.
3.2. Phương hướng và mục tiêu
13
Xuất phát từ ñặc ñiểm thực kinh tế - xã hội của các huyện miền núi tỉnh
Quảng Nam cũng như các quan ñiểm về phát triển kinh tế hàng hóa trong thời gian
tới, ñề tài xác ñịnh phương hướng và mục tiêu như sau:
3.2.1. Phương hướng
Thứ nhất: Tranh thủ sự hỗ trợ của TW và tỉnh với sự nổ lực, quyết tâm của
các cấp, các ngành và nhân dân sinh sống trên ñịa bàn các huyện miền núi của tỉnh
ñẩy mạnh sản xuất, kinh doanh ñể sớm từ bỏ kinh tế tự cấp, tự túc, tập tục lạc hậu.
Chuyển dịch và xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng khai thác có hiệu quả các tiềm
năng, thế mạnh của miền núi. Ra sức chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng, hình thành
các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả tập trung gắn liền với phát triển
công nghiệp chế biến. Đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm. Phục hồi và phát triển
mới các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, mở rộng mạng lưới dịch vụ, thương mại.
Thứ hai: Tận dụng mọi nguồn lực tại chỗ của tỉnh và của cả nước ñi ñôi với
Thu ngân sách trên ñịa
bàn
Tăng 10% năm Tăng 20% năm Tăng 21% năm90% Tăng 15-20% năm
Thu hút h/sinh ñến lớp 85% 95% 90% 90%
Thôn nóc văn hóa 30% 75% 75% 60%
Giá trị công nghiệp -
thủ công nghiệp
Tăng 15% 20% 20% 15-20%
14
Trồng rừng 300ha 2500ha 300ha 300
Tổng ñàn gia súc:
- trâu
- bò
Tăng 10%/năm
Tăng 15%/năm
Tăng 5%/năm
Tăng 20%/năm
Tăng 1-2%/năm
Tăng 17-20%/năm
Tổng ñàn gia cầm Tăng 20%/năm Tăng 20%/năm Trên 20%
Để thực hiện có hiệu quả phương hướng và các chỉ tiêu quan trọng trên ñây
các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam cần phải phấn ñấu cao, chỉ ñạo kịp thời, nhất là
xác lập một hệ thống giải pháp ñồng bộ thiết thực ñể khai thác tiềm năng thế mạnh
- Có biện pháp tích cực ñể tạo vốn ñầu tư cho việc ñiều tra, ño ñạc, vẻ bản
ñồ ñất ñai. Có thể kết hợp giữa vốn ngân sách cấp với biện pháp huy ñộng vốn từ ñất,
lấy ñất ñể tạo vốn quy hoạch ở những nơi có ñiều kiện.
15
Thứ hai: Xử lý tốt mối quan hệ quy hoạch ñất ñai ñể khai thác và sử dụng
có hiệu quả cao lâu dài, bền vững.
Các huyện miền núi Quảng Nam có diện tích ñất tự nhiên rộng lớn với
594.600 ha ñất rừng, 2.053 ha ñất trống ñồi núi trọc, khoảng 6.000 ha ñất tái tạo số
lượng diện tích các loại ñất này ñã ñược chính phủ phê duyệt ñể ñầu tư sản xuất. Do
ñó các huyện phải tiến hành phân vùng cụ thể, xúc tién quy hoạch một cách ổn ñịnh
bền vững, vấn ñề quan trọng là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các ñịa phương
có ñất giáp ranh, giữa buôn làng và hộ gia ñình ñồng bào các dân tộc; giải quyết mối
quan hệ ñất chuyên dùng với ñất sản xuất, ñất ở, ñất quy hoạch xây dựng các công
trình công cộng; giải quyết mối quan hệ các loại ñất cho vùng chuyên canh cây công
nghiệp dài ngày, cây lương thực, thực phẩm ñể có phương án ñầu tư lâu dài và thâm
canh tăng năng suất cây trồng ñưa lại hiệu quả kinh tế cao trên một ñơn vị diện tích
gieo trồng; phải có phương án quy hoạch cụ thể ñể khai thác và sử dụng vùng ñất
trống, trồi núi trọc và các vùng ñất chưa sử dụng ñang còn nhiều ở các huyện nhất là
vùng III.
