2. Bốn câu tiếp theo trong phần "thực" và "luận" đối nhau từng cặp một. Nhà thơ tạo nên
4 hình ảnh so sánh ẩn dụ để
miêu tả Dục Thuý Sơn là non tiên: N hư đoá sen nổi trên mặt nước. Như cảnh tiên rơi xuống
cõi trần.
Bóng tháp như chiếc trâm bằng ngọc xanh. Ánh sáng trên sông nước như chiếc gương soi
mái tóc xanh biếc. Trên núi có
chùa, có tháp nên mới tả, mới so sánh với trâm ngọc, với gương soi mái tóc xanh biếc. Trâm
và gương ấy là của tiên nữ nơi
non tiên. Cảnh đẹp thơ mộng, thần tiên. Bút tháp tài hoa lãng mạn. Thơ hàm súc, giàu hình
tượng:
"Liên hoan phù thủy thượng
Tiên cảnh trụy trần gian
Tháp ảnh trâm thanh ngọc,
Ba quang kính thuý hoàn".
Câu 8 có "phù" (nổi) câu 4 đối lại "trụy" (rơi xuống); câu 5 là "trâm thanh ngọc", câu 6
lại có "kính thuý hoàn" thật là tương
ứng, hoà hợp. Yếu tố tưởng tượng tạo nên chất thơ tuyệt đẹp.
3. Hai câu kết thể hiện một tấm lòng đầy tình nghĩa. "Hữu hoài" là nhớ mãi. Chỉ nhắc lại
họ "Trương", tước hiệu "Thái bảo"
- một cách nói đầy kính trọng với Trương Hán Siêu, một danh sĩ thời Trần, người đã đổi tên
núi từ Băng Sơn thành Dục Thuý
Sơn, đã làm bài "Dục Thuý Sơn khắc thạch" và "Dục Thuý Sơn Linh Tế tháp kí". Nhìn bia
đá phủ rêu, Nguyễn Trãi nhớ đến
công đức tiền nhân. Hai câu thơ 10 từ chứa chan cảm xúc và tình nghĩa:
"Hữu hoài Trương Thiếu bảo,
Bi khắc tiển hoa ban"
III. Tổng kết
"Dục Thuý Sơn" là một trong những bài thơ chữ Hán tuyệt bút của Ức Trai, thuộc đề tài
vịnh phong cảnh núi sông cẩm tú.
Yêu thiên nhiên, yêu đất nước, nhớ công đức người xưa là cảm hứng chủ đạo của Ức Trai.
Bốn câu trong phần thực và luận
Ngô Lập Chi dịch
I. Tác giả
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) quê ở làng Trung Am, xã Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải
Phòng. Học giỏi, đỗ trạng nguyên.
Ông có câu thơ: "Văn thơ tam thượng tiếu tài sơ", nghĩa là ba lần đỗ đầu vẫn cười mình tài
tầm thường. Làm quan dưới triều
Mạc một thời gian rồi treo ấn từ quan, về quê dựng am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư
sĩ, lập quán Trung Tân, xây
Nghinh Phong kiều, mở trường dạy học có nhiều người nổi tiếng như: Phùng Khắc Khoan,
(Trạng Bùng), Nguyễn Dữ Ông
đức trọng, tài cao, được người đời kính ái gọi là Tuyết Giang phu tử. Lúc ông mất, vua nhà
Mạc truy phong là Trình Quốc
Công.
Nguyễn Bỉnh K hiêm là nhà triết học vĩ đại để lại nhiều sấm kí linh diệu, là nhà thơ lỗi lạc
của dân tộc trong thế kỷ 16. Thơ ông
hàm súc, hàm chứa chất triết lí, giáo huấn, thương dân, lo đời, ghét chiến tranh. Những câu
thơ viết về thiên nhiên rất tươi tắn,
thú vị. Hiện còn gần 200 bài thơ Nôm trong "Bạch Vân quốc ngữ thi tập" và trên 1.000 bài
thơ chữ Hán trong "Bạch Vân
Am tập”.
II. Lời bình
Năm Nhâm Dần (1548), Nguyễn Bỉnh Khiêm thoái quan về sống giữa xóm làng quê
hương. Mùa thu năm ấy, ông cùng
các bô lão dựng quán Trung Tân làm chỗ ngồi chơi hóng gió và để khách qua đường nghỉ
chân. Trong "Bài bia ở quán Trung
Tân", Nguyễn Bỉnh K hiêm nói rõ:
"Có người hỏi rằng: "Q uán ấy đặt tên "Trung Tân" có nghĩa là gì?". Ta trả lời rằng:
"Trung nghĩa là đứng giữa không
chênh lệch, giữ vẹn được điều thiện là trung, không giữ vẹn được điều thiện thời không phải
là trung vậy; tân có nghĩa là cái
"Hoa, trúc tự tay giồng
Gậy, dép bén mùi hoa,
Chén, cốc ánh sắc hồng.
