Sử dụng hợp đồng tương lai và quyền để phòng ngừa rủi ro biến động giá nguyên liệu - Pdf 18

1
MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
1.

T
ÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
: ...........................................................................1
2.

M
ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
...................................................................................1
3.

Đ
ỐI TƯNG
,
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
..................................................................2
4.

Ý
NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
..................................................................2
5.

P
HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

TỔNG

QUAN

VỀ

LI

THẾ

CẠNH

TRANH...............................................4
1.1.1 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh.............................................................4
1.1.1.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối (Adam Smith).................................4
1.1.1.2 Lý thuyết về lợi thế tương đối (David Ricardo) .............................4
1.1.1.3 Lý thuyết về sự dồi dào các nhân tố sản xuất (Heckscher - Ohlin)
....................................................................................................................5
1.1.2 Mô hình viên kim cương của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh......5
1.1.2.1 Điều kiện về nhân tố ......................................................................6
.1.2.2 Điều kiện về cầu...............................................................................7
1.1.2.3 Các ngành hỗ trợ và liên quan........................................................8
1.1.2.4 Chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh.................................................9
1.1.2.5 Vai trò của Chính phủ...................................................................10
1.2

TỔNG

QUAN


2
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ SẢN XUẤT VÀ
KINH DOANH CỦA HTX NN AN GIANG TRONG THỜI GIAN QUA ......18

2.1

TỔNG

QUAN

VỀ

HTX

NN

AN

GIANG ...................................................18
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển HTX kiểu mới ở An Giang...........18
2.1.1.1 Giai đoạn trước khi Luật HTX (chưa sửa đổi) ra đời....................18
2.1.1.2 Sự ra đời và phát triển của HTX kiểu mới đến năm 2004 ...........19
2.1.1.3 Đặc trưng của HTX NN kiểu mới và HTX NN kiểu cũ ...............20
2.1.2 Tình hình sản xuất và kinh doanh của HTX NN An Giang.................21
2.2

THỰC

TRẠNG



Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO LI THẾ CẠNH
TRANH CHO HTX NN AN GIANG..................................................................44

3.1

MỤC

TIÊU

PHÁT

TRIỂN

KTHT



HTX

NN

ĐẾN

NĂM

2010

CỦA


3.2.1 Nhóm giải pháp về phát triển sản xuất ..............................................45
3.2.1.1 Hoàn thiện hệ thống tổ chức sản xuất trong HTX NN.................45
3.2.1.2 Quy hoạch vùng nguyên liệu chất lượng cao và tăng cường quản
lý chất lượng nông sản..............................................................................46
3.2.1.3 Củng cố quan hệ bốn nhà.............................................................46
3.2.2 Nhóm giải pháp về thò trường .............................................................48
3.2.2.1 Củng cố thò trường nội đòa ............................................................48

3
3.2.2.2 Củng cố và phát triển thò trường xuất khẩu..................................49
3.2.2.3 Hoàn thiện công tác nghiên cứu và dự báo thò trường .................49
3.2.2.4 Xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản .............................50
3.2.2.5 Tổ chức liên kết hợp tác theo chuổi sản xuất kinh doanh............51
3.2.3 Nhóm giải pháp về công nghệ ...........................................................53
3.2.4 Nhóm giải pháp về tài chính ..............................................................54
3.2.5 Nhóm giải pháp về nhân lực ..............................................................55
3.2.5.1 Đào tạo nguồn nhân lực đòa phương.............................................55
3.2.5.2 Tận dụng và phát huy tính cộng đồng nông thôn.........................56

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..............................................................................57
1.

