Một số nhân vật lòch sử Việt Nam
HOÀI VĂN HẦU TRẦN QUỐC TOẢN
Trần Quốc Toản là con Trung Thành Vương, cháu nội của Nhân Đạo Vương được phong là Hoài
Văn Hầu, mới 15 tuổi, vì không được dự hội nghò quân sự ở Bình Than bàn kế chống giặc Nguyên, căm
thù giặc tay cầm quả cam bóp vỡ lúc nào không hay.
Ra về, Trần Quốc Toản huy động hơn ngìn gia nô và trai tráng trong vùng, mua sắm vũ khí,
đóng chiến thuyền để đánh giặc, may lá cở hiệu, thêu sáu chữ vàng: “ Phá cường đòch, báo hoàng
ân”( phá giặc mạnh, báo ơn vua) .
Trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần hai, khi đối trận với giặc, Trần Quốc Tuấn
tự mình xông lên trước quân só, giặc trông thấy phảo lui tránh, không giám đối đòch. Quốc Tuấn dã góp
phần vào chiến công to lớn ở Tây Kết và giải phóng kinh thành Thăng Long.
Trong trận chặn giặc rút lui trên dông Như Nguyệt, Trần Quốc Tuấn đã anh dũng hi sinh, đã góp
phần vào chiến thắng Vạn Kiếp, quét sạch giặc Nguyên – Mông ra khỏi đất nước đại Việt.
Vua Trần Nhân Tông vô cùng thương tiếc, đich thân làm văn tế truuy tặng tước Hoài Văn
Vương.
( Theo Các triều đại Việt Nam )
LÊ QUÝ ĐÔN
Lê Quý Đôn là nhà văn hoá lớn thời Hậu Lê, thû nhỏ có ten76 là Lê Danh Phương, sau đổi là
Lê Quý Đôn, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường. Quê làng Duyên Hà, huyện Diên Hà, phủ Tiên Hưng, phủ
Ơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái Bình).
ng xuất thân trong gia đình khoa bảng lâu đời, thân phụ là Lê Phú Thứ, làm quan triều Lê.
Thû nhỏ ông nổi tiếng thông minh, có trí nhớ phi thường, được nhiều người đương thời xem là thần
đồng.
Năm Quý Hợi (1743) đỗ Giải Nguuyên, năm Nhâm Thân (1752)đỗ Đệ nhất giáp tiến só cập đệ
đệ nhò danh (Bảng nhãn). Từ thi Hương đến thi Hội đều đỗ đầu. Sau khi thi đỗ được bổ Thò tộc toà Hàn
Lâm, sung Tư Nghiệp Quốc Tử Giám. Năm Canh thìn(1760)làm phó sứ đi sứ nhà Thanh ( Trung Quốc).
Học vấn văn chương đựơc cả người Thanh và sứ thần Triều Tiên ca ngợi, khi về được phong tước Dónh
Thành ba, rồi phong Hàn Lâm viện thừa chỉ, Đốc Đồng Hải Dương. Sau về Kinh làm Quốc tài Quốc sử
quán cùng Nguyễn Hoàn khảo duyệt phần Tục biên Quốc sử.
Năm Quý tỵ (1773) đựoc bổ Phó Đô ngự sử, rồi phong Hữu thò lang bộ Công. Năm 1776 được cử
làm Tham thò Tham tán quuân cơ các đạo Thuận Hoá – Quảng Nam. Sau đổi về Thăng Long làm Hành
trên đời”.
( Theo Từ điển NVLSVN )
Ỷ LAN
Nói đến triều Lý không thể không nói về Ỷ Lan, một trong những danh nhân có tài trò nước cua
dân tộc. Tên thật của Ỷ Lan là Lê Thò Yến, quê ở làng Thổ Lỗi sau đổi thanh Siêu Loại ( Thuận Thành,
Bắc Ninh ) nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội. Vì mẹ mất từ năm 12 tuổi, cha lấy vợ kể nên thân phận của Ỷ
Lan khổ như cô Tấm tong truyện cổ tích. Sử ghi: Ỷ Lan là cô tấm lộ Bắc, hay gọi đền thờ Ỷ Lan ở
Dương Xá ( Gia Lâm, Hà Nội ) là đền thờ bà Tấm là vì thế.