Thứ ba: Đẩy mạnh việc giao ñất và hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng ñất trên toàn bộ diện tích ñất sử dụng.
Giao ñất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ñất là tăng cường việc quản
lý Nhà nước, xác lập mối quan hệ pháp lý ñối với các chủ thể sử dụng ñất ñể ñất ñược
sử dụng ñúng mục ñích, có hiệu quả. Trong những năm vừa qua các huyện miền núi
Quảng Nam ñã có nhiều cố gắng tiến hành giao 87,4% diện tích ñất và 95,5% số hộ
ñược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ñất ñã thúc ñẩy sản xuất phát triển. Tuy
nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều sai sót, ñã phát sinh kiện tụng và phức
tạp cho nhân dân, hiện nay vẫn còn tồn ñọng hơn 60.000 trường hợp chưa ñược giải
họach ñất ñai và cấp giấy quyền sử dụng ñất ñúng mục ñích ñể phát triển kinh tế
hàng hóa.
Các cấp ủy ñảng là những tổ chức sát cơ sở, sát việc, sát dân lãnh ñạo chính
quyền quản lý tốt ñất ñai ñúng ñường lối, chủ trương của Đảng ñem lại sự công bằng
của các ñối oọng sử dụng ñất ở các huyện miền núi của tỉnh. Vì vậy, các cấp ủy ñảng
cụ thể là huyện ủy, ñảng ủy xã cấp ủy chi bộ thôn, buôn phải tăng cường sự lãnh ñạo,
giám sát việc quản lý của chính quyền ñịa phương và việc sử dụng ñất của người sản
xuất ñúng quy ñịnh của pháp luật và chính sách ñất ñai của Nhà nước ta ñối với miền
núi, ñối với ñồng bào các dân tộc trong vùng ñể bảo ñảm sản xuất ổn ñịnh ñời sống
nhân dân luôn ñược cải thiện, thực hiện ñược mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
3.3.2. Củng cố và ñầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ñể phát triển kinh tế
hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam.
Kết cấu hạ tầng là vấn ñề rất quan trọng cho việc phát triển kinh tê, xã hội
của mỗi quốc gia. Đối với nước ta ñặc biệt là các ñịa phương miền núi thì việc ñầu tư
củng cố, xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng ñược ñặt ra trở thành chiến lược quan
trọng ñể tạo tiền ñề cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Quảng Nam là một tỉnh có
vùng miền núi rộng lớn, vì vậy việc nghiên cứu ñánh giá, tìm ra các giải pháp ñể phát
triển kết cấu hạ tầng cho các huyện miền núi trở nên vô cùng cấp thiết, có ý nghĩa to
lớn cho sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh. Trong
chiến tranh tỉnh Quảng Nam bị tàn phá nặng nề, sau ngày ñất nước giải phóng hệ
thống kết cấu hạ tầng của tỉnh từng bước ñưọc xây dựng, mãi cho ñến lúc chia tách
tỉnh 1997 kết cấu hạ tầng của tỉnh chưa ñược cải thiện bao nhiêu ñiều này làm cản trở
ñến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhất là ở các huyện miền núi.
Nhận thức ñúng ñắn vai trò và tầm quan trọng cảu kết cấu hạ tầng trong
những năm gần ñây Quảng Nam ñã có những nỗ lực rất lớn có những quyết sách táo
bạo trong việc tập trung ñầu tư củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ñể thuc
ñẩy kinh tế hàng hóa phát triển, nhất là các huyện miền núi. Đơn cử như huyện Tiên
Phước từ năm 1997 ñến 2001 ñã huy ñộng ñược 510.000 ngày công, 12 tỷ ñồng ñể
ñầu tư nâng cấp các tuyến ñường ñến trung tâm xã, xây dựng kiên cố 143 cầu cống,
trình phục vụ phát triển kinh tế, ñẩy mạnh sản xuất hàng hóa và dân sinh. Trên cơ sở
vốn ñầu tư ñó phải hoàn tất cơ bản những việc như sau:
Một là: Xây dựng hệ thống ñiện lưới quốc gia ñến trung tâm xã, thị trấn.
