Tham khảo một số nội dung môn KTPT - Pdf 18

MÔN KTPT
CÂU HỎI 1: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ. LIÊN HỆ VÀO ĐIỀU KIỆN VIỆT
NAM
Tất cả các quốc gia trên TG, không phân biệt
khuynh hướng chính trị khi đã giành được độc lập có chủ
quyền, đều xác lập cho mình chiến lược phát triển kinh tế XH.
Những mục tiêu phát triển đều dựa vào khả năng
khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài. mỗi quốc gia
trên TG đều có sự kết hợp và khả năng khai thác các nguồn
lực khác nhau. Song, quan niệm chung nhất là phải tạo ra
được sự tiến bộ toàn diện cả về kinh tế và xh, nhưng coi tăng
trưởng là tiền đề cần thiết cho sự phát triển.
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt
của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao
gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ
cấu kinh tế xã hội. Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng
thêm giá trị sản lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự biến đổi
tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý có
khả năng khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài. Sự
tác động của tăng trưởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội,
cải thiện đời sống dân cư, giảm bớt đói nghèo, rút ngắn
khoảng cách giữa các tầng lớp dân cư, bảo đảm công bằng xã
hội. Sự phát triển là quy luật tiến hóa, song nó chịu tác động
của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố nội lực của nền kinh tế có
ý nghĩa quyết định, còn nhân tố bên ngoài có vai trò quan
trọng. Phát triển kinh tế phản ánh sự vận động của nền kinh tế
từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn, từ chưa hoàn thiện đến
hoàn thiện bao gồm cả số lượng và chất lượng.
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng về qui mô, sản

nguyên thiên nhiên, nguồn lực khoa học và công nghệ.
Vốn sản xuất là những tư liệu sản xuất như máy
móc, thiết bị, phương tiện vận tải, kho tàng, kết cấu hạ tầng và
kỹ thuật… Vốn đối với sản xuất là yếu vô cùng quan trọng.
Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số
vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa. Tất
nhiên, trong thực tế sự tăng thêm giá trị sản lượng hàng hóa
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, chẳng hạn chất
lượng lao động, trình độ kỹ thuật… Xét trong phạm vi nền
kinh tế, ở các nước đang phát triển có một vấn đề là : do tích
lũy thấp nên đầu tư thấp, điều đó làm cho kỹ thuật và công
nghệ thấp dẫn đến năng suất lao động thấp, điều này lại dẫn
đến tích lũy thấp và cứ trong vòng lẩn quẩn như vậy. Nhân tố
phá vỡ cái vòng lẩn quẩn này là vốn. Vốn là yếu tố quan trọng
nhất của quá trình sản xuất, vốn đầu tư vừa là yếu tố đầu vào
vừa là sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất. Vốn đầu tư là
cơ sở tạo ra vốn sản xuất làm tăng năng lực sản xuất của
doanh nghiệp, của nền kinh tế, là điều kiện góp phần đầu tư
chiều sâu, hiện đại hóa nền kinh tế. Việc tăng vốn đầu tư đã
mở rộng qui mô sản xuất phát triển ngành nghề, giải quyết
việc làm cho người lao động. Việc bố trí cơ cấu đầu tư đúng
đắn và sử dụng vốn có hiệu quả sẽ có tác động làm chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện cho tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Ở nước ta tỷ lệ vốn đầu tư/ GDP năm 1995 là
33% đến năm 1999 là 39%, năm 2002 là 44%. Trong giai
đoạn 2001-2005 huy động được nguồn vốn đầu tư 59-61
triệu USD. Trong vòng 20 năm, GDP tăng 4 lần, hơn 40 triệu
người dân thoát khỏi đói, nghèo. Với việc trở thành thành
viên WTO, nền kinh tế nước ta được xác lập một vị thế mới,