Năm ấy, vua Lý Thánh Tông 40 tuổi chưa có con trai nối dõi nên về chùa Dâu cầu tự. Vua và
quần thần vãn xem phong cảnh trong vùng, chợt thấy trong ngày hội vui, mà trên nương vẫn có một cô
gái vừa hái dâu vừa hát. Vua vời xuống hỏi sự tình. Thấy Lê Thò Yến bội phần xinh đẹp, đối đáp lại lưu
loát. Vua cảm mếm đưa về triều, rồi phong làm Nguyên phi, cho xây một cung riêng, đặt tên là cung Ỷ
Lan để nhớ lại sự tích cô gái tựa gốc cây lan buổi đầu gặp gỡ.
Khác với các hậu phi, Ỷ lan không lấy việc trau chuốt nhan sắc, mong chiếm được cảm tình của nhà
vua mà quan tâm hết thảy mọi công việc tong triều. Lan khổ công học hỏi, miệt mài đọc sách, nghiền
ngẫm nghóa sách nên chỉ trrong một thời gian ngắn, mọi người đều kinh ngạc trước sự hiểu biết uyên
thâm về nhiều mặt của Ỷ Lan. Triều thần khâm phục Ỷ lan là một người có tài.một lần vua Lý Thánh
Tông hỏi Ỷ Lan về kế trò nước, Ỷ Lan tâu rằng :
- Muốn dân giàu nước mạnh, điều hệ trọng là biết nghe lời can gián của đấng trung thần. Lời nói
ngay nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm. Điều hệ trọng thứ hai là phải xem quyền hành
Sưu tầm và thực hiện: Nguyễn Đức Dũng
Một số nhân vật lòch sử Việt Nam
là một thứ đáng sợ. Danh vọng và quyền lực thường làm thay đổi con người. Tự mình tu đức để
dưỡng hoá dân thì sâu hơn mệnh lệnh.dân bắt chước người tên thì nhanh hơn pháp luật. Nước
muốn mạnh, Hoàng đế còn phải nhân từ với muôn dân. Phàm xoay thiên hạ ở nhân chứ không
phải ở bạo. Hội đủ nhưãng điều kiện ấy thì nước Đại Việt sẽ lớn mạnh.
Nghe Ỷ Lan tâu, vua phục lắm. Bởi thế năm 1069, vua thân cầm quân đi đánh giặc, đã tao quyền
nhiếp chính cho Ỷ Lan. Cũng trong năm ấy, không may nước Đại Việt không may bò lụt lớn, mùa màng
thất bát, nhiều nơi sinh loạn. Nhưng nhờ có kế sách trò nước đúng đắn, quyết đoàn táo bạo, loạn lạc đã
được dẹp yên, dân đói đã được cứu sống. Cảm cái ơn ấy, cũng là cách suy tôn một tài năng, nhân dân
Huyền Trân về Chiêm Thành thì dân châu Hoan, Châu i ( Thanh Hoá, Nghệ An) cũng rầm rộ
kéo nhau vào tiếp nhận châu Ô, châu Lý. Châu Ô đổi thành châu Thuận, châu Thuận đổi thành châu
Hoá. Nhân dân thường gọi chung là Thuận Hoá.
Sưu tầm và thực hiện: Nguyễn Đức Dũng
Một số nhân vật lòch sử Việt Nam
Về Chiêm Thành được 11 tháng, Huyền Trân sinh được con trai thì Chế Mân qua đời. Theo tục
lệ Chiêm Thành, Hoàng hậu phải lên giàn hoả thiêu chết theo. Vua Trần sợ công chúa bò hại, sai Trần
Khắc Chung, quan nhập nội thành khiển Thượng thư tả bộ xạ và An phủù sứ Đặng Văn Sang tìm cách
cứu nàng về.
Tháng 10 năm Đinh mùi (1307) hai sứ giả đến kinh đô Chiêm Thành làm lễ viếng, nhân đó nói
rằng :
- Nếu để Hoàng hậu lên giàn thiêu ngay thì sợ rằng trong đàn chay sẽ không có người đứng chủ.
Chi bằng hãy ra bờ biển làm lễ chiêu hồncùng về rồi hãy vào giàn thiêu.