Tiếp tục ñộng viên nhân dân góp vốn, mở rộng mạng lưới ñiện hạ thế, phấn ñấu ñến
hết năm 2005 nâng số hộ sử dụng ñiện lên 80%.
Hai là: Tiếp tục thực hiện ñề án phát triển giao thông nông thôn coi ñó là
giải pháp tiên quyết ñể ñẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển kinh tế - xã hội miền
núi của tỉnh, từng bước thoát ñói, nghèo và lạc hậu, kiên trì thực hiện phương châm
Nhà nước và nhân dân cùng làm, tích cực huy ñộng nhân dân ñóng góp quỹ phát triển
giao thông nông thôn, tạo nguồn vốn tại chỗ cùng với vốn hỗ trợ của tỉnh và trung
ương ñầu tư kiên cố hóa cầu, cống, cấp phối mặt ñường các huyện. Mở rộng các
tuyến ñường liên thôn, liên xóm gắn với duy tu bảo dưỡng, ñảm bảo giao thông thông
suốt từ huyện ñến trung tâm các xã trong mọi thời ñiểm.
Ba là: Củng cố, bảo dưỡng, sử dụng tốt các công trình thủy lợi hiện có, tiếp
tục ñầu tư xây dựng các công trình có quy mô vừa và nhỏ, từng bước kiên cố hóa
mạng lưới kênh mương nhằm khai thác tối ña năng lực tưới tiêu phục vụ cho sản xuất
nông nông nghiệp. Tranh thủ kịp thời các nguồn vốn, trước hết là vốn của Nhà nước
cấp trên ñầu tư xây dựng một số công trình thủy lợi cấp thiết. Phấn ñấu ñến cuối năm
2005 ñạt trên 50% diện tích giao trồng chủ ñộng nước tưới, tạo cơ sở thâm canh tăng
năng xuất cây trồng ñẩy mạnh sản xuất hàng hóa. Phát triển mô hình “giếng ñào +
bơm ñiện” như ở huyện Tiên Phước và nhân rộng mô hình này ở các vùng núi khác
18
trong tỉnh, nhất là những nới có ñiều kiện ñể khai thác nguồn nước ngầm phục vụ cho
phát triển kinh tế vườn hàng hóa, giải quyết cơ bản nước sạch cho nhân dân bằng các
hình thức giếng ñào + bơm ñiện + nước tự chảy.
Bốn là: Phấn ñấu ñầu tư ñể nâng cao công suất, thời lượng tiếp sóng truyền
hình, mở rộng mạng lưới truyền thanh cơ sở ñể ñưa tin và phổ biến kịp thời những
chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội
Động viên cán bộ, ñảng viên và nhân dân các huyện miền núi của tỉnh tiết kiệm chi
tiêu, tập trung ñầu tư củng cố, phát triển kết cấu hạ tầng làm tiền ñề quan trọng cho
việc phát triển kinh tế hàng hóa, phát triển kinh tế hàng hóa của tỉnh ñúng hướng
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng.
3.3.3. Nâng cao trình ñộ dân trí và kiến thức kinh tế hàng hóa ở các huyện
miền núi tỉnh Quảng Nam.
19
Dân trí là trình ñộ học vấn, trình ñộ hiểu biết trên các lĩnh vực của nhân
dân, hiện nay mặt bằng dân trí ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam còn quá thấp,
nhất là ñồng bào các dân tộc, ñiều này làm hạn chế nghiêm trọng việc phát triển kinh
tế hàng hóa của vùng. Theo số liệu thống kê của ban tổ chức huyện Trà My về công
tác quy hoạch cán bộ giai ñoạn 1997 - 2002 cho biết: Ban chấp hành huyện ủy có 33
ñồng chí. Về trình ñộ học vấn cấp I: 01 ñồng chí, cấp II: 14 ñồng chí; cấp III: 18 ñồng
chí. Trình ñộ lý luận chính trị cử nhân: 01 ñồng chí; cao cấp 01 ñồng chí; trung cấp
14 ñồng chí và sơ cấp 01 ñồng chí. Trình ñộ chuyên môn nghiệp vụ, ñại học: 11 ñồng
chí; cao ñẳng 05 ñồng chí, trung cấp 3 ñồng chí; chưa qua ñào tạo 14 ñồng chí.