cách là bộ phận dân số thực hiện quá trình tiêu dùng, nguồn
lao động trở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh tế. Điểm khác
biệt cơ bản giữa nguồn lao động với các nguồn lực khác là
vừa tham gia tạo cung, tạo cầu của nền kinh tế, vừa trực tiếp
điều tiết quan hệ đó gắn với các thể chế KT-XH do con người
tạo nên. Nguồn lực lao động vừa có nhu cầu tự thân để phát
triển với yêu cầu ngày càng cao và phong phú, vừa là chủ thể
sáng tạo công nghệ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế để thỏa mãn các
nhu cầu đó.
Để sử dụng nguồn lao động có hiệu quả, cần quán
triệt quan điểm : Phải thực sự coi nguồn lực con người là
nguồn vốn quan trọng và cơ bản nhất để tiến hành CNH,HĐH
ở nước ta; phải lấy hiệu quả làm tiêu chuẩn và thước đo để
đưa ra các chính sách về sử dụng nguồn lao động; quá trình sử
dụng lao động phải đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa yêu
cầu nâng cao chất lượng việc làm và toàn dụng lao động; quá
trình sử dụng lao động phải đồng thời nâng cao chất lượng
nguồn lao động. Sử dụng và phát triển nguồn lao động của
nền kinh tế là việc làm lâu dài và chịu sự chi phối của nhiều
nhân tố. Để làm tốt điều đó, đối với nước ta trong giai đoạn từ
nay đến năm 2020, cần thực hiện những biện pháp chủ yếu
sau đây :nâng cao trình độ dân trí, phát triển giáo dục và đào
tạo; khuyến khích phát triển kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ
cấu kinh tế để tạo thêm nhiều việc làm để sử dụng có hiệu quả
nguồn lao động; tạo lập và quản lý thị trường lao động; nâng
cao thể chất và thu nhập của người lao động; hạ thấp tỷ suất
sinh để giảm dần sức ép tăng lao động quá nhanh; mở rộng
xuất khẩu lao động; tăng cường các biện pháp hành chính,
kinh tế, giáo dục và động viên để nâng cao đạo đức, thái độ
lao động mới.

dụng trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc,
độc hại cho người lao động và tạo ra sự tăng trưởng nhanh
chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của xã hội hiện đại.
KH & CN mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế, thúc
đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng
sức cạnh tranh của hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị
trường. KH & CN thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Qua hơn 20 năm đổi mới, KH & CN nước ta
bước đầu có sự chuyển biến tích cực. Khoa học xã hội và
nhân văn đã chuyển hướng sang nghiên cứu, cung cấp những
luận cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược, chính sách,
chủ trương của Đảng, Nhà nước. Khoa học tự nhiên có nhiều
thành tựu trong nghiên cứu điều tra, góp phần tạo luận cứ
khoa học cho việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát
triển KT-XH. KH & CN đã gắn bó hơn với sản xuất và đời
sống, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của
tất cả các ngành, đặc biệt là ngành nông nghiệp ( ước tính 1/3
giá trị gia tăng của ngành trong những năm qua là do KH &
CN đóng góp ). Nhận thức của nhân dân ta về vị trí, vai trò
của KH & CN trong phát triển sản xuất, đời sống tăng lên
đáng kể. Số lượng cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên trong
những năm qua tăng 17,2 %/năm, trong đó cán bộ có trình độ
tiến sĩ tăng 7%/năm. Nhà nước đã thực hiện một số giải pháp
tích cực nhằm thúc đẩy KH & CN phát triển, đặc biệt đầu tư
vốn phục vụ cho KH & CN tăng lên.
Xuất phát từ nhận thức về vai trò và tính cấp thiết
của đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, việc phát
triển KH & CN nước ta cần quán triệt các quan điểm sau :
cùng với giáo dục và đào tạo, KH & CN là quốc sách hàng
đầu, là động lực phát triển KT-XH, là điều kiện cần thiết để

Một là thể chế chính trị và đường lối phát triển
KT-XH . Mối quan hệ biện chứng giữa thượng tầng kiến trúc
và hạ tầng cơ sở đã trở thành chân lý cho mọi thời đại, mọi
quốc gia có chế độ chính trị khác nhau. Sự tác động của ý chí,
thể chế thông qua hệ thống pháp luật do thượng tầng kiến trúc
đặt ra sẽ có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tăng trưởng
và phát triển.
Hai là đặc điểm dân tộc. Các dân tộc sống chung
trong một cộng đồng quốc gia dân tộc, nhưng lại có nhu cầu
khác nhau về văn hóa, kinh tế, tập quán sống và sản xuất
ngoài những điểm giống nhau. Việt Nam có 54 dân tộc khác
nhau, chắc chắn có nhiều điểm khác nhau giữa các dân tộc,
song họ đều có một mục tiêu chung là cùng nhau giữ nước và
xây dựng đất nước phồn vinh. Xã hội chỉ thực hiện được mục
tiêu đó khi huy động khai thác được những năng lực sản xuất,
tiềm năng KT-XH của các dân tộc vào việc thực hiện tăng
trưởng và phát triển, qua đó mỗi dân tộc đều có được lợi ích
nhờ lao động của chính bản thân mình. Thực hiện được như
vậy thì đặc điểm dân tộc mới trở thành nhân tố tích cực tác
động đến tăng trưởng và phát triển. Ngược lại, nếu phát triển
kinh tế đem lại lợi ích cho dân tộc này, nhưng lại gây tác hại
đến vùng khác, dân tộc khác thì không trở thành lực lượng
cần cho sự tăng trưởng và phát triển, mà sẽ trở thành nguyên
nhân của sự xung đột giữa các sắc tộc.
Ba là đặc điểm tôn giáo. Vấn đề tôn giáo gắn liền
với vấn đề dân tộc . Trong quốc gia đa dân tộc thường có
nhiều tôn giáo khác nhau. Quy mô và mức độ tín ngưỡng của
các tôn giáo phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã
hội. Song, dù ở quy mô và mức độ nào thì các đạo giáo đều có
quan niệm, triết lý, tư tưởng riêng ăn sâu vào cuộc sống của

