Các thành phần cấu tạo của nền văn học Việt Nam
1. Nền Văn học dân gian ra đời từ thời viễn cổ và tiếp tục phát triển về sau này. Tính
nhân dân, tính dân tộc của nó từ nội dung tới hình thức có tác dụng sâu sắc đến sự hình
thành và phát triển của nền văn học viết.
2. Văn học viết ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 10 (?) gồm có 3 bộ phận: Văn học viết bằng
chữ Hán, Văn học viết bằng chữ Nôm và Văn học viết bằng chữ quốc ngữ. Ba bộ phận văn
học ấy nối tiếp, kế thừa và phát triển cho thấy tinh
thần sáng tạo, ý trí tự lập tự cường và sức mạnh Việt Nam vô cùng to lớn.
3. Văn học dân gian là cội nguồn của nền văn học dân tộc. Hai thành phần Văn học viết
và Văn học dân gian luôn luôn tác động qua lại, hội tụ và kết tinh ở những thiên tài văn
chương như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, v.v
Các thời kỳ phát triển
Có thể chia làm 3 thời kỳ lớn:
1. Thời kỳ từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIX: Thơ văn Hán - Nôm.
2. Thời kỳ từ thế kỷ thứ XX đến năm 1945: Thơ văn Hán Nôm - thơ văn quốc ngữ.
3. Thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay: thơ văn quốc ngữ mang nội dung
cách mạng, kháng chiến, yêu nước và tiến bộ.
Mấy nét đặc sắc truyền thống của văn học Việt Nam
1. Truyền thống yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc
2. Tình nhân ái.
3. Thơ ca có một truyền thống lâu đời phát triển mạnh. Có nhiều kiệt tác.Văn xuôi phát
triển chậm: từ 1930 trở đi mới phát
triển nhanh vọt, tiến lên hiện đại hoá.
Khái niệm văn học dân gian.
- Văn học dân gian là một thành tố của văn hoá dân gian, tức là phôncơlo (trí tuệ nhân
dân).
- Văn học dân gian còn gọi là văn học truyền miệng hoặc văn học bình dân.
- Văn học dân gian là những sáng tác tập thể truyền miệng của nhân dân, ra đời từ thời
viễn cổ, phát triển qua các thời kì lịch sử, đến cả hiện nay và mai sau. Văn học dân gian có
những đặc trưng riêng so với văn học viết; nó cùng với văn học viết hợp thành nền văn học
dân tộc.
- "Đăm Di" của người Ê đê và Giarai.
- "Xinh Chơ Niếp" của người Ê đê.
- v.v
2. Thế giới:
- "Ramayana" của Ấn Độ gồm có 24.000 câu thơ đôi.
- "Mahabharata" của Ấn Độ dài 110.000 câu thơ đôi.
- "Ôđixê" của Hi Lạp dài 12.110 câu thơ, tác giả Hômerơ.
- "Iliat" của Hi Lạp, dài 15.683 câu thơ, tác giả Hômerơ.
- v.v
Những ý kiến về sử thi
1. "Thời đại thịnh vượng nhất của giai đoạn cao trong thời đại dã man được diễn tả
trong những bài thơ của Hômerơ,
nhất là tập Iliat.