KIẾN

NGHỊ

VỚI

UBND
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sự quan tâm sâu sắc của chính phủ để phát triển nền kinh tế nông nghiệp đã
làm cho mô hình HTX kiểu mới và kinh tế trang trại ở cả nước nói chung và An
Giang nói riêng phát triển một cách mạnh mẽ. Mục đích cho sự ra đời của HTX
kiểu mới và kinh tế trang trại là để phát huy triệt để nguồn lực kinh tế từ nông
nghiệp cũng như dịch vụ nông nghiệp. Sự ra đời của HTX kiểu mới ở An Giang đã
mang lại những giá trị lợi ích kinh tế to lớn từ việc giải quyết nguồn lao động dư
thừa của địa phương đến việc phát huy và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất
góp phần tăng trưởng cho Tỉnh An Giang và cả nước. Trong những năm qua, tuy
An Giang đạt được những thành quả to lớn từ sản phẩm nông nghiệp nhưng vẫn còn
gặp nhiều khó khăn và hạn chế trong sản xuất và tiêu thụ như giá cả còn thấp, chất
lượng chưa cao, sức cạnh tranh kém… Nguyên nhân chủ yếu là do chưa nghiên
cứu kỹ nhu cầu, tiềm năng và lợi thế của địa phương, dẫn đến các HTX được hình
thành ồ ạt mà chưa có sự quy hoạch một cách đồng bộ nên tạo ra nhiều trở ngại làm
giảm lợi thế cạnh tranh cho các HTX. Từ thực tế trên, luận văn “Một số giải pháp
nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh cho HTX NN AN Giang” là thật sự cần thiết
cho việc tìm ra giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các HTX NN An Giang,
góp phần tăng trưởng nền kinh tế nông nghiệp trong cả nước và cả ở An Giang.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào việc phân tích, đánh giá thực trạng và các nhân tố của HTX
NN An Giang trong mô hình viên kim cương của Porter. Từ đó đưa ra những tồn
tại, những hạn chế làm giảm lợi thế cạnh tranh của HTX, cũng như làm sáng tỏ lý
thuyết về lợi thế cạnh tranh trong mô hình viên kim cương của Porter. Cuối cùng là
rút ra những mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và nguy cơ của HTX, từ đó đề xuất những


6
7. Những điểm mới của đề tài
- Làm giàu thêm lý luận về lợi thế cạnh tranh. Đó là lý luận về mô hình viên
kim cương của Michael Porter.
- Đề tài vận dụng sáng tạo mô hình viên kim cương vào thực tiễn ngành nghề
nông nghiệp, nhất là mô hình viên kim cương là một lĩnh vực hoàn toàn mới trong
nghiên cứu ứng dụng vào các hợp tác xã nông nghiệp ở An Giang.
- Đưa ra các phân tích đầy mới mẻ về thực trạng các nhân tố sản xuất của các
hợp tác xã nông nghiệp An Giang.
- Đề xuất một hệ thống các nhóm giải pháp có thể vận dụng hoặc làm cơ sở
để tiếp tục nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh cho các hợp tác xã nông nghiệp ở An
Giang nói riêng và cả nước nói chung.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung của luận án gồm có 3 chương sau:
- Chương 1: Tổng quan lý luận về lợi thế cạnh tranh
- Chương 2: Phân tích thực trạng các nhân tố sản xuất và kinh doanh của
HTX NN An Giang trong thời gian qua
- Chương 3: Giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh cho HTX NN An Giang

7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ LỢI THẾ CẠNH
TRANH VÀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH
1.1.1 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
1.1.1.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối (Adam Smith)
Theo Adam Smith các quốc gia sẽ có lợi khi tiến hành chuyên môn hoá sản
xuất và trao đổi sản phẩm cho nhau. Khi tiến hành phân công lao động giữa các
quốc gia thì phải dựa trên lợi thế tuyệt đối của quốc gia mình, tức là các quốc gia
nên tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có hao phí cá biệt thấp hơn hao