cần các đk :
thứ nhất là sự ổn định chính trị- xã hội. Tăng
trưởng và phát triển kinh tế đòi hỏi phải có một thể chế CT-
XH ổn định. Sự ổn đó được xác lập trước hết bằng đường lối
phát triển KT-XH đúng đắn, thể hiện được ý chí phấn đấu cho
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh; phù hợp với các quy luật khách quan ; có khả năng
thu hút mọi lực lượng đầu tư, khai thác được các nguồn lực
trong nước và ngoài nước. Đường lối đó phải được thực thi
bằng hệ thống chính sách thích hợp, có khả năng cân đối ngân
sách, kiềm chế lạm phát, tạo ra được sự thăng bằng trong cán
cân thanh toán quốc tế và có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế,
từng bước tăng tỷ lệ đầu tư cho phát triển. Sự ổn định đường
lối phát triển KT-XH, hệ thống chính sách nhất quán, thích
hợp sẽ hấp dẫn đối tác đầu tư, tạo được lòng tin với bạn hàng
khu vực và quốc tế.
đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm tăng trưởng và
phát triển kinh tế.
Thứ hai là đầu tư phát triển khoa học và công nghệ
và có khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến của thế giới. Các
quốc gia muốn có tăng trưởng và phát trỉen kinh tế, nhất thiết
phải đầu tư cho giáo dục – đào tạo, phát triển khoa học và
công nghệ. Đó là nhằm thay đổi tận gốc lực lượng sản xuất,
tạo ra năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn, là đầu tư chiều
sâu.
Thứ ba là tăng trưởng kinh tế phải trở thành mục
tiêu phấn đấu của mọi người. Mọi thành viên trong XH, mọi
thành phần kinh tế đều phải lao động sáng tạo, làm ra nhiều
của cải, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh không phải

tế, thì còn cần phải chú trọng đến sự phát triển bền vững nữa.
Phát triển bền vững là sự phát triển bảo đảm hài hòa giữa tăng
trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, giữa kinh tế và văn hóa, giữa
kinh tế và môi trường. bài học về tăng trưởng ktế quá nóng ở
Trung quốc và một số nc đã cho thấy hậu quả khó lường
Ngày nay với xu thế hội nhập toàn cầu hóa kinh tế, hợp tác,
liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước, các khu vực
trên thế giới ngày càng tăng. Do vậy, cần có sự liên kết, hợp
tác chặt chẽ giữa các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực để
đảm bảo tăng trưởng và PT bền vững. vói các chương trinh cụ
thể đó là:
-Thứ nhất, cần bảo vệ, duy trì môi trường hòa
bình, ổn định và hợp tác ở tất cả các khu vực trên thế giới.
-Thứ hai, cần xây dựng một trật tự kinh tế quốc tế
bình đẳng, cùng có lợi. - Thứ ba, cần tăng cường hợp tác
quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu, nhất là vấn
đề môi trường và dịch bệnh.
Đối với Việt Nam, trong quá trình đổi mới hơn 20
năm qua theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phương châm
phát triển bền vững luôn được đề cao. Quan điểm xuyên suốt
của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam là: lấy con người
làm trung tâm, phát triển kinh tế vì con người; tăng trưởng
kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước phát triển và từng chính sách phát triển; tăng
trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục; xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
nâng cao dân trí, tăng cường giáo dục và đào tạo con người,
bảo vệ và cải thiện môi trường.
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt
Nam luôn nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự

quát tình hình kinh tế của mỗi nền kinh tế, là căn cứ để dự báo
sự phát triển tiếp theo của nền kinh tế đó trong những năm
sau.
Công bằng xã hội là mục tiêu cốt lõi của chính
sách xã hội, nhằm hướng tới ổn định xã hội, không ngừng
nâng cao chất lượng mọi mặt của đời sống nhân dân và sự
phát triển bền vững của đất nước
Các nhà kinh tế hiện nay thường sử dụng hai khái
niệm về công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều
dọc khi xem xét vấn đề công bằng xã hội:
Một là, công bằng theo chiều ngang, nghĩa là đối
xử như nhau với những người có đóng góp như nhau.
Hai là, công bằng theo chiều dọc, nghĩa là đối xử
khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh hoặc
có các điều kiện xã hội khác nhau.
Để đảm bảo công bằng xã hội cần phải kết hợp
công bằng theo chiều dọc với công bằng theo chiều ngang.
Các nhà kinh tế thường đưa ra sáu lý do sau đây
dẫn đến sự khác biệt bẩm sinh:
-Khả năng và kỹ năng lao động khác nhau.
-Cường độ làm việc khác nhau
-Sự khác nhau về nghề nghiệp
-Sự khác nhau về giáo dục và đào tạo
-Được hưởng thừa kế và chiếm hữu tài sản khác
nhau.
-Sự gánh chịu rủi ro khác nhau.
Xã hội công bằng đương nhiên không phải là một
xã hội bình quân cào bằng và cũng không chỉ công bằng về
chính trị, về pháp luật, về tự do tín ngưỡng và không tín
ngưỡng, về tự do dân chủ và sự bình đẳng về cơ hội sản xuất,

mức sống giữa các vùng dân cư…) và phát triển công bằng xã
hội lên một trình độ mới cao hơn. Tất nhiên, trong điều kiện
kinh tế thiếu thốn vẫn có thể và phải thực hiện công bằng xã
hội ở một mức độ nhất định, nhưng công bằng trong điều kiện
như vậy chỉ nặng về phía bình quân là công bằng ở trình độ
thấp, chưa vượt ra khỏi khuôn khổ của trật tự cũ.
Trong Đại hội IX của đảng không nhắc lại những
quan điểm của Đại hội VIII, nhưng nhấn mạnh: “ Thực hiện
các chính sách xã hội hướg vào phát triển và lành mạnh hoá
xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực
mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội,
thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích
nhân dân làm giàu hợp pháp”, và “ các chính sách xã hội được
tiến hành theo tinh thần xã hộihoá, đề cao trách nhiệm của
chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân
và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ cức xã hội”,
Để giải quyết mối quanh hệ tăng trưởng kinh tế
với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay cần có những giải
pháp sau
1. Nhà nước tạo môi trường cho phát triển sản
xuất, thu hút lao động, giải quyết việc làm.
Giải quyết việc làm là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của chính sách xã hội, là yếu tố quyết định để phát huy
nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, lành mạnh
hoá xã hội, đáp ứg nguyện vọng và yêu cầu bức xúc của nhân
dân. Muốn vậy phải thực hiệu đồng bộ các biên pháp: khuyến
khích các thành phần kinh tế, mở mang các ngành nghề, các
cơ sở sản xuất dịch vụ; khôi phục và phát triển các làng nghề;
đẩy mạnh phong trào lập nghề của thanh niên; đẩy mạnh xuất
khẩu lao động . nhằm tạo tạo ra nhiều việc làm mới, giảm

2. Về chính sách tiền lương và thu nhập:
Tiền lương và thu nhập phải thể hiện được sự công
bằng trong phân phối thêp kết quả lao động và hiệu quả kinh
tế. Cấn cải cách cơ bản chế độ tiền lương theo hướng tiền tệ
hoá đầy đủ; điều chỉnh tiền lương tương ứng với nhịp độ tăng
trưởng thu nhập trong xã hội; hệ thống thang bậc lương bảo
đảmtương quan hợp lý, khuyến khích người có tài, người làm
việc giỏi, khắc phục tình trạng bất hợp lý về trợ cấp của người
nghỉ hưu, thương binh, bênh binh và những ngwofi có hoàn
cảnh khó khăn.
Các doanh nghiệp được tự chủ trong công việc trả
lương và tiền lwong trên cơ sở năng suất lao động và hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhà nước và xã hội tôn trọng thu nhập hợp pháp
của người kinhdoanh.
3. Thực hiện chương tình xoá đối giảm nghèo.
Thông qua những biện pháp cụ thể, sát với tình
hình từng địa phương nhằm xoá nhanh các hộ đói, giảm mạnh
các hộ nghèo, mở rộng các hình thức tín dụng phục vụ người
nghèo sản xuất kinh doanh. Có chính sách trợ giá nông sản,
phát triển việc làm, mở rộng nghề phụ nhằm tăng thu nhập
cho các hộ nông dân . Nhà nước tạo môi trường thuận lợi,
khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng và
giúp đỡ người nghèo. Phấn đấu đếnnăm 2010 về cơ bản
không còn hộ đói, giảm đến mức thấp nhất hộ nghèo.
4. Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội.
Nhà nước làm nòng cốt và vận động toàn dân tham
gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa . . . đối với những người có
công với nước, các gia đình chíh sách.
5. Đảy mạnh công tác giáo dục, đào tạo và