Bản anh hùng ca của Hômerơ và toàn bộ thần thoại - đó là những di sản chủ yếu mà
người Hi Lạp đã đem được từ thời
đại dã man sang thời đại văn minh ” (Ăng ghen)
2. "Chỉ thông qua sức mạnh phi thường của cộng đồng, người ta mới có thể giải thích
được vẻ đẹp tuyệt vời và sâu sắc
của thần thoạivà anh hùng ca, một vẻ đẹp xây dựng trên sự hoà hợp triệt để giữa nội dung và
hình thức " (Gorki)
3. "Sử thi anh hùng bao hàm một bức tranh hoàn chỉnh của cuộc sống nhân dân dưới hình
thức kể truyện anh hùng về quá
khứ. Thế giới sử thi lý tưởng và nhân vật dũng sĩ trong sự thống nhất hài hoà của chúng - đó
là những nhân tố chủ yếu của
một nội dung sử thi anh hùng". (Mêlêtinxki)
Một vài nét về tác phẩm
1. Quy mô
Sử thi "Đẻ đất đẻ nước" có quy mô hoành tráng. Bản sưu tầm ở Thanh Hoá dài tới 8503
câu thơ. Người Mường ở Nghĩ
Lộ, Hoà Bình và miền tây Thanh Hoá còn truyền tụng "Đẻ đất đẻ nước". Các thầy mo (thầy
sãn lợn rừng, gặp các nàng tiên
"lưng ong, tóc mượt". Hai nàng tiên quên đường về trời. Họ nên vợ nên chồng . Sau 12 năm
9 tháng, hai nàng tiên sinh được
một bầy con mà "Trống chim Tùng, mái chim tót là con út con yêu". Đôi chim trống mái
sau "9 ngày, 9 đêm, 9 tháng" để ra
1919 chiếc trứng nở ra Thần Chớp, Thần Mây, nở ra chuột, lợn, voi, thú dữ Đôi chim đẻ
ra lứa thứ hai "được một trứng
đen đen bốn khúc - Trứng bầu dục 4 khuôn - Mặt vuông mặt tròn chín cạnh -Rành rành
mười hai quai" Mụ Dạ Dần sai
chim chiền chiện ấp, trứng nở ra một bầy con, mỗi đứa nói một thứ tiếng: tiếng Lào, tiếng
Thái, tiếng K inh, tiếng Mọn, tiếng
Mường, tiếng Mán, tiếng Mèo… Trứng cũng nở ra anh em nhà lang: ông Dịt Dáng, ông
Lang Tà Cái, ông Lang Cun Cần, bố
Bướm Khang, ông Sang Si, nàng Vạ Hai Chiếng Loài người có từ đấy. Bộ tộc Mường có
từ đấy.
Thần Cuộng Minh Vàng Rậm, nàng ả Sấm Trời "đúc 9 mặt trời, đúc được 12 mặt trăng"
làm chói chang trời đất. Họ nhà
Ngao "thần nỏ" dùng cung tên bắn rụng hết, chỉ để lại một mặt trăng, một mặt trời. Rồi ông
Thu Tha, bà Thu Thiên làm ra
năm, tháng, ngày, đêm, bốn mùa cho người theo đó làm ăn sinh sống.
Người Mường chưa có thủ lĩnh.Mường nước mời ông Dịt Dáng, rồi mời Lang Tá Cái ra
"cầm binh cầm mường”. Cả hai
đều bất tài bị "ma đón đường, thuồng luồng xanh","rồng vàng ngăn ngõ". Mường nước phải
đi mời Lang Cun Cần ra tiễu trừ
ma quỷ, thú dữ.
"Ma chạy từng bầy trốn vào trong núi
Ma rồng sơ Lang Cun Cần trời
Thuồng luồng sợ Lang Cun Cần chặt
Ma Trời, ma Đất cùng chạy nhanh nhanh"
Lang Cun Cần trở thành thủ lĩnh từ đó. Rùa Thần giúp lang dựng nhà cửa to đẹp. Tà Cắm
quả thiếc" mà trở nên giàu có.
Anh em Lang Cun Khương lập mưu chuốc rượu cho Tậm Tạch say, lừa lấy được "bông
thau, quả thiếc". Lang đưa cả
mường nước đi chặt cây Chu Đồng kéo về làm nhà chu.Tậm Tạch phản loại bị lang giết
chết. Rùa Thần lại giúp lang làm nhà
chu "sáng cả mường, kinh kì kẻ chợ", "rạng trời rạng đất". Lang giết 10 voi ngà, 30 trâu
mộng, 9 bò, 100 gà sao, nấu 1000 vò
rượu, để ăn mừng. Lang Cun Cần ban thưởng cho các con nhiều vàng bạc quý giá.
