Ôn tập văn học 10 part 8 - Pdf 18

nghĩa cho chàng.
Nửa năm sau, chàng Kim trở lại vườn Thuý , tìm đến nơi "di trú" của gia đình người
yêu. Vương Ông khóc than nhắc lại
lời K iều trước lúc ra đi:
"Dùng dằng khi bước chân ra
Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.
Trót lời nặng với lang quân,
Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.
Gọi là trả chút nghĩa người
Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên "
Qua đó, ta thấy tấm lòng quý hoá thơm thảo của Thuý Kiều. Nàng bán mình để chuộc
cha, để cứu gia đình. Tình yêu dù
tan vỡ nhưng nàng vẫn giữ lấy cái "nghĩa" với chàng Kim, "cậy em" "thay lời nước non".
Chị có trải qua nhiều đau khổ "thịt
nát xương mòn " vẫn thơm lây về nghĩa cử chỉ của em.
2. Kiều trao lại kỉ vật thiêng liêng cho em. Trao duyên rồi vẫn còn vấn vương, đó là bi
kịch tình yêu khi K iều nói:
"C hiếc thoa với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ, vật này của chung."
Đã trao duyên rồi, sao lại nói "vật này của chung?" Đó là quy luật của tình yêu, là nỗi
đau của Kiều "con tằm đến thác vẫn
còn vương tơ".
3. Lời than của Kiều não nùng thê thiết như lời trăng trối. Kiều nói đến "hồn", đến "dạ
đài", nói đến một ngày mai bi thảm
từ cõi âm trở về:
"Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đến nghì trúc mai.

II. Những bộ sử thi của Việt Nam và thế giới
1. Việt Nam
"Đẻ đất đẻ nước" của người Mường, bằng thơ. Bản sưu tầm ở Hoà Bình dài 3887 câu
thơ; bản sưu tầm ở Thanh Hóa dài
8503 câu (?)
- "Bài ca Đan Sẵn" của người Ê đê.
- "Xinh Nhã" của nhiều bộ tộc ở Tây Nguyên, chủ yếu của người Ê đê.
- “Y Ban” của nhiều bộ tộc ở Tây Nguyên.
- "Đăm Di" của người Ê đê và Giarai.
- "Xinh Chơ Niếp" của người Ê đê.
- v.v
2. Thế giới
- "Ramayana" của Ấn Độ gồm có 24.000 câu thơ đôi.
- "Mahabharata" của Ấn Độ dài 110.000 câu thơ đôi.
- "Ôđixê" của Hi Lạp dài 12.110 câu thơ, tác giả Hômerơ.
- "Iliat" của Hi Lạp, dài 15.683 câu thơ, tác giả Hômerơ.
- v.v
III. Những ý kiến về sử thi
1. "Thời đại thịnh vượng nhất của giai đoạn cao trong thời đại dã man được diễn tả
trong những bài thơ của Hômerơ,
nhất là tập Iliat.
Bản anh hùng ca của Hômerơ và toàn bộ thần thoại - đó là những di sản chủ yếu mà
người Hi Lạp đã đem được từ thời
đại dã man sang thời đại văn minh ” (Ăng ghen)
2. "Chỉ thông qua sức mạnh phi thường của cộng đồng, người ta mới có thể giải thích
được vẻ đẹp tuyệt vời và sâu sắc
của thần thoạivà anh hùng ca, một vẻ đẹp xây dựng trên sự hoà hợp triệt để giữa nội dung và
hình thức " (Gorki)
3. "Sử thi anh hùng bao hàm một bức tranh hoàn chỉnh của cuộc sống nhân dân dưới hình
thức kể truyện anh hùng về quá