Rửa nghiên, cá nuốt mực,
Pha trà, chim lánh khói
Ngâm thơ vừa tiêu dao,
Uống rượu thêm khoan khoái'.
Nguyễn Bỉnh Khiêm có không ít vần thơ dung dị nói lên niềm vui dào dạt của kẻ sĩ thanh
cao sống giữa thiên nhiên. Một
cuộc đời thanh bạch mà sang trọng không phải ở cõi đời này ai cũng dễ có?
- "Ruộng hiềm đất áy, cày chưa chín,
Sách được câu thần dạ những ngong"
(Bài 111)
- "Trà sen, sáng đãi người đưa khát,
Rượu thánh (ngon), hôm mời khách uống say".
(Bài 140)
- "Vườn rau, sáng dạo, sương đầy dép,
Bến cá đêm trăng, bóng lọt thuyền".
("Ngụ ý"- thơ dịch)
Giọng thơ biến đổi, pha chút hóm hỉnh tự giễu mình khi ông nói về "vụng" và "xảo". Cấu
trúc vần thơ liên hoàn. Thơ mang
nội dung đạo lí với cách nói thâm trầm, thấm thía. K huyên mình hay nhắc khẽ ai?
“Người xảo thì ta vụng
Ấy vụng thế mà hay
Ta vụng thì người xảo
Ấy xảo thế mà gay!”
Vụng là vụng về, chất phác, chân thật. Xảo là xảo quyệt, tham lam, dối trá. Vụng và xảo
là nói về hai loại người trong xã
hội xưa nay. Có bài thơ, ông nói về khôn, dại trong thiên hạ:
"Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Lúa thành thoi thóp bên cồn,
Nghe thôi ngọc địch véo von trên lầu
3. Non đông thấy lá hầu chất đống,
Trĩ xập xoè, mai cũng bẻ bai
K hói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió, lạc loài kêu sương.
4. Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc,
Nhạn liệng không, sóng giục thuyền câu,
Ngàn thông chen chúc khóm lau,
Cánh ghềnh thấp thoáng người đâu đi về,
(Trích bản dịch "Chinh phụ ngâm")
I. Tác giả, dịch giả
1. Tác giả
Đặng Trần Côn sống vào nửa đầu thế kỷ 18 người Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, là một
danh sĩ hiếu học tài ba.
2. Dịch giả
Hiện có bốn bản dịch Chinh phụ ngâm. Bản dịch lưu truyền rộng rãi lâu nay, được đánh
giá là hay nhất - nhiều ý kiến vẫn
cho là của Đoàn Thị Điểm (?) - Bà sinh năm 1705, mất năm 1748, quê ở Giai Phạm, Hưng
Yên, là một người phụ nữ có
nhan sắc, có học vấn và có tài thơ. Ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm, bà còn để lại tập
truyện chữ Hán "Truyền kì tân phả"
và nhiều thơ phú khác.
II. Tác phẩm
- Đặng trần Côn viết Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán theo điệu cổ Nhạc phủ có câu dài 5
từ, 7 từ, lại có câu 8, 9, 10 từ.
- Bản dịch thơ theo điệu ngâm song thất lục bát, dài 40 câu.
Nội dung tác phẩm:
Thế kỷ 18, nội chiến, loạn lạc kéo dài. Chinh phụ ngâm nói lên nỗi niềm nhớ thương, lo
lắng, mong mỏi và khao khát
"Lúa thành thoi thóp bên cồn
Nghe thôi ngọc địch véo von trên lầu".
c. Mùa thu đến nhìn về phương đông, nàng thấy lá rụng "chất đống" tàn tạ buồn thương.
Trĩ từng đôi "xập xoè", khóm mai
"bẻ bai" uốn lượn. Câu thơ "Trĩ xập xoè, mai cũng bẻ bai" là một nét vẽ tương phản đầy ấn
tượng. Cỏ hoa, chim chóc được
sánh đôi múa lượn còn nàng thì gối chiếc chăn đơn. Nàng càng thêm sầu tủi, cô đơn lẻ loi
hơn bao giờ hết khi nghe tiếng nhạc
lạc bầy kêu lên trong màn sương khói mịt mù:
"K hói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió lạc loài kêu sương".