Con của Tậm Tạch lại đốt nhà chu để báo thù cho cha. Hắn lại bị lang giết chết, máu hắn
hoá thành con Moong khổng lồ,
tàn phá bản mường. Lang Cun Cần đưa tất cả mường nước đi săn Moong, vô cùng nguy
hiểm mới giết được. Moong được
ăn thịt; người Lào, người Thái, người Tày, người Mường nhanh chân lấy được da Moong
vằn vện mà học được cách thêu
thùa, dệt vải rất đẹp. Người K inh đến sau lấy được thịt và mỡ Moong, từ đấy biết nấu nhiều
món ăn ngon.Người "Mường
ngoài" (Hoà Bình) đến sau cùng, chẳng được thứ gì , chỉ nhìn thấy đống tro thui Moong,
chẳng may, gió thổi tro bay dính vào
môi, nên môi người "Mường ngoài" bị đen là vì thế!
Tai hoạ còn nhiều. Chó ăn phải phổi Moong mà thành chó điên. Chó điên bị giết, xác bị
quẳng xuống sông, cá ăn phải biến
thành Cá điên. Cá điên bị lang bắt giết, bầy quạ ăn phải hoá ra Quạ điên. Mường nước săn
nùng mãi, cuối cùng Lang Cun
Khương bắn trúng Qụa, cả bày hoảng sợ bay trồn vào rừng sâu. Nhưng rồi hồn Toóng Ín lại
biến thành Ma Ruộng đưa bầy
Rắn "mỏ vàng, mỏ đỏ" đánh nhau với anh em Lang Cun Khương. Quân hai bên đánh nhau
suốt đêm ngày, kịch chiến giữa
ruộng, quần nhau trên đồi gianh, đuổi nhau trong rừng sến, hỗn chiến tại bến sông Rồng,
Toóng Ín thất thế phải chạy xuống
thuỷ phủ của Long Vương ẩn náu và xin cầu viện. Long Vương biến Toóng Ín thành Ma
vàng mây đen đùn lên che kín cả
bầu trời, gió ùn ùn thổi điên cuồng. Cun Sấm nàng Sét cùng ra oai:
"Lanh lảnh cun Sấm xuống thét
Lăm lăm nàng sét xuống đánh".
Mưa kéo dài "mưa 9 đêm, mưa liền 9 ngày". Hạt mưa " to bằng hột cà" về sau "to bằng
quả bưởi". Nước ngập mênh
mông. Mưa để "rước nàng ngâu về trời" để "đưa chàng ngâu qua sông Ngân". Mưa "ngập
cây", "ngập bụi", mãi "bốn tháng
nước rút - bẩy tháng nước xuôi". Mưa đem đến sự sống cho đàn cua đá, đàn cá, đàn ba ba,
đàn cá chuối, đàn nòng nọc, đàn
cá cơm. Sau khi "đẻ nước" trời "đẻ đất".
Có đất, đất đang xơ xác,
Có nước, nước ùn đục ngầu
Đó vẫn là cảnh thiên địa xơ khai.
Biện pháp lặp và liệt kê được nhà thơ dân gian xưa của tộc Mường, vận dụng tạo nên ấn
tượng "đẻ nước". Thần mưa, thần
Sấm, thần Sét, Chức nữ, Ngưu lang được nói đến hồn nhiên đầy ý vị. Đoạn sử thi đã giải
thích hiện tượng mưa gió, lũ lụt
qua cảm quan nghệ thuật “vạn vật hữu linh" của người Mường thời viễn cổ.
Xuất xứ
"Bài ca chàng Đam Săn" là sử thi anh hùng của tộc người Ê đê ở Tây Nguyên. Tác phẩm
được nhiều người sưu tầm tuy lời
kể có khác nhau ít nhiều, nhưng cốt truyện đều giống nhau.
Tóm tắt
Theo tục "nối dây", Đam Săn phải lấy hai chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí làm vợ. Anh đã
chống lại, nhưng bị trời lấy ống điếu gõ
vào đầu 7 lần "Đam Săn chết lịm, rồi Trời cho sống lại". Cuối cùng Đam Săn phải làm theo
lời Trời. Đam Săn trở thành tù
trưởng giàu mạnh, danh tiếng vang lừng rừng núi, "đầu đội khăn kép, vai mang túi da". Đam
Săn đã cùng bộ tộc đánh thắng
Bhí". N gười tù trưởng phải có khát vọng phi thường như vậy mới tiêu biểu cho phẩm chất
cao đẹp của cộng đồng bộ tộc xa
xưa.