hồng), bụi cuốn lấy yên ngựa của
người đi xa (bụi cuồn chinh an). Kiều trông theo bóng hình Thúc Sinh, người chồng, vị ân
nhân của nàng, nhìn mãi, nhìn hoài
cho đến lúc chỉ thấy màu xanh của ngàn dâu mờ xa cuối chân trời. Chữ "trông" và chữ
"khuất" diễn tả tình lưu luyến khôn
nguôi:
"Dặm hồng bụi cuốn chinh an,
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh".
Từ màu đỏ của "rừng phong thu" đến màu "hồng" của bụi cuốn, màu "xanh" của ngàn
dâu, đó là màu của tâm tưởng, màu
của biệt li, màu của thương nhớ:
"Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?"
(Chinh phụ ngâm)
3. Nỗi buồn cô đơn của Kiều. Nàng thương mình lẻ loi, cô đơn "chiếc bóng năm canh",
thao thức, thương nhớ, chờ đợi
Nàng thương Thúc Sinh đi xa "muôn dặm" vất vả, cô đơn "một mình", và một ngày một "xa
xôi" thêm:
"Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi".
"Người về"với "kẻ đi" ở hai phía chân trời. "C hiếc bóng" và "một mình" đều lẻ loi, cô
đơn. Đêm "năm canh" đợi chờ như dài
ra. "Muôn dặm" với bao thương nhớ như "xa xôi" vô tận.
4. Đêm đêm nàng Kiều thao thức, chỉ có vầng trăng với nàng. Xưa là vầng trăng thề
nguyền, chứa chan hạnh phúc,
"Đêm nay" chỉ có vầng trăng li biệt, "vầng trăng ai xẻ làm đôi", biết bao đau buồn thương
nhớ!
"Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường"
Vầng trăng chẳng còn tròn vành vạnh nữa mà đã bị cắt, bị "xẻ làm đôi", như một ám ảnh,

nay mới trở lại nhà ở Bắc Kinh. Xa
cách người yêu đã trong một thời gian dài "nửa năm", trên một không gian "muôn dặm"
cách trở, với bao thương nhớ:
"Ngoài nghìn dặm, chốc ba đông,
Mối sầu ghi gỡ cho xong còn chầy"
Hai chữ "vội sang" trong câu thơ "Vội sang vương Thuý dò la" diễn tả niềm thương nhớ
bồn chồn, sự khát khao được
gặp mặt người yêu đã nửa năm xa cách. Câu thơ "Nhìn xem phong cảnh nay đà khác xưa"
không chỉ gợi tả khái quát sự đổi
thay của vườn Thuý, của gia đình người đẹp mà còn thể hiện một cái nhìn ngơ ngác, băn
khoăn của chàng Kim.
2. Mười câu thơ còn lại tả cảnh tiêu điều hoang vắng của vườn Thuý và nỗi niềm tâm sự
của Kim Trọng. Vườn xưa có
"Lơ thơ tơ liễu buông mành", có "đầy thềm hoa rụng" có "song hồ nửa khép cánh mây",
có "tường gấm" Nay đã thay đổi
hoàn toàn, "nay đã khác xưa". Vườn xưa, nay đã "cỏ mọc lau thưa". Sân xưa, nay đã "Cỏ lan
mặt đất rêu phong dấu giày".
Với K im Trọng, "dấu giày" của người đẹp, của người yêu như đã được "rêu phong" lại, giữ
lại cho chàng, để lòng chàng ngẩn
ngơ thương nhớ! Nhà cửa hoang vắng đổ nát tiêu điều: "Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã
rời". Xưa kia vườn Thuý có "con
oanh học nói " thì nay chỉ trông thấy cảnh "Xập xoè én liệng rường không", lòng chàng K
im lại càng ngổn ngang đau đớn.
Câu thơ "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông" tuy khơi gợi từ một tứ thơ Đường của Thôi
Hộ nhưng đầy sáng tạo làm hiện
lên một khung cảnh buồn thương vắng bóng giai nhân, cỏ hoa như thấm đau nỗi buồn
thương nhớ li b iệt của chàng Kim. Biết
bao bơ vơ, sầu tủi tràn ngập lòng người Cây đào ấy như một chứng minh về kỷ niệm
không bao giờ quên đối với chàng
Kim đa tình: "Dưới đào dường có bóng người thướt tha Trên đào nhác thấy một cành kim

Thuý kiều chắc đang ở Lâm Truy,
nàng có nghe thấu "Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?"
Anh hùng tiếng đã gọi rằng
2419- Nàng từ ân oán rạch ròi
Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng.
Tạ ân lạy trước Từ công:
"Chút thân bồ liễu mà mong có rày!
Trộm nhờ sấm sét ra tay.
Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi!
Khắc xương ghi dạ xiết chi,
Dễ đem gan góc đền nghì trời mây."
Từ rằng: "Q uốc sĩ xưa nay,
Chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
Anh hùng tiếng đã gọi rằng
Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha
Huống chi việc cũng việc nhà,
Lọ là thâm tạ mới là tri ân!
Xót nàng còn chút song thân,
Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa
Sao cho muôn dặm một nhà,
Cho người thấy mặt là ta cam lòng".
Vội truyền sửa tiệc quan trung
Muôn binh nghìn tướng hội đồng tẩy oan.
Thừa cơ trúc chẻ ngói tan,
Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài.
Triều đình riêng một góc trời
Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà.
Đòi phen gió quét mưa sa,
Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam.
Phong trần mài một lưỡi gươm,