sản phẩm sản xuất ra được chia thành hai loại: sản phẩm thâm dụng về lao động và
sản phẩm thâm dụng về vốn. Đồng thời các quốc gia cũng chia thành hai nhóm
tương ứng, đó là các quốc gia dồi dào về lao động, và các quốc gia dồi dào về vốn.
Đối với các quốc gia dồi dào về vốn thì sẽ có lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất
những mặt hàng thâm dụng về vốn, tương tự các quốc gia dồi dào về lao động thì sẽ
có chi phí nhân công thấp. Do đó, có xu hướng dẫn đến giá phí thấp và sẽ có lợi thế
cạnh tranh về mặt hàng mà quốc gia đó sản xuất.
Theo Heckscher – Ohlin, các quốc gia có lợi thế cạnh tranh khác nhau là do
sự khan hiếm tương đối của các yếu tố sản xuất khác nhau từ sự khác nhau của cơ
cấu nguồn lực sẵn có và các giai đoạn phát triển khác nhau. Từ đó, cho thấy rằng
trong một nền kinh tế, việc sử dụng lợi thế cạnh tranh là quá trình lựa chọn cơ cấu
ngành phù hợp. Sự kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất khác nhau sẽ tạo thành
các hàng hoá khác nhau, vì thế mỗi quốc gia nên chọn cho mình một cơ cấu ngành
hàng phù hợp với nguồn lực sẵn có của mình.
1.1.2 Mô hình viên kim cương của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh
Trong tác phẩm lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận dụng cơ sở lý luận
cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết
nổi tiếng là mô hình “viên kim cương”. Ông cho rằng không có quốc gia nào có lợi

9
thế cạnh tranh ở tất cả các ngành hay hầu hết các ngành. Mỗi quốc gia chỉ có thể
thành cơng ở những ngành nhất định có lợi thế cạnh tranh bền vững khi tham gia
vào thương trường kinh doanh quốc tế. Các yếu tố quyết định của mơ hình bao
gồm: điều kiện về các nhân tố; điều kiện về cầu; các ngành cơng nghiệp hỗ trợ và
liên quan; chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh của DN. Ngồi ra, còn có hai biến bổ
sung là vai trò của nhà nước và các yếu tố thời cơ.
Hình 1.1: Mơ hình viên kim cương của Michael Porter

ngành. Các nhân tố cơ bản bao gồm nguồn tài nguyên, đất đai, khí hậu, lao động
giản đơn và nguồn vốn tài chính. Các nhân tố tiên tiến bao gồm hệ thống hạ tầng
viễn thông hiện đại, kỹ sư, lao động có tay nghề và trình độ cao. Các nhân tố phổ
biến là nhân tố sử dụng chung cho tất cả các ngành như hệ thống đường cao tốc,
vốn tín dụng, lao động có trình độ trung học. Còn nhân tố chuyên ngành chỉ phù
hợp với một số ít ngành hoặc thậm chí chỉ có một ngành như cơ sở hạ tầng có
những tính chất đặc thù, tri thức của một chuyên ngành cụ thể, kỹ năng cụ thể.
Như vậy, theo Porter, để tạo ra lợi thế cạnh tranh thì phụ thuộc nhiều vào
việc sở hữu các yếu tố cải tiến và chuyên ngành. Bởi vì theo thời gian, những nhân
tố hôm nay là nhân tố chuyên dùng hay tiên tiến thì ngày mai có thể là nhân tố phổ
biến và cơ bản, do đó lợi thế cạnh tranh sẽ phụ thuộc nhiều vào việc tạo ra các nhân
tố đầu vào.
1.1.2.2 Điều kiện về cầu
Cạnh tranh quốc tế không làm giảm tầm quan trọng của nhu cầu nội địa. Khi
thị trường cho một sản phẩm đặc biệt ở địa phương lớn hơn nước ngoài thì các DN
trong nước sẽ dành nhiều quan tâm đối với sản phẩm đó hơn các DN nước ngoài,
dẫn đến lợi thế cạnh tranh khi các DN bắt đầu xuất khẩu sản phẩm. Bản chất của
nhu cầu trong nước xác định cách thức DN nhận thức, lý giải và phản ứng trước nhu
cầu của người mua. Người mua có đòi hỏi càng cao sẽ càng tạo cho DN áp lực đáp
ứng các tiêu chuẩn cao đó về chất lượng, về kỹ thuật và dịch vụ; hoặc tạo sức ép
chuyển sang đáp ứng đoạn nhu cầu mới, cao cấp hơn và do đó nâng cao lợi thế cạnh
tranh. Và nếu như nhu cầu trong nước lan toả sang các nước khác thì DN không chỉ
được lợi từ sản phẩm mới mà còn được lợi từ việc tiếp cận các khách hàng có nhu
cầu cao đó.