- Dũng khí quả cảm vô song.
Lên đường với con tuấn mã, tay cầm lao, gươm dắt thắt lưng, khoác áo màu đen màu
trắng, mang theo bùa ngải "sẽ giúp
tôi thắng!". Đừng đi đầy tê giác, hùm thiêng, cọp dữ, đã cắm chông, đã cắm bẫy, nước đầy
đỉa, cây đầy sên, bò cạp giữa
đường, rết trên ngọn cây xương người và xương trâu đầy rừng! Nhưng quyết tâm của
Đam Săn không hề nao núng: "Mặc
kệ! để tôi kiếm một nối đi. Tôi sẽ tới chỗ tôi muốn! Gặp hùm tôi sẽ giết hùm".
Đam Săn ra đi từ lúc gà gáy. Chàng vượt qua rừng âm u, núi rậm chân và tay bị cỏ tranh,
mây "cắt nát". Đến ranh giới giữa
trời và đất, Đam Săn đã "chặt một sườn núi ném xuống bùn làm con đường" để vượt qua và
tiến lên. Chàng dũng sĩ vô cùng
ngạc nhiên trước cái nhà của nữ thần: cầu thang nhà là chiếc cầu vồng, cối và chày giã gạo
đều bằng vàng, sân nhà đầy voi,
trong nhà đầy chiêng núp. Tôi tớ trai và gái đi lại đông như mây. Đam Săn thì được người
nhà của nữ thần ngắm nghía như
nhìn một "thần linh danh tiếng". Còn nữ thần Mặt Trời thay hai lần váy mới "nhấp nháy như
chớp sáng". Tóc chải bóng buông
dài. Dáng đi thướt tha "như chim diều bay, như phượng hoàng liệng, như nước chảy êm
đềm". Cổ nàng "đẹp như cổ con
công". Nàng là dòng dõi nhà "Trời và Đất". Với tưởng tượng kì diệu, tác giả sử thi đã miêu
tả hành trình của Đam Săn và hình
ảnh nữ thần Mặt Trời để ca ngợi dũng khí, lòng quả cảm và khát vọng về công danh, hạnh
phúc của người dũng sĩ lỗi lạc.
Cuộc cầu hôn không thành, Đan Săn lên ngựa trở về. Thần ánh sáng đã làm cho đất nhão
ra. Chàng dũng sĩ đã chết trong
tư thế lẫm liệt. Mặc dù vậy, Đam Săn là tù trưởng duy nhất đi tới được vương quốc nữ thần
sống. Thuở ấy có nàng Tiên Dung, công chúa của vua Hùng thứ ba, nhan sắc tuyệt trần, đã
17, 18 tuổi mà không chịu lấy
chồng, chỉ thích chèo thuyền đi xem sông núi. Một hôm, thuyền của nàng đến khúc sông
làng Chử Xá, thấy cảnh sông nước
bờ bãi xinh đẹp, nàng bèn ra lệnh cho thị nữ vây màn tứ vi vào một nơi có bóng mát để tắm.
Không ngờ nơi đó Chử Đồng
Tử đang náu mình dưới cát. Tiên Dung giội nước một lúc, nàng giật mình thấy một chàng
trai trồi lên. Nàng hỏi duyên cớ thì
Chử Đồng Tử nói vì không có quần áo, thấy thuyền quan quân thì sợ nên phải vùi mình
xuống cát để ẩn.
Tiên Dung nói với Chử Đồng Tử : "Tôi đã nguyện không lấy chồng, nay duyên trời run
rủi, lại gặp chàng chốn này mới biết
cưỡng không được với trời". Nàng sai thị nữ đem áo quần cho Chử Đồng Tử và sửa soạn
tiệc hoa. "Chử Đồng Tử bối rối
chối từ, Tiên Dung nói: "Thiếp với chàng là tự trời xe duyên, việc gì mà từ chối!". Hai
người nên vợ nên chồng từ đấy.