Câu nói của Từ vang lên đĩnh đạc hào hùng thể hiện một lý tưởng anh hùng tuyệt đẹp,
như một lời tuyên chiến với mọi cái
ác, cái bất công ở đời.
Từ Hải xem hành động ra oai "sấm sét" của mình giúp K iều báo ân báo oán là "việc
nhà", là chuyện gia đình cũng là để
Kiều sớm gặp lại gia đình, gặp lại song thân. Từ Hải là một con người chí tình chí nghĩa,
thấu hiểu được nỗi đau riêng và ước
mong của Kiều:
"Xót nàng còn chút song thân,
Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa.
Sao cho muông dặm một nhà,
Cho người thấy mặt là ta cam lòng"
2. Từ Hải là một anh hùng đích thực.
Tiến quân như vũ bão "trúc chẻ ngói tan". Binh uy chấn động "sấm ran trong ngoài". Từ Hải
dựng lên một triều đình đối địch
làm chủ "một góc trời", có tổ chức quy củ: "Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà". Từ Hải xuất
quân đánh đâu thắng đấy:
"Đòi phen gió quét mưa sa,
Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam".
Dưới con mắt của Từ Hải, bọn vua quan triều đình chỉ là "phường giá áo túi cơm" mà
thôi. Từ đã có một giang sơn riêng,
một cõi biên thuỳ riêng ngang nhiên thách thức:
"Trước cờ ai dám tranh cường
Năm năm hùng cứ một phương hải tần'.
Nguyễn Du miêu tả Từ Hải oai phong lẫm liệt như một anh hung thần thoại, một dũng sĩ
trong sử thi, hiện lên trong hào
quang chiến trận, lừng lẫy trong chiến công. Những động từ mạnh, những hình ảnh kì vĩ
được vận dụng sáng tạo, đoạn thơ
vang lên hào hùng mang âm điệu anh hùng ca:
"Gió quét mưa sa", "đạp đổ năm toà cõi nam", " sấm ran trong ngoài" Các từ Hán Việt

Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Vũ Tam Tập dịch
I. Xuất xứ
1. "Độc tiểu thanh kí" - bài thơ rút trong "Bắc hành tạp lục", tập thơ đi sứ của Nguyễn Du
(năm 1813 - 1814).
2. Tiểu Thanh là một tên cô gài tài sắc ở đầu thời Minh, Trung Quốc. Nàng họ Phùng lấy
làm lẽ một người cũng tên là
Phùng. Vợ cả ghen hành hạ, nàng đau khổ chết năm 18 tuổi. Nàng có một tập thơ "Độc tiểu
thanh kí" bị vợ cả đốt đi còn sót
lại vài bài. Nay ở Cô Sơn (Chiết Giang), cạnh Tây Hồ còn mộ Tiểu Thanh. Nguyễn Du đã
đọc phần dư cảo của "Tiểu Thanh
kí" khi ông đi sứ mà viết bài thơ này.
II. Chủ đề
Bài thơ "Độc Tiểu Thanh kí" nói lên lòng xót thương đối với những người phụ nữ tài sắc
bị dập vùi đau khổ, chết
trong oan ức, đồng thời tác giả tự cảm thương cho thân phận mình.
III. Phân tích
1. Đề
Cảnh vật tang thương. Vườn hoa ở Tây Hồ đã thành gò hoang hết cả. Thương một đời
dâu bể, nhà thơ thương người đàn
bà bạc mệnh. Nhà thơ đọc "mảnh giấy tàn" (nhất chỉ thư) đứng lặng trước cửa sổ điếu nàng
Tiểu Thanh.
"Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bến song mảnh giấy tàn"
2. Thực
Nhan sắc (son phấn) và tài năng (văn chương) đều bị vùi dập. Son phấn có thần, sau khi
chết người ta còn xót thương tiếc
nuối. Văn chương còn có số mệnh gì mà người ta còn bận lòng về những bài thơ sót lại sau
khi bị đốt? Nhà thơ thương xót

