Điện từ sinh học / Mô hình nơ ron điện tử ( phần 3 ) - Pdf 18

Điện từ sinh học / Mô hình nơ ron điện tử ( phần 3 )
4.2 Mô hình nơron của Harmon
Quá trình thực hiện mạch điện tử của mô hình Hodgkin-Huxley là rất
chính xác trong việc mô phỏng hàm số của một nơron đơn lẻ. Tuy nhiên,
khi một ai đó thực hiện việc mô phỏng hàm số mạng nơron thì chúng trở
nên vô cùng phức tạp. Rất nhiều nhà khoa học cảm thấy rằng khi mô
phỏng một mạng nơron lớn thì cấu trúc bên trong của các phần tử của nó
có thể là không quá quan trọng. Nó có thể được thoả mãn một cách đơn
giản để đảm bảo rằng các phần tự tạo ra một xung hoạt động tương ứng
với các kích thích trong một phần tương tự đối với một nơron thực tế.
Dựa trên nguyên tắc này, Leon D. Harmon cấu tạo nên mô hình nơron có
một mạch rất đơn giản. Với mô hình này, ông đã thực hiện các thí nghiệm
trong đó ông mô phỏng rất nhiều các hàm về thông số của các nơron
(Harmon, 1961).
Mạch của mô hình Harnon được chỉ ra trong hình 10.13. Hình 10.13A và
10.13B chỉ ra các phiên bản sơ bộ và đầy đủ của mạch điện tương ứng.
Mô hình được cấu tạo với 5 đầu vào kích thích có thể điều chỉnh được.
Các mô hình này bao gồm các mạch điốt đặc trưng cho các hàm kỳ tiếp
hợp khác nhau. Tín hiệu được đưa tới đầu vào kích thích làm thay đổi giá
trị điện áp trên tụ điện mà sau khi đạt tới 1,5V nó cho phép một bộ tạo
xung ổn định đơn tạo được thông qua hai transistor T1và T2 nhằm tạo ra
xung động. Xung này được khuếch đại bơỉ transistor T3 và T4. Đầu ra
của một mô hình nơron có thể điều chỉnh các đầu vào của khoảng 100 mô
hình nơron lân cận. Mô hình cơ bản cũng bao gồm đầu vào hạn chế kích
thích. Một xung được đưa vào tại đầu vào có ảnh hướng tới quá trình
giảm của bộ cảm nhận đầu vào kích thích.
Không cần có mạch ngoài, Harmon đã nghiên cứu thành công 7 thông số
của mô hình nơron. Nó được miêu tả trong hình 10.14 và được mô tả
ngắn gọn ở dưới đây
Giai đoạn trơ ì (khôi phục kích thích)

Quá trình khôi phục kích thích thông thường của mô hình sau khi xung
kích hoạt được chỉ ra trên hình 10.14C. Đường cong này tương tự với
đường cong đối với các nơron sinh học. Mô hình nơron khôi phục hoàn
toàn trong khoảng thời gian là 1ms – đó chính là thời gian xung xuất hiện
tại đầu ra. Chu kỳ khôi phục tương đối bắt đầu sau khi thời gian bắt đầu
(t=0) và sau một khoảng thời gian cố định khoảng 1,7ms. Đường cong A
nhận được khi các kích thích được cung cấp một tín hiệu tại đầu vào.
Đường cong B đặc trưng cho trường hợp khi các kích thích được cung
cấp ngay lập tức tới 3 đầu vào (xem hình 10.13).

Xung đầu ra, xung hoạt động

Xung đầu ra tuân theo định luật tất cả hoặc là không và biên độ của nó
khá ổn định. Tuy nhiên, độ rộng của nó là một vài mức độ hàm số của tần
số xung. Sự phụ thuộc này được đưa ra trong hình 10.14D.

Độ trễ

Trong trường hợp này, độ trễ được coi là khoảng thời gian giữa thời điểm
hoạt động của các xung kích thích và xung đầu ra. Nó không có nghĩa là
trễ thông thường như chúng ta thường biết đến. Trong mô hình này, trễ
làm một hàm số của sự tích hợp tại đầu vào cũng như là điều kiện khôi
phục. Đường cong A trong hình 10.14E đặc trưng cho độ trễ khi các kích
thích được cung cấp tới một đầu vào và đường cong B là khi các kích
thích được cung cấp tới tất cả 5 đầu vào kích thích.

Kích thích lặp


hình, được mô tả trên hình 10.15 có thể được coi là bao gồm một mạng
của các thành phần màng tế bào cũng như là chuỗi điện trở trục đặc trưng
cho các điện trở tế bào bên trong. Tổng của 6 phần tử được mô tả trên
hình. Mô hình là một quá trình thực hiện điện tử của mô hình bộ dẫn dây
lõi tuyến tính cùng với các màng tế bào hoạt động.
Hình 10.16A và 10.16B mô tả một mô phỏng của quá trình truyền xung
hoạt động trong mô hình bao gồm một chuỗi các đơn vị sợi thần kinh nối
tiếp như được mô tả trên hình 10.15. Đường cong A đặc trưng cho trường
hợp một chuỗi 6 đơn vị nối tiếp còn đường B là một chuỗi tròn gồm 10
đơn vị. Sau đó các tín hiệu sẽ được ghi lại sau từng giây một. Mô hình 6
đơn vị đặc trưng cho phần của xung sợi thần kinh ống 4cm dài và có bán
kính bằng 1mm. Hình 10.16A chỉ ra thời gian dẫn của xung kích hoạt từ 3
đơn vị tới 6 đơn vị là 1,4ms. Do mô hình 6 đơn vị đầy đủ tạo nên 5 lần
tăng lên của khoảng cách nên tốc độ dẫn của mô hình là khoảng 17m/s.
Nó có thể so sánh với tốc độ dẫn thực sự đo được trong sợi thần kinh ống
là từ 14-23m/s.
Hình 10.15. Mô hình Lewis mô phỏng quá trình truyền xung hoạt động.
Hình 10.16. Quá trình truyền của xung hoạt động trong mô hình Lewis
cho vòng (A) sáu đơn vị (B) 10 đơn vị.

6 Thực hiện mạch tích hợp
Sự phát triển của kỹ thuật mạch tích hợp đã tạo ra những mô hình nơron
điện tử rất lớn (Mahowadd et al., 1992). Điều này làm cho các mô hình
nơron điện tử hoặc mạch giống nơron có thể sử dụng như là các phần tử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status