11
Mặt khác, mức độ cạnh tranh trong nước có vai trò quan trọng tác động tích
cực hoặc tiêu cực đến lợi thế cạnh tranh thông qua quy mô thị trường. Nếu số lượng
người mua ít sẽ tạo ra lợi thế tĩnh nhưng có thể làm giảm lợi thế động, ngược lại số
lượng người mua nhiều sẽ tạo sự đa dạng về nhu cầu và tăng sức ép cạnh tranh giữa

theo kiểu gia đình. Không có một chiến lược toàn cầu chung hay một học thuyết
quản lý cho mọi hình thức nhưng có sự khác nhau về ý tưởng quản trị. Chiến lược
cũng như cấu trúc và cách thức quản lý phải tương thích với những khía cạnh văn
hoá nói trên mà quốc gia đó ưa chuộng. Lợi thế cạnh tranh thường là kết quả của
việc kết hợp tốt các yếu tố trên với cơ sở của lợi thế cạnh tranh. Hơn nữa, mô hình
cạnh tranh trong nước có vai trò rất lớn trong quá trình đổi mới và thành công trên
thị trường quốc tế. Những khác biệt về trình độ quản lý và kỹ năng tổ chức như
trình độ học vấn, sức mạnh động cơ cá nhân, mục tiêu của nhà quản lý, các công cụ
ra quyết định, quan hệ khách hàng, thái độ với hoạt động quốc tế, quan hệ giữa
người lao động với bộ máy quản lý… tạo ra lợi thế hay bất lợi cho DN.
Mục tiêu của DN bị tác động chủ yếu bởi cấu trúc sở hữu, động cơ của chủ
sở hữu và chủ nợ, bản chất cơ cấu quản lý công ty, các khuyến khích tạo thành động
cơ của người quản lý cấp cao. Vấn đề quan trọng là người quản lý và người lao
động có động cơ phát triển kỹ năng của mình cũng như nỗ lực để tạo ra và duy trì
lợi thế cạnh tranh. Các nhân tố quan trọng xác định ứng xử của cá nhân là hệ thống
lương, thưởng; quan hệ giữa các cấp hữu quan; tăng cường đầu tư kỹ năng một cách
thường xuyên, hiểu biết tốt hơn về ngành nghề kinh doanh, trao đổi ý tưởng giữa
các bộ phận…
Cạnh tranh trong nước có tác động mạnh hơn cạnh tranh quốc tế trong những
trường hợp cải tiến và đổi mới là nhân tố cơ bản của lợi thế cạnh tranh. Cạnh tranh
trong nước tạo ra những ích lợi như: sự thành công của một DN tạo sức ép phải cải
tiến đối với đối thủ cạnh tranh hiện tại và thu hút sự tham gia của đối thủ mới; hay
là tạo ra sức ép cạnh tranh không chỉ vì lý do lợi ích kinh tế mà còn vì lý do cá nhân

13
và danh dự; hoặc tạo sức ép bán hàng ra thị trường nước ngoài khi qui mô kinh tế
hiệu quả. Mặt khác cạnh tranh trong nước cũng tạo ra sức ép làm thay đổi cách thức
cải tiến lợi thế cạnh tranh như: phát huy lợi thế dựa vào tính chất độc đáo của sản
phẩm và hàm lượng công nghệ cao hơn là lợi thế dựa vào tài nguyên và chi phí lao
động thấp. Có nhiều đối thủ cạnh tranh trong nước sẽ khắc phục một số bất lợi khi

viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định
của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng
nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. Theo
định nghĩa của Liên minh HTX quốc tế (ICA) được thực hiện năm 1995: “HTX là
một tổ chức chính trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng nhu cầu
và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp
cùng sở hữu và quản lý dân chủ”. Định nghĩa này còn được hiểu như sau: “HTX
dựa trên ý nghĩa tự cứu mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn
kết, theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin
tưởng vào ý nghĩa đạo đức về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan
tâm chăm sóc người khác”.
- Định nghĩa HTX NN: Theo Nghị định 43/CP của Chính phủ (29.4.1997)
về việc ban hành Điều lệ mẫu HTX NN thì: “HTX NN là tổ chức kinh tế tự chủ, do
nông dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp
vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể và
của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ
trợ cho kinh tế hộ gia đình của các xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất,
chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và kinh doanh
các ngành nghề khác ở nông thôn, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp”.
1.2.1.2 Tính tất yếu khách quan của việc hình thành HTX NN ở An Giang.
Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hoá, toàn bộ các tư liệu sản xuất cơ
bản như trâu, bò, xe, máy móc cũng như ruộng đất được tập thế hoá thành tài sản

15
của HTX. Hoạt động của HTX phải tuân thủ các quyết định từ cấp trên đưa xuống.
Do đó, trong giai đoạn này các HTX không phát huy được hiệu quả và tiềm lực kinh
tế của mình. Từ khi kinh tế thị trường hình thành và phát triển, các quan hệ sản xuất
đều chịu sự chi phối của thị trường và bị ràng buộc bởi thị trường. Cùng lúc đó,
Nghị quyết 10 NQ/TW của Bộ chính trị (05/04/1988) đã ra đời và khẳng định vai

đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao, HTX là bộ phận nòng cốt
của kinh tế hợp tác”.
Từ quan điểm nêu trên có thể rút ra các đặc điểm sau:
- Cần nhận thức rõ KTHT là yêu cầu và xu thế tất yếu khách quan trong quá
trình phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, và kinh tế HTX là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tuy
nhiên, HTX hoạt động theo nguyên tắc bình đẳng, hợp tác và phát triển cộng đồng,
nên phải trải qua quá trình tích cực tác động, tạo ra các yếu tố về con người, điều
kiện hợp tác cần thiết và tích luỹ đầu tư để phát triển vững chắc.
- Để thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đáp ứng yêu cầu hội
nhập, bên cạnh củng cố và phát triển HTX NN, cần đồng thời đẩy mạnh phát triển
kinh tế tư nhân với nhiều hình thức đa dạng nhằm tạo tiền đề cho việc phát triển
HTX NN ngày càng ổn định và bền vững.
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển HTX của một số nước trên thế giới
1.2.2.1 Thái Lan
Thái Lan là một quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á, có diện tích canh tác
19.620.000 ha gấp 2.62 lần Việt Nam. Trong khi đó, dân số của Thái Lan chỉ có
58,6 triệu dân, bình quân đất canh tác trên đầu người gấp 4 lần Việt Nam. Cách đây
25 năm, Thái Lan là một nước nông nghiệp lạc hậu, nhưng hiện nay Thái Lan lại là
một nước phát triển trong khu vực. Sự phát triển vượt bậc đó nhờ vào chính sách
đổi mới của chính phủ Thái Lan: (1) coi trọng nông nghiệp nông thôn là xương
sống của đất nước; (2) thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (3) đẩy mạnh công

17
nghiệp chế biến bảo quản nông sản, nâng cao chất lượng sản phẩm; và (4) đưa ra
nhiều chính sách khuyến khích xuất khẩu gạo.
HTX NN ở Thái Lan được hình thành từ năm 1916 với chức năng ban đầu là
cung cấp dịch vụ tín dụng hỗ trợ vốn với lãi suất thấp để giúp đỡ nông dân trang trải
được món nợ đối với những người cho vay nặng lãi. Từ khi ra đời cho đến nay các
loại hình HTX phát triển không ngừng, đầu năm 1990 cả nước có 3009 HTX với

chuyên ngành. HTX NN tổng hợp: có chức năng phục vụ đầu vào và đầu ra cho
hoạt động sản xuất nông nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, đời sống cho nông dân xã viên.
HTX NN chuyên ngành nhằm thực hiện các dịch vụ cung ứng vật tư, thiết bị
chuyên dùng cho xã viên theo ngành như thức ăn gia súc, dịch vụ thú y, vật tư… và
đảm nhận thu mua và tiêu thụ các sản phẩm chuyên ngành của các hộ nông dân xã
viên.
HTX NN Nhật Bản được đặc trưng bởi hệ thống 3 cấp: các HTX NN cơ sở,
các liên hiệp và các liên đoàn quốc gia. (1) Các tổ chức HTX cơ sở được tổ chức ở
cấp làng, thị trấn và thành phố trực thuộc tỉnh, gồm những thành viên thường xuyên
là nông dân và các thành viên liên kết khác. HTX NN cơ sở có 2 loại: HTX NN đa
chức năng và HTX NN đơn chức năng. HTX NN đa chức năng có nhiệm vụ tiếp thị
sản phẩm nông nghiệp, cung cấp nguyên liệu sản xuất và các vật dụng thiết yếu
hàng ngày; Cho vay và đầu tư vốn, cung cấp bảo hiểm... HTX NN đơn chức năng
hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất cụ thể như chế biến sửa, nuôi gia cầm và các
nghề truyền thống khác. Ngoài ra, còn có chức năng tiếp thị sản phẩm của các xã
viên thành viên và cung cấp nguyên liệu sản xuất... (2) Các tổ chức HTX cấp tỉnh:
Các HTX NN được điều hành, quản lý thông qua các liên đoàn, các hiệp hội HTX
NN tỉnh và các liên minh HTX NN tỉnh. (3) Các liên đoàn HTX cấp tỉnh điều phối
các hoạt động của các HTX trong phạm vi, quyền hạn của mình, đồng thời cung cấp
các dịch vụ tài chính, bảo hiểm, tiếp thị cho các HTX thành viên. Các liên hiệp
HTX tỉnh chỉ đạo các vấn đề về tổ chức, quản lý, giáo dục, nghiên cứu cũng như
đưa các kiến nghị lên các cơ quan của Chính phủ. Các liên minh HTX NN tỉnh có
nhiệm vụ giám sát và quản lý toàn bộ hoạt động của các HTX NN liên kết.

19
Để giúp các tổ chức HTX hoạt động, Chính phủ Nhật Bản đã tăng cường xây
dựng hệ thống phục vụ xã hội hoá nông nghiệp, coi HTX NN là một trong những
hình thức phục vụ xã hội hoá tốt nhất và yêu cầu các cấp, ngành phải giúp đỡ và bảo
vệ quyền lợi hợp pháp cho họ. Đồng thời, Chính phủ còn yêu cầu các ngành tài
chính, thương nghiệp giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, tư liệu sản xuất…, tuy nhiên, vẫn

(1) HTX cấp cơ sở: nhằm thực hiện chức năng sản xuất và đa dạng hoá các
loại hình dịch vụ.
(2) HTX cấp tỉnh: thực hiện việc chuyển giao khoa học công nghệ mới và kỹ
thuật sản xuất đến các HTX cơ sở.
(3)Liên hiệp HTX cấp tỉnh: hỗ trợ thông tin về đầu vào và đầu ra cho các
HTX, cung cấp các dịch vụ tài chính, bảo hiểm và tiếp thị cho các HTX cơ sở. Tổ
chức nghiên cứu và kiến nghị với chính phủ những thay đổi của chính sách nhằm
phù hợp với tình hình mới.