"Độc Tiểu Thanh kí" bài thơ mang cảm hứng nhân đạo sâu sắc. Nguyễn Du đã khóc một
Đạm Tiên, một Thuý Kiều
Ông đã dành cho nàng Tiểu Thanh bao niềm thương xót. Đến Tây Hồ trên đường đi sứ, cái
tâm của ông lại hướng về nỗi đau
khổ oan trái của một giai nhân bị dập vùi với bao "những điều trông thấy mà đau đớn lòng".
Hai câu kết bài thơ phản ánh "nỗi
đoạn trường" của nhà thơ để dân tộc ta "Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du” như Tố Hữu đã
nói.
Thăng Long thành hoài cổ
Bà Huyện Thanh Quan
Tạo hoá gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
I. Xuất xứ
Tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm, cạnh Hồ Tây. Bà là vợ của ông Lưu
N ghi, làm tri huyện Thanh Quan,
tỉnh Thái Bình, nên được người đời ái kính gọi là Bà huyện Thanh Quan. Bà từng được vua
Minh Mệnh vời vào Phú Xuân
nhận nữ chức quan "Cung trung giáo tập"
Bà còn để lại 6 bài thơ Nôm, đều viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: "Qua đèo
ngang", "Chiều hôm nhớ nhà",
"Thăng Long thành hoài cổ", "Chùa Trấn Bắc", "Chơi đài Khán Xuân Trấn Võ", "Tức cảnh
chiều thu".
Ngôn ngữ thơ trang nhã, điêu luyện, âm điệu du dương réo rắt, giọng thơ buồn mác, hoài
cổ là nét đặc sắc trong thơ Bà

Đá và nước đã được nhân hoá, như hai chứng nhân lịch sử, như thách thức (trơ gan) cùng
năm tháng (tuế nguyệt). Như
đau đớn giận hờn (cau mặt) với sự đổi thay, với dâu bể (tang thương). Nghệ thuật chọn từ,
phối thanh (bằng trắc), phép đối -
được nữ sĩ vận dụng rất điêu luyện. Các triều đại đã nối tiếp hưng phế. K inh thành xưa, đế
đô nghìn năm xưa nay xuống cấp
trở thành một tỉnh dưới triều Nguyễn. Với nữ sĩ, ông cha đã mấy đời ăn lộc triều Lê, Thăng
Long lại còn chốn cũ quê nhà thì
nỗi đau buồn không thể nào kể xiết. Đá và nước được nói đến trong phần luận chính là nỗi
lòng nhà thơ.
4. Kết
Hai câu kết nói về dòng chảy thời gian và nỗi đoạn trường của Bà Huyện Thanh quan -
nỗi buồn hoài cổ:
"Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường."
Gương cũ nghĩa bóng là lịch sử, là trang đời. Kim cổ là hiện tại và quá khứ. Chuyện lịch
sử qua hàng năm như soi vào quá
khứ và hiện tại. Nhìn "Cảnh đấy" - cảnh Thăng Long tang thương, cảnh "sóng lớp phế
hưng" mà "người đây" (nữ sĩ) đau đớn
tưởng đứt ruột (luống đoạn trường). Đó là nỗi đau của một con người, cũng là nỗi buồn của
một lớp người khi nhớ về kinh
thành xưa một thời vang son, hoa lệ.
IV. Tổng kết
"Thăng Long thành hoài cổ" được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ tả
cảnh ngụ tình. Cảnh thì tang
thương. Tình thì hoài cổ với nỗi đau đoạn trường. Có hồn thu thảo, bóng tịch dương, đá và
nước như chứng nhân lịch sử,
chia xẻ nỗi đoạn trường với thi nhân.
Thi liệu và từ ngữ chọn lọc tinh tế. Một gam màu nhạt của bóng tịch dương phủ mờ bài
thơ. Âm điệu du dương, réo rắt