Vua Hùng được tin giận lắm, ra lệnh cho quân quan, người hầu của Tiên Dung phải về
kinh đô. Nàng sợ cha, đành cùng
chồng ở lại làm ăn. Mấy năm sau, cuộc sống trở nên thịnh vượng. Nàng để chồng ra biển
tìm vật lạ đem về đổi lấy các thứ
khác. Chử Đồng Tử lên đường. Đến một nơi núi non hữu tình, thấy cái am nhỏ, chàng leo
lên núi, may thay gặp sư Phật
Quang. Thấy Chử Đồng Tử là người chân thật, sư Phật Quang truyền cho phép lạ, hơn một
năm sau thành tài. Chử Đồng Tử
xuống núi trở về nhà, lạy tạ nhà sư và được Phật Quang ban cho một cái gậy, một nón có
phép mầu nhiệm biến hoá. Chử
Đồng Tử đem phép mầu truyền lại cho Tiên Dung rồi hai vợ chồng du ngoạn cảnh sông núi.
Có lần trời tối giữa đường, hai vợ
chồng cắm cái gậy xuống đất, úp nón lên đầu gậy, hai người tựa vào nhau dưới nón mà ngủ.
Nửa đêm tỉnh giấc, hai vợ chồng
tìm mọi cách để giúp nước. Chử
Đồng Tử và Tiên Dung đã sống và hành động như vậy.
Nhà sư Phật quang, cái nón và chiếc gậy nhiệm màu, cung điện tự mọc lên, tự mất đi,
Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay lên
trời, Chử Đồng Tử giúp Triệu Quang Phục cái vuốt rồng đó là yếu tố hoang đường, kì
diệu làm cho truyện cổ tích này vô
cùng hấp dẫn. Các địa danh: làng Chử Xá, bãi Tự Nhiên, đầm Nhất Dạ nay vẫn còn đó,
làm cho truyện cổ tích "Chử Đồng
Tử" tuy mang màu sắc hư ảo, thần kì mà như thật, có thật. Rất thú vị về những tên người,
tên đất ấy.
Tóm tắt
Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao sinh được hai người con trai giống nhau như hai
giọt nước, thật khó phân biệt ai là
anh, ai là em. Khi hai anh em đến tuổi 17, 18 thì cha mẹ đều qua đời cả. Anh em lại càng
yêu thương nhau nhiều hơn.
Hai anh em đến xin học ông đạo sĩ họ Lưu. Thấy hai anh em chăm chỉ học hành, lại đứng
đắn nên thầy quý như con. Ông đạo
sĩ có một cô con gái xinh đẹp tươi giòn, tuổi đã 16, 17 sinh lòng yêu mến hai chàng trai,
muốn kết duyên với người anh như
không thể phân biệt được người nào là anh, người nào là em. Sau đó, cô mới nghĩ ra một kế:
dọn 2 bát cháo mà chỉ đặt một
đôi đũa rồi mời hai anh em cung ăn. Người em lễ phép nhường đôi đũa cho người anh ăn
trước. Cô gái xinh đẹp xin phép cha
mẹ cho được lấy người anh làm chồng.
Từ ngày lấy vợ, người anh hình như dồn tất cả tình yêu cho vợ nên tình cảm anh em
không còn được thắm thiết như trước
nữa. Người em buồn tủi vô cùng. Một lần đi nương về, trời đã tối, cô gái họ Lưu từ buồng ra
gặp người em tưởng là chồng,
vội ôm chầm lấy. Người em vội kêu lên, cả hai đều xấu hổ. Còn người anh thì lại nghi ngờ
chị dâu và em chồng có tình ý gì
cảm động, với bao tình tiết đậm đà chất trữ tình tục ăn trầu- một mĩ tục dân gian, biểu hiện
một nét đẹp truyền thống lâu đời
giàu bản sắc của nền văn hoá Việt Nam. Đồng thời truyện còn ca ngợi tình nghĩa thắm thiết,
thuỷ chung của anh em, vợ chồng
trong gia đình.