Cán bộ cấp trưởng, phó, chuyên viên các phòng, ban, ngành, ñoàn thể của
huyện và tương ñương là 87 người. Trong ñó trình ñộ học vấn cấp I: 01; cấp II: 23;
cấp III: 63. Trình ñộ lý luận chính trị cử nhân: 01; cao cấp 22; trung cấp: 34; sơ cấp:
03; chưa qua ñào tạo: 31. Bồi dưỡng về kiến thức quản lý kinh tế: 06 và quản lý Nhà
nước: 18 ñồng chí.
Cán bộ cấp ủy xã, thị trấn có 543 người.Trong ñó trình ñộ học vấn cấp I:
271; cấp II: 190; cấp III: 82. Trình ñộ lý luận chính trị cao cấp: 05; trung cấp:115; sơ
cấp: 79; chưa qua ñào tạo: 344 người. Trình ñộ chuyên môn ñại học: 02; cao ñẳng:04;
trung cấp: 48; chưa qua ñào tạo: 489 người. Bồi dưỡng quản lý kinh tế: 07; quản lý
nhà nước: 42 người. Các huyện miền núi khác cũng có trình ñộ cán bộ các cấp gần
như Trà My.
Qua số liệu trên cho thấy trình ñộ của cán bộ vè học vấn và chuyên môn
no, văn minh cho ñồng bào là một quá trình cần phải kết hợp giáo dục từ nhiều
ngành. Trong ñó ngành văn hóa thông tin, giáo dục thể chất ñóng vai trò quan trọng.
Do vậy:
Ngành văn hóa, thông tin cần có kế hoạch nghiên cứu cụ thể hóa các giá trị
bản sắc văn hóa dân tộc của ñồng bào Cor, Giẻ Triêng, Xê Đăng, Cà Tu, văn hóa
cộng ñồng, văn hóa thôn bản trên cơ sở ñó xây dựng các thiết chế văn hóa cơ sở, khôi
phục các lễ hội truyền thống ñể tăng cường giao lưu và ñoàn kết dân tộc giữa các
vùng, ñồng thời xóa bỏ dần những tập tục lạc hậu cảo trở ñến sản xuất, phát triển các
loại hình văn hóa nghệ thuật mới. Đẩy mạnh các hoạt ñộng thể dục thể thao ñể rèn
luyện và nâng cao sức khỏe cộng ñồng. Xây dựng và nhân rộng các ñiển hình tiến
trong sản xuất như kinh tế trang trại, hộ hàng hóa, vườn hàng hóa thành lập các hội
làm vườn, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm. Lồng ghép các chương
trình kinh tế tạo ra nguồn lực tổng hợp trong sản xuất, mời các báo cáo ñiển hình làm
ăn giỏi ñến tận thôn bản ñể báo cáo, tổ chức các hoạt ñộng văn nghệ ñể tuyên dương
người tốt việc tốt trong làm ăn kinh tế, trong trồng và bảo vệ rừng thông qua các
loại hình văn hóa nghệ thuật ñể giáo dục ñậy là cách làm có hiệu quả, dễ tiếp thu ñối
với người dân nông thôn miền núi.
Phát triển thêm nhiều ñiểm văn hóa xã hoặc theo cụm xã; phủ sóng phát
thanh, truyền hình của tỉnh ñến những vùng sâu, vùng xa, níu cao, vùng căn cứ cách
mạng, tăng cường phát nhiều bản tin thực tế của việc sản xuất kinh doanh ở các ñài
phát thanh, trạm phát thanh, phát lại trên truyền hình của huyện; dành nhiều thời
lượng cho các chuyên mục phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc ñể tuyên truyền
ñường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước từng bước nâng cao trình ñộ dân trí trên
mọi mặt của ñời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn miền núi của tỉnh.
Thứ ba: Đẩy mạnh công tác quy hoạch, ñào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp
trên ñịa bàn huyện miền núi của tỉnh.
Các ñịa phương cần có kế hoạch ñào tạo, bồi dưỡng và ñào tạo lại ñội ngũ
cán bộ ñương chức, trong ñó cần chú ý về lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, quản
lý kinh tế, kiến thức thị trường, pháp luật cho cán bộ cấp huyện và cấp xã. Cần phải
có tầm nhìn chiến lược trong việc quy hoạch, ñào tạo ñội ngũ cán bộ kế cận nhằm ñáp
phẩm ở các huyện miền núi của tỉnh thường bị hao hụt lớn, chi phí cao, khả năng
cạnh tranh thấp.