Ngọn gió thu lạnh thổi bạc cánh nhạc lạc bầy. Và đó cũng là bão táp chiến tranh làm cho
những lứa đôi trở nên lẻ loi, đơn
chiếc, lạnh lùng. N àng chinh phụ còn thổn thức thương mình bao nhiêu lại thương chồng
nơi ải xa trong dãi dầu sương tuyết
bấy nhiêu.
d. Mùa đông đến, nàng lại nhìn về phương tây, nhìn về Lũng Tây bãi chiến trường núi
xương, sông máu Nàng chỉ nhìn
thấy sông nước mịt mù, ngàn thông, rừng lau trùng điệp. Cánh nhạn và bóng người thấp
thoáng là hai nét vẽ đầy ấn tượng.
Nhìn cánh nhạn, cô phụ ngỡ là cánh nhạn đưa thư. N hìn về phía bên ghềnh, thấy thấp
thoáng "người đâu đi về", chinh phụ
tưởng là người chồng thân yêu từ chiến trường xa trở về Nhớ quá, thương nhiều, đợi chờ,
mòn mỏi, nên chinh phụ mới cảm
nhận hư ảo ấy. Hy vọng lắm nên càng thất vọng nhiều. Càng thất vọng lại càng sầu tủi!
"Ngàn thông chen chúc khóm lau,
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về".
2. Nét đặc sắc nghệ thuật
a. Màu sắc cổ diển: Cảnh vật mang tính ước lệ tựơng trưng (ngọc địch, mai, trĩ, nhạn,
thuyền câu, thông, lau, Lũng Tây,
âm điệu thơ, giai điệu thơ biến hoá
đa thành, phức điệu.
3. Kết luận
Đoạn thơ "Trông bốn bề" giúp ta cảm nhận vẻ đẹp văn chương qua bút pháp tả cảnh ngụ
tình và sử dụng ngôn ngữ dân
tộc. Bút pháp điêu luyện, thơ giàu cảm xúc, giàu hình tượng. Lấy thời gian 4 mùa, lấy
không gian 4 phương trời để tả tâm
trạng nhân vật trữ tình, dịch giả đã làm nổi bật nỗi mong nhớ đợi chờ chồng, nỗi buồn cô
đơn của nàng chinh phụ ngâm
trong một thời loạn lạc. Giá trị nhân bản của đoạn thơ lay động mọi tâm hồn người xưa nay.
Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ
(Trích bản dịch "Chinh phụ ngâm")
1 Lòng này gửi gió đông có tiện,
N ghìn vàng xin gửi tới non yên,
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời.
2. Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong,
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.
3. Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.
Giọt sương phủ bụi chim gù
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.
4. Vài tiếng dế, nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên,
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
5. Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
"Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô".
Đây là hai câu thơ tả cảnh sương, tuyết cực hay, hiếm có trong thơ ca dan tộc.
Chinh phụ thao thức suốt đêm. Tiếng trùng rả rích "phun mưa", tiếng "chim sâu tường
kêu vẳng, chuông chùa nện khơi", âm
thanh xa gần, thương nhớ bồn chồn. tiếng dế râm ran, tiếng gió nàng trằn trọc lắng nghe để
rồi thương nhớ bồi hồi. Tả nỗi
nhớ trong niềm thao thức cũng thật sâu sắc, não nùng:
"Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi "
Từng canh dài trôi qua. Chinh phụ lắng tai nghe rồi nhìn thấy, hàng tiêu, thấy lá màn gió
thổi bay lên, thấy "Bóng hoa theo
bóng nguyệt lên trước rèm". Đây là bức tranh nói về trăng, hoa mang vẻ cổ điển:
"Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng.
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu "
"Hoa nguyệt nguyệt hoa" "Nguyệt lồng hoa" "Hoa giãi nguyệt" "Trước hoa dưới
nguyệt"- quấn quýt, tựa vào nhau,
lồng vào nhau mà khoe "thắm" trùng trùng lớp lớp. Sử dụng điệp ngữ và phép liên hoàn,
nhân hoá "nguyệt hoa" để diễn tả vẻ
đẹp của trăng hoa đồng thời gợi tả nỗi lòng rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi của những
chinh phụ còn son trẻ
trong những đêm trăng đẹp lạnh lẽo.