Cái chết của ba người-hai anh em họ Cao và cô gái họ Lưu- chỉ là một sự hoá thân kì
diệu:cau - trầu - vôi. Cây cau toả
bóng chở che cho hòn đá, cây trầu quấn chặt lấy thân cau. Cũng như trầu với cau ăn với tí
vôi làm cho miệng thơm môi đỏ.
Trầu cau đã gắn bó với lễ hội cổ truyền, trong thù tiếp của cộng đồng người Việt xa xưa.
2. Lời bình
Dị bản thành văn của truyện "Trầu cau" xuất hiện ở thế kỷ 15 trong "Lĩnh Lam chích
quái" (Truyện Cây Trầu). Nhưng như
thế là rất muộn so với nội dung xã hội được phản ánh trong truyện. Mằc dù các tác giả
"Lĩnh Lam chích quái" có cố gắng tô
điểm lại thêm đôi nét cho thích hợp với quan điểm đạo đức thời phong kiến, dị bản này vẫn
bảo lưu được cái cốt lõi rất cổ
của truyện kể. Đó là một kiểu truyện kể về sự xung đột của hai quan điểm vì hình thái hôn
nhân: một thuộc chế độ quần hôn
(anh em lấy chung một vợ) thời mẫu hệ và một thuộc chế độ hôn nhân và gia đình lứa đôi
thời phụ hệ.
Sự xung đột đó phản ánh một bước tiến xã hội và thể hiện thành tâm trong đau khổ giằng
xé giữa tình anh em và tình yêu
trai gái ở trong từng nhân vật của truyện. Tâm trạng ấy đưa đến cái chết sầu muộn của cả ba
người thật là cảm động. Kiểu
truyện này phổ biến khắp vùng Đông Nam Á.
Nhưng cũng như ở nhiều nơi khác, truyện cổ tích thần kì Việt Nam đã lồng đề tài xã hội
vào đề tài thiên nhiên, đã kết thúc
bằng đồng nhất các quan hệ tình cảm kia với sự hài hoà của thiên nhiên (trầu, cau, vôi) gợi
nên niềm thương cảm gắn bó giữa
ra chợ bán với giá bán một cuộn
dong. Người mua chị lại chính là người yêu cũ, nay đã trở nên giàu có và đã có vợ. Chị đã
quá thay đổi, anh chẳng nhận ra chị
được nữa. Chị đem đàn môi ra gảy. Anh chợt nhận ra chị qua tiếng đàn môi não nùng. Anh
thu xếp cho người vợ trước trở về
nhà cha mẹ mình rồi cưới chị làm vợ như lời nguyền ngày trước.
Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa
1. Đoạn thơ ghi lại tâm trạng hoảng hốt, đau khổ của cô gái Thái khi bị cha mẹ ép
duyên.
- Đó là một buổi chiều, cô đang kiếm củi trên nương. Cô vừa hái củi vừa nghĩ đến người
yêu: " một bó dành nhen lửa sàn
hoa - Lứa sàn hoa để bạn trai xa hơ áo - Em chỉ đón chờ mồi thuốc anh yêu". Cô mơ ước
"Hỡi vía anh yêu, về nhà theo
nhau". Mặt trời được nhân hoá như đang đối thoại với cô gái, mặt trời "qua sàn người
thương", lúc "sắp lặn", lúc "khuất mây
mờ", mặt trời "không gọi không chờ", - chẳng khác nào chàng trai - người yêu của cô.
Gánh củi về nhà, cô ngạc nhiên nhìn thấy gói cà, gói xôi, gói thuốc lào Lúc đầu cô tưởng
là hàng hoá của người Xá mang tới
đổi bán. Khi biết là sính lễ "ràng cuốn tình con", cô luống cuống hoảng sợ, đau khổ "lập cập
chạy ra sân" "nát ruột gan" nghĩ
về người yêu. Kêu van bác trai, bác gái, chú thím, chị em dâu rể, ai cũng bảo: "K hông giúp
nổi cháu ơi", "không giúp được em
ơi!" N ghe chim cu khuyên giải: "Bố gả chồng cho, đừng chối cô à!".