Mặt káhc, ñiều kiện tự nhiên, ñịa hình ơ các huyện miền núi của tỉnh cũng
rất phức tạp ñèo sâu, núi cao, dốc lớn, thời tiết khắc nghiệt, cơ sở giao lưu hàng hóa
rất ít và hoang sơ, mỗi huyện chỉ có một chợ buôn bán tập trung tại thị trấn, các xã thì
có chợ phiên mỗi tuần họp chợ một ñến hai lần và vẫn còn nhiều xã chưa có chợ. Vai
trò thương mại Nhà nước rất mờ nhạt tất cả những vấn ñề nêu trên ñã ảnh hưởng
làm cho nền kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi phát triển chậm và không ổn
ñịnh. Vì vậy muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ñể ñẩy nhanh kinh tế hàng
hóa ở các huyện miền núi của tỉnh, trước mắt cần tập trung giải quyết các vấn ñề sau
ñây:
Thứ nhất: Cần ñiều chỉnh lại cơ cấu sản xuất cả trong nông nghiệp, công
nghiệp phục vụ sản xuất và ñời sống nhân dân nông thôn miền núi của tỉnh.
Trong những năm vừa qua phát triển kinh tế hàng hóa ở cá huyện miền núi
của tỉnh có những bước thay dổi tích cực, song bên cạnh ñó cũng bộc lộ những hạn
chế khi chuểy dịch cơ cấu sản xuất. Điều dễ thấy này ñã xẩy ra khi giá cả hàng hóa
tăng thì sản xuất ồ ạt, khi giá cả hàng hóa thấp lại chặt phá ñể trồng lại cây khác dẫn
ñến thiệt hại cho người nông dân. Do vậy, các huyện cần có kế hoạch nghiên cứu
thông tin thị trường và lợi thế so sánh của từng vùng, từng ñịa phương, ñiều chỉnh lại
cơ cấu sản xuất một cách hợp lý ổn ñịnh. Nhất là ñịa hình các vùng nguyên liệu, ký
kết hợp ñồng với các nhà máy chế biến tinh bột sắn, nhà máy ñường của tỉnh, ñể
các sản phẩm của nông dân làm ra có chỗ tiêu thụ ổn ñịnh; tránh tình trạng dư thừa và
rớt giá thiệt hại ñến người sản xuất, khi giá cao thì bán cho tư thương, lúc giá thấp thì
dồn ép bán cho nhà máy.
Điều chỉnh cơ cấu sản xuất ể ñẩy mạnh kinh tế hàng hóa, phải phổ biến, giải
thích ñến từng chủ thể sản xuất hiểu rõ quan ñiểm, chủ trương của chính phủ về chính
sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa theo hợp ñồng với các doanh nghiệp,
22
mặt hàng mà nhân dân miền núi bán. Tăng cường tổ chức tốt mạng lưới dịch vụ cho
các nhà máy chế biến và phân phối hàng công nghiệp ñến từng người tiêu dùng. Tỉnh
cần có chính sách ưu ñãi nhằm khuyến khích thương amị ở các huyện miền núi phát
triển, bảo hộ ở mức ñộ hợp lý ñối với hàng nông sản ở những thời ñiểm cần thiết.
Làm tốt công tác này sẽ hạn chế ñược tư thương thao túng ép giá, ép cấp khi mua,;
nâng cấp, nâng giá khi bán ñể nông dân miền núi nhất là ñối với ñồng bào dân tộc
khỏi bị “thiệt ñơn, thiệt kép” và kích thích sức mua, bán làm cho thị trường nông thôn
miền núi ñược mỏq rộng không ngừng ñẩy mạnh kinh tế hàng hóa phát triển ñúng
hướng.
Thứ tư: tiếp tục ñổi mới hoàn thiện các chính sách nhằm mở rộng thị
trường tiêu thụ hàng hóa ở nông thôn miền núi.