II. Tổng kết
Đoạn thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt bút. Có hình ảnh âm thanh, có hình ảnh màu sắc, có hình
ảnh tâm trạng - có cảnh lạnh lẽo,
có cảnh não nùng, lại có cảnh trăng, hoa giao hoà, quấn quýt khêu gợi. Tất cả đều hướng về
sự thể hiện nỗi nhớ nhung, sầu
muộn, nỗi buồn thao thức cô đơn, nỗi rạo rực khao khát yêu thương hạnh phúc lứa đôi một
biểu thị một cử chỉ thân mật, vồn
vã, chân thành đối với khách. "Mới quệt rồi" - vừa giới thiệu miếng trầu tươi ngon, vừa biểu
lộ một tấm lòng chân thành, hiếu
khách. Việc chủ nhân xưng tên "Này của Xuân Hương mới quệt rồi" cho thấy đối tượng
được mời là một văn nhân tài tử từng
có "tình ý" với nữ sĩ . Điều đó cũng cho biết Hồ Xuân Hương viết bài thơ này thời con gái,
vừa duyên dáng, vồn vã trong mời
đón khách đến chơi nhà, vừa biểu lộ một cá tính Xuân Hương, sắc sảo trong ứng xử "có góc
có cạnh".
"Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi".
Câu thơ - lời mời trầu - rất hóm hỉnh đã gợi ra trong đối tượng được mời trầu bao liên
tưởng thú vị. Thú vị của mối tình thôn
nữ với chàng thư sinh thuở nào: "Quả cau nho nhỏ - Cái vỏ vân vân - Nay anh học gần -
Mai anh học xa - Lấy anh từ thuở
mười ba - Đến năm mười tám thiếp đã năm con - Ra đường thiếp hãy con son - Về nhà thiếp
đã năm con cùng chàng" - Thú
vị ở sự dao duyên, đưa duyên, ngỏ tình qua miếng trầu chén rượu:
"Có trầu cho miếng đỏ môi,
Có rượu xin chén đẹp môi má hồng".
Thú vị ở sự chân tình "mới quệt rồi" mà lá trầu, quả cau đều là cây nhà lá vườn đậm đà
chân quê:
"Vào vườn hái quả cau xanh,
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu".
Nói rằng thơ Hồ Xuân Hương mang phong vị hồn quê là như vậy.
Hai câu tiếp theo là một lời nói "ướm thử", một cách thăm dò đối tượng - chàng trai mà
cô gái đang mời trầu:
"Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi".
Xin cho được là miếng trầu ngon: miệng thơm, môi cắn chỉ quết trầu, cau, trầu, vôi
I. Xuất xứ, chủ đề
1. Hồ Xuân Hương có chùm thơ 3 bài với nhan đề "Tự tình". Đây là bài thơ thứ hai trong
chùm thơ ấy. Giọng thơ cay đắng,
buồn tủi điều đó cho thấy nữ sĩ viết bài thơ này trong tâm trạng của người phụ nữ quá lứa
lỡ thì
2. Bài thơ thể hiện tâm trạng cuả tác giả tủi hận về tình duyên mà vẫn thách thức với
duyên số.
II. Phân tích
1. Đề
Thao thức cả đêm dài. Lòng bồn chồn nghe tiềng gà gáy văng vẳng trên bom, từ một con
thuyền trên mặt hồ, trên dòng
sông đưa tới. Nữ sĩ ngồi dậy "trông ra khắp mọi chòm", mọi thôn xóm, chỉ thấy mịt mùng
mà lòng thêm "oán hận" - oàn hận
về con đường tình duyên.
2. Thực
Hai câu 3, 4 đăng đối, phủ định để khẳng định tiếng "cốc" của "mõ thảm", tiếng "om" của
"chuông sầu". "Mõ thảm" và
"chuông sầu" là hai hình ảnh ẩn dụ cực tả nỗi đau khổ, sầu tủi của người đàn bà lỡ thì quá
lứa, trắc trở trong tình duyên. Thao
thức trong đêm dài, đau nỗi đau của đời mình như "mõ thảm", chẳng ai khua "mà cũng
cốc"; tủi nỗi tủi của lòng mình như
"chuông sầu", chẳng đánh "cớ sao om"?. Nỗi đau buồn, sầu tủi như thấm sâu vào đáy lòng,
toả rộng trong không gian, kéo
dài theo thời gian như những đêm dài. Đây là hai câu thơ hay nhất tả nỗi "thảm, sầu" trong
sự trắc trở tình duyên.
"Mõ thảm không khua, mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh, cớ sao om?"