sĩ của mình vượt qua chặng
đường dài dằng dặc vô cùng nguy hiểm trên biển cả mênh mông. Đoàn chiến thuyền của
Uylitxơ gặp bão dạt từ đảo này sang
đảo khác, trôi đến bờ biển châu Phi, xứ sở của những người trồng "quả lú", rồi lại trôi đến
phía tây Địa Trung Hải. Chàng
cùng các chiến hữu lọt vào đảo những tên khổng lồ "một mắt" Pôliphem, lần sang mảnh đất
của bọn khổng lồ "to như trái núi",
vào nhà mụ phù thuỷ Xiếc-xê, xuống "thế giới những linh hồn", lách qua eo biển của hai
con quái vật Caripđơ và Xkila trấn
giữ, bước lên đảo thần Mặt trời Hêliôt Quá đói khát, các bạn đồng hành của Uylitxơ ăn
mất mấy con bò trong đàn bò của
thần nên đã bị thần Dớt gây ra một trận bão lớn để trừng phạt. Sau bao nhiêu tai hoạ dồn
dập, bạn bè của Uylitxơ dần dần
chết hết. Uylitxơ trôi giạt đến đảo của nàng tiên Calipxô xinh đẹp. Nàng tiên mê đắm
Uylitxơ, dâng thần đơn linh dược cho
chàng trở thành bất tử để cùng chàng kết bạn trăm năm. Sau 7 năm trời bị Calipxô lưu giữ,
Uylitxơ mới được thần linh giải
thoát, chàng tiếp tục vượt biển đến ngày thứ 18, thì bạn bè Uylitxơ bị thần Pôêdiđông gây
bão tố đánh chìm để trả thù cho
con trai là gã khổng lồ Pôliphem đã bị chàng chọc mù mắt. Uylitxơ trôi giạt vào vương quốc
Phêaxi, được công chúa Nôdica
cứu giúp, và nhà vua Anxinôôx tiếp đãi ân cần cấp cho thuyền nhẹ bay như cánh chim để
chàng về quê hương. Trong bữa
tiệc tiễn đưa, nghe nghệ nhân hát ca ngợi về chiến công con ngựa gỗ thành Tơroa, Uylitxơ
xúc động rơi lệ. Nhà vua gạn hỏi
mới biết tên tuổi thật của chàng. Nhà vua ngỏ ý muốn chàng thuật lại hành trình từ khi rời
khỏi Tơroa. Nghe chàng kể những
gian truân, nguy hiểm đã qua, nhà vua và triều thần vô cùng cảm động.
Uylitxơ đến Itacơ quê hương sau 20 năm trời chinh chiến. Chàng giả dạng người hành
khất đến gặp người chăn lợn cũ

nhận ra Uylitxơ chồng nàng. Hai
người vô cùng cảm động.
II. Phân tích
1. Pênêlốp
Là một người vợ thuỷ chung, kiên trinh đợi chờ chồng suốt 20 năm trời khi chồng đi
chinh chiến. Nàng đã tìm đủ mọi cách
để trì hoãn (chuyện dệt bức thảm, chuyện nêu điều kiện bắn xuyên 12 vòng tròn trên 12 lưỡi
rìu) để khước từ bọn cầu hôn.
- Gặp lại Uylitxơ tại cung điện của mình sau sự kiện "người hành khất" đã bắn xuyên 12
lưỡi rìu và giết chết 108 vị cầu hôn.
Nói với nhũ mẫu, nàng thận trọng cho rằng người vừa bắn xuyên 12 lỗ rìu là "một vị thần"
còn "Uylitxơ đã chết rồi". N hũ mẫu
nói về "cái sẹo" do lợn lòi húc ở chân Uylitxơ thì nàng vẫn thận trọng cho đó là "ý định
huyền bí của thần linh bất tử".
Sau khi xuống lầu, Pênêlốp băn khoăn "không biết nên đứng xa xa hỏi chuyện " hay
nên lại gần, ôm lấy đầu, cầm lấy tay
người mà hôn, khi thì nàng lại "đăm đăm nhìn chồng", khi lại không nhận ra chồng dưới bộ
quần áo rách mướt.
- Khi bị con trai trách mẹ là "tàn nhẫn", "độc ác quá chừng", "lòng dạ mẹ rắn hơn cả đá"
thì Pênêlốp "kinh ngạc quá chừng"
và tin rằng, nàng và Uylitxơ sẽ nhận ra nhau qua "những dấu hiệu riêng" chỉ có hai người
biết còn người ngoài không ai biết
hết. Thật là thận trọng, thông minh và giàu niềm tin.
- Uylitxơ trách "nàng thật là người kì lạ", các thần đã ban cho nàng "một trái tim sắt
đá" Lúc bấy giờ Uylitxơ vừa tắm và
thay quần áo xong "đẹp như một vị thần". Nàng ra lệnh cho nhũ mẫu "K hiêng giường ra
khỏi gian phòng vách tường kiên cố
"để thử chồng" K hi nghe Uylitxơ nói lên chân giường là một gốc cây cảm lảm không thể
nào di chuyển được thì Pênêlốp
"bủn rủn cả chân tay", "chạy ngay lại, nước mắt chan hoà, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status