Người Chiêm thấy có lý, nghe theo. Nhân đó, Khắc Chung đã dùng thuyền nhẹ cướp công chúa rong
thẳng ra biển. Không rõ vì mang ơn cứu mạng hay trước đó hai người đã có ước hẹn mà con thuyền đưa
công chúa từ Chiêm Thành trỡ về loanh quanh trên biển gần một năm ròng. Bất chấp mưa to gió lớn
của biển khơi, búa rìu của dư luận và phép tắc của triều đình, con thuyền tình của Huyền Trân và Khắc
Chung vẫn lênh đênh trên biển say đắm và thơ mộng.
Tháng 8 năm Mậu thân (1308 ) nghóa là sau 10 tháng, thuyền của Huyền trân và Khắc Chung về
đến Thăng Long. Vua Anh Tông thương em gái nên không đả động gì đến chuyện đó , cũng không một
lời trách cử Trần Khắc Chung. Nhung trong tôn thất nhà Trần không phải không có người phản đối. Đặc
biệt các nhà nho đương thời xem mối tình sử Khắc Chung với Huyền Trân là một việc xấu, đáng chê
tách.
( Theo Các triều đại Việt Nam )
DƯƠNG VÂN NGA
Khi đề cao võ công văn trò của Đinh Bộ Lónh và Lê Hoàn, những vò anh hùng của công cuộc
thống nhất đất nước không thể không nhắc đến công lao cua Dương Vân Nga đối với đất nước. Cỏ thể
xem Dương Vâm Nga là cái cầu nối giữa Đinh Bộ Lónh và Lê Hoàn, người làm cho côg cuộc thống nhất
đất nứơc do Đinh Bộ Lónh khởi xưởng được Lê Hoàn hoàn tất. Sự nghiệp chính trò của người phụ nữ
ấykhông được sử cũ chú ý đến mà lại cứ tập trung vào thân phận làm vợ của bà. Vốn là con của ông
anh dũng hi sinh ở bờ sông Thiên Mạc. Trước thế giặc mạnh, nhà Trần chòu nhiều tổn thất như Trần
Kiện, Trần Lộng kể cả hoàng thân Trần Ích Tắc đã mang gia quyến chạy sang trại giặc. Trần Khắc
Chung được sai đi sứ để làm chậm tốc độ tiến quân của giặc không có kết quả. Trong lúc đó, cần phải
có thời gian để củng cố lực lượng, tổ chức chiến đấu. Bởi vậy Trần Thánh Tông bất đắc dó phải dùng kế
mỹ nhân. Vua sai đem dâng em gái út của mình cho Thoát Hoan. Công chúa còn rất trẻ. Vì nước An Tư
từ bỏ cuộc sống êm ấm, nhung lụa trong cung đình, vónh biệt bạn bè để dâng hiến tuổi trẻ, kể cả tính
mạng mình cho dân tộc. An Tư đã vào trận chỉ có một mình, nàng chấp nhận gian khổ, tủi nhục, kể cả
cái chết.
An Tư sang trại giặc không phải với tư cách đi lấy chồng mà là vật cống nạp, cũng là một người nội
gián. Do vậy, sự hi sinh ấy thật cao cả. trại giặc làm vợ Thoát Hoan, An Tư đã sống ra sao, làm được
những gì, không ai biết. Nhưng tháng 4 năm ấy, quân Trần phản công hầu khắp các mặt trận khiến cho
quân Nguyên đại bại. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn qua biên giới.
Sau chiến thắng các vua Trần làm lễ tế lăng miếu khen thưởng công thần, truy phong các tướng lónh.
Nhưng không ai nhắc đến An Tư. Vậy công chúa còn hay mất, nàng được mang về Trung Quốc hay
chết trong đám loạn quân. Trong cuốn “An Nam chí lược” của Lê Trắc, một thuộc hạ của Trần Kiện
theo chủ chạy sang nhà Nguyên, sống lưu vong ở Trung Quốc, có ghi:
“ Trước, thái tử (chỉ Thoát Hoan) lấy người con gái nhà Trần sinh được hai con”.
Người con gái nhà Trần này phải chăng là công chúa An Tư ? Chưa có chứng cứ khẳng đònh rõ
ràng điều đó. Dù triều Trần và sử sách có quên nàng thì các thế hệ đời sau vấn dành cho công chúa sự
kính trọng, thương cảm. Khoảng trống lòch sử sẽ được lấp đầy bằng tình cảm của người đời sau.
( Theo Các triều đại việt nam)
Sưu tầm và thực hiện: Nguyễn Đức Dũng