Đại cương về bệnh chàm.
Chàm là một bệnh da phổ biến, có trên khắp thế giới và là bệnh thường thấy nhất. Các
bệnh da xếp vào nhóm bệnh “chàm” tại hầu hết các quốc gia được dùng để chỉ một
phạm trù riêng biệt lớn nhất trong các chẩn đoán da học.
Khoảng 10% dân số trên thế giới mắc bệnh chàm. Ở Việt Nam bệnh chàm chiếm 25%
trong tổng số các bệnh ngoài da. Chàm là một loại bệnh có sự phối hợp với những biến
đổi về mặt địa lý, về chủng tộc và tính mạn của nó. Tỷ lệ tăng ở những quốc gia, ở
vùng nhiệt đới. Tại London 18% chàm được tìm thấy trong các đối tượng đến khám
bệnh. Một số điều tra về các bệnh da tại phòng khám tổng quát phát hiện 33% và 23%
trong tất cả các trường hợp tại Glasgow và Oxford. Chàm chiếm 17% trong tất cả các
bệnh tại Hylạp.
Các từ “viêm da” và “chàm” nói chung được dùng như đồng nghĩa. Tuy nhiên, trong khi
mọi dạng chàm đều là viêm da, nhưng không phải viêm da đều là chàm, chàm là một
bệnh da không lây truyền, ngứa, viêm. Nó có thể là cấp, bán hay mạn tính. Biểu hiện về
lâm sàng rất đa dạng nhưng nói chung bao giờ cũng có đặc tính sau:
- Về lâm sàng : có ngứa, có mụn nước sắp xếp thành từng mảng giới hạn không rõ,
tiến triển thành từng đợt, dai dẳng hay tái phát.
- Về giải phẫu bệnh lý có thương tổn thuộc loại xốp bào.
- Về sinh bệnh học : người ta cho rằng chàm là một phản ứng của da với những tác
nhân trong hoặc ngoài cơ thể. Trong điều kiện có một địa tạng đặc biệt, địa tạng dị ứng.
Hai yếu tố cơ bản phát sinh ra chàm là địa tạng dị ứng và tác nhân kích thích ở trong
hay ngoài vào địa tạng ấy. Cả hai yếu tố đều thay đổi nhiều ít tùy theo từng trường hợp.
Việc phân loại chàm rất khó khăn vì danh pháp không thống nhất và nguyên nhân bệnh
lại đa dạng. Do vậy, không có bảng phân loại hoàn toàn vừa ý về bệnh này.
Vì vậy, một điều cần chú ý là đứng trước một bệnh chàm cần phải phân tích rõ ràng
thuộc về thể nào, khu trú vào đâu, điều tra về tiền sử, làm những thử nghiệm (test), tìm
các tác nhân vật lý, hóa học, vi khuẩn để đi đến một chẩn đoán chính xác, quyết định
rõ ràng chàm thuộc thể bệnh nào, tiến triển như thế nào, yếu tố tác nhân nào gây ra là
chính.
NGUYÊN NHÂN BỆNH CHÀM.
và nóng. Có thể phù ở những vùng da lỏng lẻo như mi mắt, bao quy đầu. Trên
bề mặt xuất hiện những hạt nhỏ màu trắng mà sau nầy sẽ tạo thành mụn nước.
1.2. Giai đoạn nổi mụn nước : các mụn nước điển hình của bệnh chàm thường
phát sớm trên nền da đỏ, có khi tràn ra vùng da lành. Kích thước nhỏ như đầu
đinh ghim, đôi khi to bằng bọng nước. Mụn nước nhỏ rất nông, chứa dịch trong,
sắp xếp thành mảng chi chít, dày đặc. Trên một mảng chàm, do có nhiều đợt liên
tiếp, mụn nước ở nhiều giai đoạn khác nhau.
1.3. Giai đoạn chảy nước : mụn nước có thể vỡ đi do bệnh nhân gãi hoặc vỡ dập
tự nhiên, nước vàng chảy ra, khi thì từng giọt, khi thì dính vào quần áo. Đến giai
đoạn này, mảng chàm lổ chổ nhiều vết trợt hình tròn còn gọi là giếng chàm (giai
đoạn này dễ bị bội nhiễm). Huyết thanh thấm ra ngoài, nếu lấy một vật gì đậy lại
thì sau một thời gian huyết thanh sẽ tạo thành một mảng dày.
1.4. Giai đoạn da nhẵn: sau một thời gian thì sự xuất tiết giảm, khi chảy nước
vàng, huyết thanh đọng lại trên mặt da, làm thành những vảy tiết dày. Sau một
thời gian vảy tiết khô đọng rồi bong ra để lộ lớp da nhẵn bóng mỏng như vỏ
hành. Giai đoạn này ngắn.