3. Luận
Hai câu 5, 6 đăng đối cũng là để tả tâm trạng "rầu rĩ", tủi giận về con đường tình duyên:
"Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
số và hạnh phúc - đó là vấn đề ám ảnh chúng ta khi đọc thơ "Tự tình" này của Hồ Xuân
Hương.
Cảnh chùa chiền
(Trích "Sơ kính tân trang")
Phạm Thái
I. Tác giả
Phạm Thái (1777 - 1813) hiệu là Chiêu Lì, quê ở Hà Bắc. Công danh lận đận, tình yêu dở
dang. Cuôc đời Phạm Thái đầy
bi kịch. Ông để lại "Sơ kính tân trang", "Văn tế Trương Quỳnh Như", bài "Chiến tụng Tây
Hồ phú" và một số thơ nôm khác.
"Sơ kính tân trang" cho thấy Phạm Thái là nhà thơ của tình yêu lãng mạn, của sự bộc lộ "cái
tôi" trong thơ ca rất mới mẻ, báo
hiệu thời kỳ cận đại.
II. Tóm tắt
"Sơ kính tân trang" nói về một chuyện tình như sau:
Trương Công quê ở Kiến Xương, Sơn Nam. Phạm Công quê ở Từ Sơn, Kinh Bắc. Một
người là võ quan, một người là
quan văn kết bạn tâm giao. Họ ước hẹn, nếu sau này, một người sinh được con gái, một
người sinh được con trai thì sẽ kết
thành thông gia. Họ Trương trao cho họ Phạm một chiếc gương vàng và được tặng lại một
chiếc lược ngọc, để đính ước. Sau
đó, Phạm Công sinh con trai đặt tên là Phạm Kim, Trương Công sinh con gái, đặt tên là
Trương Quỳnh Thư.
Xảy ra quốc biến, Phạm Công chết, cơ nghiệp tan nát. Phạm K im lớn lên định nối chí
cha, nhưng mọi sự bất thành, chàng
đi du ngoạn thăm thú các danh lam thắng cảnh. Chàng tới miền Thú Hoa Dương, thấy cảnh
đẹp nên thơ, bèn lưu lại. Chính tại
đây chàng hạnh ngộ Trương Quỳnh Thư đang sống cùng cha mẹ nàng ở kề bên. Và được
Hồng Nương hết lòng giúp đỡ,
Phạm Kim và Trương Quỳnh Thư trao đổi thư từ, thơ phú cho nhau. Mến vì sắc, trọng vì tài
đường mưu đồ đại sự, sau khi Phạm Công - cha chàng đã mất.
2. Đoạn thơ có hai cảnh đầy ấn tượng
a. Cảnh đẹp thiên nhiên hữu tình
- Cảnh đền Hùng:
"Lên Hùng Vương rất non cao,
Mấy dương ngóc ngách, mấy cầu chông chênh"
- Cảnh Yên Tử:
"Vào Yên Tử rất non cùng,
Đàn xô nước suối, phách giong cây rừng".
- Cảnh Kính Chủ (Đông Triều, Quảng N inh):
"Đá sực sực, nước cồn cồn,
Chênh vênh cửa động, chon von mái chùa".
Phạm Thái có một cách viết rất mới lạ, có thể nói, ông tạo ra những câu thơ đảo ngữ, siêu
cú pháp: "Lên Hùng Vương rất
non cao", hoặc "Vào Yên Tử rất non cùng". Cảnh suối rừng núi non hùng vĩ hiện ra vô cùng
kì thú. Các từ láy tạo nên những
vần thơ đầy hình tượng và giàu âm điệu: "ngóc ngách", "chông chênh", "sực sực", "cồn
cồn", "chênh vênh", "chon von",
b. Nhà tu hành dưới mái chùa xưa
Phạm Thái miêu tả những nhà tu hành dưới mái chùa xưa vừa bằng nụ cười châm biếm
vừa bằng cái nhìn lãng mạn. Tình
yêu có một mãnh lực, một ma lực ghê gớm có thể làm cho các nhà tu hành phải cởi áo cà sa
để trở về cõi tục, về sống giữa
"vườn trần" đông vui với bao lạc thú:
"Sài Sơn tựa áng phồn hoa,
Sư huynh chải chuốt, vãi già đong đưa.
Ra vào tiểu gái lẳng lơ,
Long lanh mắt liếc say sưa miệng cười "
Giữa cảnh phồn hoa, từ sư huynh, vãi già đến tiểu gái đã "lột xác" hoàn toàn, họ trở thành
những con người trần tục hoàn
chánh điện đại học sĩ.
II. Tác phẩm
1. - Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh).
- Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh)