Một tiếng kêu vang lanh cả trời.
Phan Võ dịch
Tác giả
Không Lộ Thiền sư (?- 1119) là Phật danh, họ Dương, quê ở Nam Định, vùng biển. Đức
trọng tài cao, tên tuổi gắn liền
với nhiều giai thoại nhà chùa và hai bài tứ tuyệt: "Ngôn hoài", "Ngư nhàn".
Chủ đề
"Ngôn hoài"- giãi bày nỗi lòng của vị Thiền sư - thi sĩ - tình yêu đời chan hoà với tình
yêu quê hương, yêu thiên nhiên tạo
vật.
Phân tích
Hai câu đầu nói lên niềm vui dào dạt "suốt ngày vui", đó là "dã tình", là mối tình quê
nhà, đồng ruộng, núi rừng. Vui vì
chọn được "kiểu đất long xà" rất đẹp, rất thích để làm nhà. Niềm vui ấy bình dị như mọi
người. Không Lộ tuy là một vị Thiền
sư nhưng không thoát tục, vui niềm vui bình dị, yêu tình yêu quê hương.
Hai câu 3, 4 thể hiện khí phách và sự chan hoà của nhà thơ giữa thiên nhiên cao rộng,
trèo thẳng lên đỉnh núi cao rồi kêu
lên một tiếng thật to và dài trấn động cả bầu trời, vũ trụ. Chữ dùng thật hay, biểu lộ một chí
khí. Một tâm thế hào hùng, kỳ lạ :
"Hữu thì trực thượng cô phong đính,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư"
Đọc thêm
Ngư nhàn
Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên.
Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên.
Ngư ông thụy trước vô nhân hoán,
Quá ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền.
Không Lộ Thiền sư
Cảnh thanh nhàn của ngư ông
Mây xanh nước biếc muôn trùng,
2. Bài thơ biểu lộ niềm tự hào, niềm vui thắng trận và nói lên khát vọng đem tài trí xây
dựng đất nước thanh bình
bền vững muôn đời.
Phân tích
Bài thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt. Hai câu đầu bình đối như hai trang kí
sự chiến trường. Vị ngữ "đoạt
sóc" (cướp giáo) và "cầm Hồ" (bắt giặc Mông Cổ) được đặt ở đầu câu, thể hiện hai thế
đánh, hai cú đánh liên tiếp giáng
xuống đầu giặc với sức mạnh "Sát Thát" của tướng sĩ thời Trần. Chương Dương độ và Hàm
Tử quan, hai địa danh, hai chiến
công đã được ghi vào sử sách và thơ ca dân tộc trở nên trường tồn, chói lọi:
"Đoạt sóc Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan "
Câu thơ như một bản tin chiến sự, có một sức nén và vang xa, dạt dào tự hào. Phải là
người tham dự, chỉ huy trận đánh
mới viết hàm súc và đĩnh đạc, hào hùng như vậy.
Hai câu cuối, một ý thơ mới xuất hiện. Trong khói lửa chiến trường, trong niềm vui chiến
thắng giải phóng kinh thành Thăng
Long trên đống tro tàn do lũ giặc gây ra, nhà thơ nghĩ đến nhiệm vụ mới:
"Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san”
Trước mắt mọi người, từ vua tôi, tướng sĩ đến trăm họ, toàn dân, ai ai cũng phải đem tài
trí sức lực, của cải (trí lực) để xây
dựng giang san đất nước bền vững trong thanh bình đến muôn đời. Nhãn quan chính trị của
Trần Quang Khải vô cùng sáng
suốt. Câu thơ trên có ý nghĩa thời sự đối với chúng ta hiện nay.
Tóm lại, "Tụng giá hoàn kinh sư" là bài thơ kiệt tác. Bản dịch của tác giả Trần Trọng
Kim rất đặc sắc.
Thuật hoài
Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu
ơn vua báo nợ nước. Mang nặng nợ công danh cũng là khát vọng anh hùng cao đẹp. Tự tin
và tự hào khi nhà thơ khẳng định.
"Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu"
Bài thơ là khúc tráng ca của người anh hùng Phạm Ngũ Lão trăm trận trăm thắng. Cùng
với "Hịch tướng sĩ " (Trần Quốc
Tuấn), "Tụng giá hoàn kinh sư" (Trần Quang Khải) bài thơ "Thuật hoài" của Phạm Ngũ
Lão sáng ngời Hào khí Đông - Á.
Tác giả
Trương Hán Siêu (?-1354), tự là Thăng Phủ, quê ở N inh Bình. Vốn là môn khách của
Hưng Đạo Vương. Dưới triều Trần
Anh Tông, Trần Dụ Tông, ông làm quan to trong triều. Lúc mất được truy tặng Thái bảo,
được thờ ở Văn Miếu.
Là bậc danh sĩ tài cao học rộng. Hiện còn để lại 4 bài thơ, 3 bài văn, nổi tiếng nhất là
"Bạch Đằng giang phú".
"Phú" là gì?
"Phú" nghĩa đen là bày tỏ, miêu tả, là thể văn xuôi có vần dùng để tả cảnh vật, phong tục,
tính tình. Phú được chia làm hai
loại:
1. Phú cổ thể gọi là Phú lưu thuỷ, như một bài ca, hoặc một bài văn xuôi dài mà có vần.
2. Phú Đường luật là thể phú được đặt ra từ đời Đường vừa có vần vừa có đối, có luật
bằng trắc nghiêm nhặt.
Bố cục một bài phú gồm có 6 phần: 1, Lung; 2, Biện nguyên; 3, Thích thực; 4, Phu diễn;
5, Nghị luận; 6, Kết.
Cách đặt câu trong một bài phú gồm có các kiểu sau: Câu tứ tự, câu bát tự, câu song quan,
câu cách cú, câu gối hạc.
Có hay chữ (tài giỏi), có tài hoa mới viết được phú. Cần hiểu thi pháp về phú mới cảm
nhận được cái hay của văn
chương, tư tưởng của phú và văn tế
Chủ đề
Trận đánh thư hùng chửa phân,
Chiến luỹ Bắc, Nam chống đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi
( ) Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi"
4. Trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng khác nào trận Xích Bích, trận Hợp Phì trong Bắc
sử. Nhà thơ tự hào khẳng
định và ngợi ca:
"Quả là trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc điện an
( ) Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng
Bởi Đại Vương coi thế giặc nhan "
5. Bài ca về sông Bạch Đằng
Sông Bạch Đằng hùng vĩ, là mồ chôn quân xâm lược:
"Sông Đằng một giải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông."
Bài học giữ nước là bài học "đức cao" đó là lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết chống
xâm lăng. Ý tưởng sâu sắc, tiến
bộ:
"Giặc tan muôn thuở thanh bình
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao."
Tổng kết
"Bạch Đằng giang phú" là bài ca yêu nước và tự hào dân tộc. Ngôn ngữ tráng lệ. Dòng
sông hùng vĩ, hiểm trở. Dân tộc anh
hùng có nhiều nhân tài hào kiệt. Nhà thơ thể hiện những tư tưởng sâu sắc tiến bộ về vinh và
nhục, thắng và bại, tiêu vong
và trường tồn, đất hiểm và đức cao Đó là bài học lịch sử sáng giá đến muôn đời.
Có những câu văn như một châm ngôn khẳng định một chân lí lịch sử.
"Những người bất nghĩa tiêu vong
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
- Sức mạnh nhân nghĩa là sức mạnh Việt Nam để chiến thắng thù trong giặc ngoài. Đó là
"Đại nghĩa" (nghĩa lớn vì nước vì
dân), là lòng "chí nhân" (thương người vô hạn):
"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo"
- Lòng căm thù giặc sôi sục, quyết không đội trời chung với quân "cuồng M inh":
Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống
- Tư tưởng nhân nghĩa của Ức Trai luôn luôn gắn liền với lòng "trung hiếu" và niềm "ưu
ái" (lo nước, thương dân).
"Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen"
(Thuận hứng - 24)
"Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông"
(Thuật hứng - 5)
b) Văn thơ Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê
hương, gia đình.
- Yêu thiên nhiên:
+ Yêu cây cỏ hoa lá, trăng nước mây trời, chim muông
"Hái cúc ương lan, hương bén áo
Tìm mai, đạt nguyệt, tuyết xâm khăn"
"Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then"
"Cò nằm, hạc lẩn nên bầy bạn
Ủ ấp cùng ta làm cái con"
+ Yêu quê hương gia đình:
" Ngỏ cửa nho, chờ khách đến
lục ngôn là một dấu ấn kì lạ của nền thơ chữ Nôm dân tộc.
Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, nhà văn hoá vĩ đại, là đại thi hào dân tộc. Nguyễn Trãi
còn là ông tiên ở trong lầu ngọc
mà tâm hồn lộng gió thời đại. Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Trãi là bài ca yêu nước, tự hào
dân tộc.
Xuất xứ
Năm 1407, giặc Minh xâm lăng nước ta. Năm 1417, tại núi rừng Lam Sơn, Thanh Hoá,
Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa xưng là
Bình Định Vương. Trải qua mười năm kháng chiến vô cùng gian lao và anh dũng, nhân
dân ta quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ
cõi. Mùa xuân năm 1428 thay lời Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo "Bình Ngô Đại cáo". Nó là một
luận văn chính trị, quân sự,
đồng thời là áng "thiên cổ hùng văn"
Chủ đề
"Bình Ngô đại cáo" khẳng định sức mạnh nhân nghĩa Đại Việt căm thù lên án tội ác ghê
tởm của quân "cuồng Minh", ca
ngợi những chiến công oanh liệt thuở "Bình Ngô", tuyên bố đất nươc Đại Việt bước vào kỷ
nguyên mới độc lập, thái bình bền
vững muôn thuở.
Phân tích
1. Đại Việt là một đất nước có truyền thống nhân nghĩa cao đẹp.
a) Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nêu cao ngọn cờ nhân nghĩa, đem "quân điếu phạt" để tiêu diệt
quân cường bạo, vì độc lập của
nước, vì sự yên vui hạnh phúc của nhân dân:
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
b) Nguồn gốc của nhân nghĩa Đại Việt là nền văn hiến lâu đời. Đâu phải "N am man" là
"man di mọi rợ". Như bọn
hoàng đế phương Bắc thường láo xược phán truyền. Trái lại, Đại Việt là một quốc gia "vốn
xưng nền văn hiễn đã lâu". Nền
nhân dân ta như Nguyễn Trãi.
3. Nguồn sức mạnh nhân nghĩa Đại Việt:
a. Lãnh tụ nghĩa quân là một anh hung xuất chúng:
"Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
( ) Thế trận xuất kì, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều".
b. Sức mạnh của lòng căm thù giặc và tinh thần đại đoàn kết dân tộc để chiến thắng
quân xâm lược:
- “Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống"
- "Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới,
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào".
4. Quá trình phản công và toàn thắng:
a. Nguồn gốc của chiến thắng là sức mạnh nhân nghĩa:
"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy trí nhân để thay cường bạo"
b.Trận đầu thắng lớn, giáng sấm sét vào đầu lũ xâm lăng:
"Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay"
c. Giải phóng miền rộng lớn đất nước:
"Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về".
d. Quân ta càng đánh càng thắng to. Giặc Minh bị giáng những đòn chí mạng! Máu giặc
chảy thành sông thây
chết đầy nội.
"N inh K iều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tụy Động thây chết đầy nội, nhơ để ngàn năm".
e. Viện binh giặc bị tiêu diệt: Liễu Thăng "cụt đầu", bá tước Lương Minh "đại bại từ
vong", thượng thư Lý Khánh cùng
Tổng kết
1." Bình Ngô đại cáo" được viết theo thể "cáo" lối liền ngẫu loại chính luận, dùng cho
nhà vua để tuyên bố những vấn đề
trọng đại cho toàn dân biết. " Bình Ngô đại cáo" vừa là một bản tổng kết cuộc kháng chiến
mười năm chống giặc minh vừa là
lời tuyên ngôn độc lập, hoà bình.
2. Lập luận đanh thép, giọng văn hùng hồn, ngôn ngữ tráng lệ. "Bình Ngô đại cáo" dào
dạt tinh thần yêu nước, là áng "thiên
cổ hùng văn" khẳng định sức mạnh nhân nghĩa Đại Việt.
Bảo kính cảnh giới - 43
Nguyễn Trãi
Rồi bóng mát thuở cảnh trường
Hoè lục đùn đùn tán rợp trương
Thạnh lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồn liên trì đã tịn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Dẽ có Ngu Cầm đàn một tiếng.
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
Xuất xứ
"Quốc âm thi tập"của Nguyễn Trãi hiện còn 254 bài thơ Nôm, trong đó có nhiều bài bát
cú, thất ngôn xen lục ngôn. Chùm
thơ "Bảo Kính cảnh giới" gồm có 61 bài trong "Quốc âm thi tập". Đây là bài 43. Nguyễn
Trãi viết bài thơ này khi ông đã về
Côn Sơn ở ẩn.
Chủ đề
Bài thơ nói lên niềm vui trước cảnh mùa hè và nỗi ước mong của bài thơ.
Phân tích
1. Niềm vui trước cảnh mùa hè
Đã thoát khỏi vòng danh lợi về sống giữa làng quê. Niềm vui nhàn hạ được "hóng mát"
Trong " Quốc âm thi tập" có chùm thơ "Môn hoa mộc" hiện còn 34 bài nói về các loài
hoa như sen, mai, cúc, đào, hoè,
nhài các loại cây như thiên tuế, tùng, trúc, cây đa, cây mía, cây chuối phần lớn là thơ tứ
tuyệt thất ngôn xen lục ngôn.
Bài "Cây chuối" nằm trong chùm thơ "Môn hoa mộc" ấy.
Phân tích
- Câu 1, 2 (khai, thừa)
Cây chuối, vốn đã xanh tốt, từ buổi "bén hơi xuân", nó "tốt lại thêm". Chữ "bén", ta
thường nói: "bén lửa", "bén
duyên" (Thiếp bén duyên chàng có thế thôi - Hồ Xuân Hương). Thành ngữ "Quen hơi bén
tiếng". "Bén" nghĩa là "bắt
vào", "nhập vào", "dính vào". Cũng có nghĩa là "biết". Hơi xuân, khí xuân ấm áp đã làm
cho cây chuối thêm tươi tốt. Đó
cũng là xuân sắc, một cách nói đầy chất thơ.
Từ ngày "bén hơi xuân", đêm đêm cây chuối toả ra một hương thơm nồng nàn kì diệu.
Chuối không có hương. Có lẽ đó là
hương xuân, mà nhà thơ cảm nhận được. Câu thứ hai có nhiều cách hiểu. Buồng là buồng
chuối. Buồng chuối trông rất lạ, có
nhiều nải chuối, trái chuối chi chít (đầy). Xuân Diệu hiểu một cách phong tình. Buồng là
buồng khuê, buồng thiếu nữ, vì thế
mới toả ra hương thanh khiết, nồng nàn thâu đêm.
Có thể nói, 2 câu đầu tả cây chuối, buồng chuối, cũng là để nói về xuân sắc, xuân xức và
xuân hương của cây cỏ, của
tuổi xuân, của sức sống tuổi trẻ. Cách nói của Ức Trai rất non tơ, phong tình. Tả hoa nhài,
ông cũng viết:
"Môi son bén phấn dây dây,
Đêm nguyệt đưa xuân một nguyệt hay "
- Câu 3,4 (chuyển, hợp):
Câu 3 tả cái đọt chuối qua hình ảnh ẩn dụ "tình thư ". Cái đọt chuối màu xanh cẩm
thạch cuộn tròn (phong còn kín), đang
Bi khắc tiển hoa ban.
Núi Dục Thuý
Cửa biển có non tiên
Từng qua lại mấy phen.
Cảnh tiên rới cõi tục,
Mặt nước nổi hoa sen
Bóng tháp hình trâm ngọc
Gương sông ánh toác huyền.
Nhớ xưa Trương Thiếu bảo,
Bia khắc dấu rêu hoen.
Khương Hữu Dụng dịch.
Xuất xứ
1. Tên cũ là Băng Sơn, đầu thế kỷ thứ 14, Trương Hán Siêu đổi tên thành Dục Thuý
Sơn. Ngày nay gọi là núi Non Nước.
Dục Thuý Sơn - 600 năm về trước nằm trên cửa biển, nay biển đã lùi xa. Núi Non Nước
nằm bên bờ sông Đáy giữa thị xã
N inh Bình, là một danh lam thắng cảnh được nhiều thi sĩ vịnh cảnh đề thơ.
2. Bài "Dục Thuý Sơn" được Nguyễn Trãi viết bằng thơ ngũ ngôn bát cú, rút trong "Ức
Trai thi tập". Trong bản dịch thơ,
Khương Hữu Dụng vì để hiệp vần nên đã giao hoán hai câu 3, 4. Đó là điều cần biết trước
khi cảm nhận bài thơ.
Chủ đề
Bài thơ miêu tả núi Dục Thuý đẹp như cảnh tiên trên cửa biển, nhà thơ tới thăm núi mà
nhớ tới danh sĩ Trương Hán Siêu đời
Trần. Qua đó, tác giả nói lên lòng tự hào về núi sông mỹ lệ, tưởng nhớ đến công đức của
tiền nhân.
1. Hai câu "đề", Nguyễn Trãi giới thiệu Dục Thuý Sơn đẹp như non tiên nổi lên giữa cửa
biển. Cảnh đẹp quyến rũ nên
nhà thơ đã mấy phen tới thăm thú.
2. Bốn câu tiếp theo trong phần "thực" và "luận" đối nhau từng cặp một. Nhà thơ tạo nên