1.5. Giai đoạn bong vảy da : lớp da vừa tái tạo, tự rạn nứt bong vảy thành mảng
dày hoặc vụn như cám, hoặc da dày lên, tăng sắc tố, có kẻ ô gọi là liken hóa.
Sau một thời gian khá lâu nếu không có mụn nước tái phát, da sẽ trở lại bình
thường không có sẹo, bởi vì tổn thương ở lớp thượng bì.
2. Triệu chứng ngứa : rất trung thành với bệnh, nghĩa là xuất hiện ngay từ thời kỳ đỏ
da cho đến cuối giai đoạn. Cường độ rất dữ dội, có thể làm rối loạn giấc ngủ của bệnh
nhân. Khi gãi làm vỡ các dưỡng bào sẽ phóng thích ra các histamin gây ngứa thêm.
CÁC HÌNH THỂ LÂM SÀNG BỆNH CHÀM
1. Theo tính chất của thương tổn :
1.1.Chàm đỏ : da đỏ sẫm, gần giống như là xuất huyết, hay ăn vào cẳng chân,
chẩn đoán được vì có một vài mụn nước nhỏ kín đáo, chảy nước vàng.
1.2.Chàm dạng bọng nước: khi thương tổn chứa dịch lớn hơn 1mm gọi là bọng
nước, mụn nước sẽ to và sâu hơn khi khu trú ở vùng da dày như lòng bàn tay,
chân.
thành hình móng ngựa, cuối cùng lan rộng ra các phần khác của cơ thể. Bệnh bắt đầu
bằng hồng ban, da nhám và tiến triển đến sẩn hóa, mụn nước hóa, rỉ nước, vảy tiết và
vảy mịn. Ranh giới thương tổn không rõ, đối xứng và có khuynh hướng nhiễm khuẩn
thứ cấp. Trẻ bị kích thích và bứt rứt dữ dội. Bú sữa bò, ăn trứng và uống nước chanh
có thể là yếu tố thúc giục và làm nặng thêm bệnh. Việc mọc răng có thể bị ảnh hưởng.
Tiến triển của bệnh thường là kịch phát đến 2 tuổi có thể khỏi hẳn và cũng có thể tiến
triển sang dạng chàm thể tạng dạng trẻ em.
Biến chứng : Bội nhiễm da, bệnh nội tạng (viêm thận, phổi) chết trong tình trạng trụy tim
mạch do nhiễm trùng.
3.1.2. Chàm thể tạng trẻ em (lớn hơn 2 tuổi).
Trong suốt thời trẻ em, bệnh chàm trở nên khô hơn, da dầy hơn, các tổn thương ngứa
dữ dội, các mảng sẩn và liken hóa, hồng ban, trợt da và vảy tiết, nhiều ở nếp khuỷu và
nhượng chân. Nhiễm khuẩn thứ cấp là thường xuyên, giới hạn thương tổn không rõ.
Tiến triển tự nhiên của bệnh thường sẽ cải thiện, thời điểm tái phát lại là tuổi lên hai,
lên bảy và lúc dậy thì.
Bệnh này sẽ nặng nhất và lan rộng nhất trong suốt thời gian 3 tháng cuối của tuổi đầu
tiên, khoảng 4 đến 7 tuổi hiện tượng sạch tổn thương hoàn toàn được thấy trong 75%
các trường hợp, trong khi đó 25% các trường hợp còn lại có biểu hiện bệnh trong suốt
thời gian dậy thì.
Các dấu hiệu phụ của bệnh chàm: Da mặt thường tái, thường có hai quầng thâm ở
mắt, viêm kẽ tai tái đi tái lại, nếp đôi dưới mắt.
3.1.3. Chàm thể tạng người lớn :
Đây là một bệnh tái phát mạn tính trên những bệnh nhân bị chàm thể tạng hoặc bị
suyển từ nhỏ. Bệnh này thường lan khắp người giới hạn không rõ với các vị trí ưa thích
ở mặt (trán, mí mắt), mặt trước cổ, hố khuỷu tay, nhượng chân, cổ tay, lưng bàn tay,
bàn chân. Có thể xuất hiện trên và quanh núm vú nhất là phụ nữ mới lớn. Tổn thương
da có xu hướng ở những mặt duỗi hơn là ở mặt gấp.
Đặc điểm lâm sàng là các mảng sẩn và liken hóa, ngứa dữ dội, tróc vảy, trợt da. Những
đợt vượng bệnh thường liên quan đến những sang chấn về tinh thần. Chàm thể tạng
rất hiếm ở những người lớn tuổi hơn và dường như lành ngẫu nhiên ở các bệnh nhân
khoảng 20% bệnh nhân đến phòng khám da học. Gần 30% các bệnh nghề nghiệp tại
Tây Đức là chàm tiếp xúc, phần lớn (70%) thuộc dạng kích thích.