Như một định mệnh "dầu van xin cha cũng không buông không thả", cô gái tủi thân, tủi
phận, than khóc:
"Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa.
Bằng con chẫu chuộc thôi!"
2. Ý nghĩ, giá trị
- Đoạn thơ phản ánh tục lệ ép duyên, lên án lễ giáo phong kiến về hôn nhân đã chà đạp
lên tình yêu hạnh phúc của người
Xuống địa ngục lại trở thành sa dạ sa đồng, phải trèo thuyền vượt qua biển dữ, biển ma. Hải
trình là 12 rán nước, mỗi rán
nước là một cửa tử, rùng rợn vô cùng. Phép liệt kê tăng cấp cùng với tiếng than khóc, tiếng
biển sôi, biển réo tạo nên cảnh
chết vô cùng hãi hùng! Rán thứ chín "mặt biển nước sôi gầm réo", rán thứ mười "nước trời
băng băng, làm cho con thuyền
"cánh dầm tung bốn góc". Rán thứ mười một "sóng đuổi sóng xô đi", v.v… Thuỷ quái, nhất
là con "ngọ lồm" - quỷ biển ma -
đón đường cắn xé sa dạ sa đồng. Phu chèo thuyền kinh hãi, cất tiếng khóc than:
"Biển ơi, đừng giết tôi
Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền".
Họ gọi nhau "chèo mau lên, chèo cố" giữa biển ma mịt mù và cái chết nơi cõi âm bủa
vây.
Các slay - quan quân lên bờ, có người "ôm hoa", "ôm hương", có người "cầm nón", "cầm
ô", "xách giầy hoa giầy đẹp", gánh
gồng bao của quý "đi lễ người". Còn các sa dạ sa đồng, hồn ma của người em bất hạnh ngồi
trên bờ biển càng cảm thấy cô
đơn, nghĩ đường về nhà kinh hãi:
"Chèo thuyền qua lò than, qua biển
Nhìn đường về, nước cuộn ầm rung".
Hết rán nước này qua rán nước khác, chèo thuyền đi rồi lại chèo thuyền về trên biển ma -
kết cấu chuyển dịch nhằm diễn
tả những kiếp người luân hồi đau khổ. "Vượt biển" qua giọng đọc và khấn cầu của thầy
cúng, ai đã một lần được nghe mới
súc động trước âm điệu thê thiết não nùng, mới cảm thấy cái khủng khiếp của bể trầm luân
và thương sót với những kiếp
người đau khổ, bất hạnh. Truyện thơ "Vượt biển" là tiếng kêu đau thương từ cõi âm vọng về
cõi dương. Đó là nội dung
nhân đạo của nó.
Bài ca người thợ mộc
nhé! Hai chữ "khéo thay" cũng là
lời tự khen, khoe tài của anh: "Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo thay"! Có tài thực mà
khoe khoang thì cũng chẳng hay ho
gì! Ở đây, chàng thợ mộc Thanh Hoa khoe tài là để tỏ tình với cô gái mà anh đang yêu, nên
rất dễ thương, được chúng ta
đồng tình.
Câu 3,4 chỉ theo đà mà nói, chứ có tài cán gì ở cái việc "bào trơn, đóng bén" Từ câu thứ
năm trở đi, bằng biện pháp liệt
kê, chàng thợ mộc khoe tài chạm trổ của anh. Năm bức chạm con vật: dê, rồng, mèo, gà,
lươn. Hai bức chạm cảnh: hoa và
đèn. Có bức chạm tứ linh: rồng, nhưng đã được cách điệu dân gian hoá, bình dị hoá.
"Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo"
Con lươn có gì đáng chạm? Với tài nghệ điêu luyện, bức chạm lươn vô cùng sống động,
tuyệt khéo:
"Bốn cửa anh chạm bốn lươn