Một là, chính sách ñất ñai: Nhà nước cho phép hộ nông dân miền núi ñược
sử dụng quyền sử dụng ñất ñai ñược giao ñể góp vốn kinh doanh với doanh nghiệp
23
như góp cổ phần, liên doanh, cho thuê ñất từng bước xác lập và hình thành hệ thống
thị trường ñất ñai ở nông thôn miền núi của tỉnh tạo ñiều kiện cho quá trình tích tụ và
tập trung ñất nhằm chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, tạo ra sự phân công mới
ñẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn trong cơ chế thị trường hiện nay.
Hai là, chính sách giá cả: cần có chính sách giá cả hợp lý ñối với các loại
vật tư nông nghiệp cho miền núi, vùng sâu, vàng xa của tỉnh. Nghiên cứu xây dựng
quỹ bình ổn giá cả ñối với sản phẩm xuất khẩu, ñồng thời phải công bố mức giá mua
lương thực, thực phẩm cây công nghiệp tối thiểu ngay từ ñàu vụ thu hoạch ñể khuyến
khích và bảo ñảm lợi ích cho người lao ñộng miền núi của tỉnh.
Ba là, chính sách thuế: ñể tạo ñiều kiện cho phát triển sản xuất hàng hóa
nông sản ở các huyện miền núi của tỉnh, khuyến khích nông dân ñầu tư sản xuất hàng
hóa xuất khẩu ñể khai thác và sử dụng có hiệu quả lợi thế từng vùng, nhất là vùng
ñồng bào các dân tộc, nơi căn cứ cách mạng, nơi ñất trống, ñồi trọc. Tỉnh cần có
24
vườn tạp ñưa các giống mới có năng suất cao, hiệu qủa kinh tế lớn vào phát triển
kinh tế vườn, kinh tế trang trại. Song việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất vẫn chậm và cũng mới dừng lại ở vùng I, còn vùng II, vùng III có tính chất
thí ñiểm. nhiều nơi ñồng bào chưa hiểu tác dụng của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật
vào sản xuất, vẫn còn làm theo lối canh tác cổ truyền. Do vậy cần phải:
Thứ nhất: trước mắt cần tổ chức mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm ñến
tận xã; thôn, bản và từng hộ gia ñình; sử dụng các trưởng bản, già làng làm nòng cốt
ñể thục hiện công tác khuyến nông, khuyến lâm ñể ñưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất ñể tăng năng suất lao ñộng, tạo ra nhiều hàng hóa cải thiện ñời sống nhân
dân vùng núi. Tỉnh cần sớm ñầu tư tổ chức nghiên cứu các giống ñưa vào sản xuất
như lúa lai F1 và các giống ngô lai ñảm bảo chất lượng cao, giá thành hạ nhằm
khuyến khích nông dân hăng hái ñưa các loại giống mới vào sản xuất ñại trà. Đối với
các loại cây công nghiệp ñặc sản như: quế, tiêu, cần quy hoạch phát triển mạnh
thành các vùng chuyên canh tập trung, ñể tạo ra nguồn nguyên liệu ổn ñịnh cho các
cơ sở chế biến vừa tăng giá trị, vừa tạo việc làm mới cho nông thôn miền núi.
Thứ hai: Cần tuyên truyền giác ngộ cho cán bộ và nhân dân nhận thức ñầy
ñủ về vai trò của khoa học kỹ thuật công nghệ là “ñộng lực’, là “then chốt” của quá
trình phát triển kinh tế hàng hóa. Các huyện tiến hành xây dựng kế hoạch phát triển
khoa học kỹ thuật phù hợp với từng vùng, từng loại cây, con. Để ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất ñạt hiệu qủa cao; cần phải thực hiện tốt việc ñiều tra, khảo sát
cụ thể các dự án kinh tế, tiềm năng, ñiều kiện tự nhiên ở từng huyện, từng vùng. Ứng
dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất phải gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thực hiện ña dạng hóa ngành nghề, dịch vụ, ña dạng vật nuôi, cây trồng theo hướng
phát huy tiềm năng thế mạnh của từng vùng với mục ñích là năng suất, chất lượng và
hiệu qủa cây trồng, con vật nuôi trên một ñơn vị diện tích.
Thứ ba: Đẩy mạnh việc ñào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật nhất
là chú trọng ñến con em ñồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Đây là vấn ñề rất quan