1.3 MÔ HÌNH VÀ TRÌNH TỰ NGHIÊN CỨU (xem phụ lục 1)

21
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ SẢN
XUẤT VÀ KINH DOANH CỦA HTX NN AN GIANG TRONG
THỜI GIAN QUA
2.1 TỔNG QUAN VỀ HTX NN AN GIANG
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển HTX kiểu mới ở An Giang.
2.1.1.1 Giai đoạn trước khi Luật HTX (chưa sửa đổi) ra đời.
Năm 1976, hình thức sơ khai của HTX tồn tại dưới dạng Tổ Liên Kết sản
xuất, dần dần phát triển lên thành Tập Đoàn sản xuất rồi đến HTX. Đến cuối năm
1980, An Giang có 347 Tập đoàn sản xuất, 6 HTX, 1693 Tổ đoàn kết sản xuất và 69
Tập đoàn cơ giới. Ngày 30/4/1985 An Giang công bố hoàn thành cơ bản hợp tác
hoá nông nghiệp với gần 80% ruộng đất nông nghiệp được tập thể hoá. Toàn tỉnh có
2.607 Tập đoàn sản xuất, 7 HTX, tập thể hoá 93% diện tích canh tác trong đó gần
100% diện tích lúa, còn 132 Liên tập đoàn sản xuất gồm 560 tập đoàn viên. Mãi đến
năm 1988, vai trò của hộ gia đình đã được thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ.
Quyết định này đã tạo động lực thúc đẩy tốc độ phát triển của kinh tế hàng hoá và
dịch vụ. Trên cơ sở đó, từ năm 1988 – 1989, tỉnh đã thực hiện giao quyền sử dụng
ruộng đất lâu dài cho hộ dân và có chủ trương chuyển đổi các ban quản lý tập đoàn
sản xuất, HTX qua làm dịch vụ phục vụ xã viên, tập đoàn viên. Đứng trước những

Bảng 2.1: Số lượng HTX NN An Giang qua các năm

Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Số lượng HTX 7 61 78 86 102 107 114 106
(Nguồn: Liên Minh HTX An Giang)
Qua bảng số liệu trên cho thấy, bình quân mỗi năm ở An Giang tăng từ 15
đến 16 HTX, nhất là những năm 1997 đến năm 1999, tốc độ tăng rất cao khoảng 9
đến 10 lần. Tuy nhiên, từ năm 2001 đến năm 2003, tốc độ phát triển HTX tăng

23
tương đối chậm, đặc biệt năm 2004 đã có dấu hiệu giảm xuống. Đây là do tác động
của chính quyền An Giang trong việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của
các HTX NN và trang trại trong toàn tỉnh.

Hình 2.1: Đồ thị biểu diễn tốc độ phát triển của HTX qua các năm
7
61
78
86
102
107
114
106
0
20
40
60
80
100
120

các hoạt động theo luật định
- Thành viên tự chủ trong SXKD, HTX thực
hiện những gì mà thành viên riêng lẻ không
làm được hoặc làm không hiệu quả nhằm hỗ
trợ cho các thành viên phát triển
- Xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ
Quan hệ sở hữu

- Dựa trên cơ sở tập thể hoá quyền
sở hữu ruộng đất và các tư liệu sản
xuất của các nông hộ.
- Sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân
không được phân định rõ ràng
- Dựa trên cơ sở quyền tự chủ kinh doanh
của mỗi nông hộ. Xã viên góp vốn, góp sức
theo luật định mà không phải bị tập thể hoá
quyền sở hữu và tư liệu sản xuất.
- Sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân được
phân định rõ ràng theo tỷ lệ góp vốn
Cơ chế quản lý đối với HTX

- HTX bị ràng buộc bởi cơ chế kế
hoạch hoá tập trung bao cấp.
- Không chịu trách nhiệm về kết quả
SXKD, nhà nước sẽ chịu trách
nhiệm phân phối và cấp phát.
- Nhà nước can thiệp trực tiếp vào
HTX thông qua các chỉ đạo từ trên
xuống
- Đơn vị kinh doanh độc lập trong cơ chế thị

sản và gạo là hai mặt hàng chủ lực trong tỉnh.
Hình 2.2: Sản lượng lúa của An Giang giai đoạn 1990-2004
2113
1470
1515
1738
1817
1926
2169
2178
2038
2220
2364
2349
2594
2686
3000
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
1000 taán

(Nguồn: Niên Giám thống kê An Giang)
Như vậy, bình quân hàng năm sản lượng lúa ở An Giang tăng lên từ 100 tấn
đến 200 tấn. Điều đó cho thấy đã có sự chuyển biến tích cực trong sản xuất nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status