biệt là ở cơ sở, bảo đảm các loại thuốc chữa bệnh thiết yếu
đến mọi địa bàn dân cư thực hiện công bằng trng chăm sóc
sức khoẻ. Nhà nước cần phải có chính sách hỗ trợ việc khám
chữa bệnh cho người nghèo, chăm sóc sức khoẻ đối trẻ em,
người già, những người khuyết tật, cô đơn, mất sức lao động.
Xã hội nào cũng có một bộ phân dân cư bị tật
nguyền bẩm sinh, do di chứng của một số căn bệnh hoặc do
hậu quả chiến tranh, tai nạn rủi ro v.v… làm mất khả năng lao
động. Nhà nước phải có chính sách bảo trợ cho những đối
tượng này, đồng thời cần có các chính sách thích hợp huy
động sự đóng góp của các đơn vị sản xuất kinh doanh, hành
chính sự nghiệp, các tổ cức chính trị - xã hội và các cá nhân
trong cộng đồng để cùng với Nhà nước chăm sóc người
khuyết tất, cô đơn, mất sức lao động, giúp họ ổn định và cải
thiện đời sống, tạo điều kiện cho họ vượt qua sự mặt cảm về
bản thân, hoà nhập cộng đồng; sử dụng phần sức lực của mình
vào các hoat động kinh tế, văn hoá, xã hội của cộng đồng.
7. Thực hiện tốt chính sách dân số và kế hoạch
hoá gia đình.
Vấn đề dân số có tác động to lớn đến sự phát triển
kinh tế, xã hội . . . thực hiện tốt chính sách dân số và kế hoạch
hoá gia đình là chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng
dân số, bảo đẩm sự phù hợp với những yêu cầu phát triển kinh
tế- xã hội. Vì vậy, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa phân
bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn nhân
lực. Phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số từ 1,4% năm 2000 xuống
còn khoảng 1,2% vào năm 2005 và khoảng 1,1% vào năm
2010; sớm ổn định quy mô dân số khoảng 88-89 triệu nguời
vào năm 2010.
8. Xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ

một cách đáng kể. Tuổi thọ trung bình của người dân đã tăng
từ 63 tuổi năm 1990 lên 71,3 tuổi năm 2005. Theo đánh giá
của Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt
Nam từ mức dưới trung bình là 0,498 năm 1991 đã tăng lên
mức 0,704 vào năm 2005. Riêng về giải quyết việc làm và
xóa đói, giảm nghèo, Việt Nam đã đạt được những thành công
được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Theo chuẩn nghèo quốc
tế, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993
xuống còn 19% năm 2006. Tính trung bình trong hơn 20 năm
đổi mới, mỗi năm Việt Nam giải quyết được việc làm cho
khoảng 1,2 triệu người lao động. Liên hợp quốc đánh giá Việt
Nam đã về đích sớm 10 năm về xóa đói, giảm nghèo trong
thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ “giảm một nửa tỷ lệ nghèo
vào năm 2015”; sự phát triển kinh tế của Việt Nam có xu
hướng phục vụ cho sự phát triển con người, bảo đảm công
bằng và tiến bộ xã hội trong mỗi bước tăng trưởng.
Trong việc thực hiện phát .triển kinh tế và xã hội,
không thể không tính đến những tác động của môi trường.
Trước thực tế gay gắt của tình trạng mất cân bằng sinh thái,
sự ô nhiễm của môi trường tự nhiên và sự suy thoái đạo đức,
sự lệch lạc các chuẩn mực giá trị của môi trường xã hội bởi
tác động mặt trái của kinh tế thị trường đang diễn ra như hiện
nay, hơn lúc nào hết, càng cần phải có chính sách và giải pháp
để giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, trong đó đói nghèo,
bệnh tật, thất học, thất nghiệp đang là những tình huống bức
xúc, nóng bỏng nhất. Cũng như vậy, tham nhũng, lãng phí, tệ
nạn, tội phạm cũng đang gây tổn hại cả vật chất lẫn tinh thần
cho xã hội, hơn nữa còn đặt xã hội và thể chế trước nguy cơ
mất ổn định, suy thoái. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và xã
hội trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự phát triển cân đối,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status