Đề tài: Thực trạng sử dụng các công cụ kinh tế dùng trong việc phát triển sản phẩm thân thiện môi trường tại Việt Nam doc - Pdf 18

Đề tài: Thực trạng sử
dụng các công cụ kinh
tế dùng trong việc
phát triển sản phẩm
thân thiện môi trường
tại Việt Nam
Table of Contents
1 Các công cụ kinh tế dùng trong việc phát triển các sản phẩm TTMT 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Phân loại 5
1.2.1 Công cụ thuế 5
1.2.2 Công cụ phí, lệ phí 6
1.2.3 Công cụ hỗ trợ 6
1.2.4 Công cụ ký quỹ, đặt cọc – hoàn trả 8
1.2.5 Quỹ môi trường 8
1.2.6 Các chương trình thương mại 9
1.2.7 Các công cụ khác 10
2 Khái niệm và các tiêu chí đánh giá sản phẩm thân thiện với môi trường 11
2.1 Khái niệm 11
2.2 Các tiêu chí đánh giá sản phẩm TTMT 11
3 Thực trạng phát triển sản phẩm TTMT 13
3.1 Khó khăn về công cụ phát triển sản phẩm TTMT 16
3.2 Việc phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường, đối với các doanh nghiệp Việt Nam còn
rất nhiều khó khăn. 16
4 Phân tích một số sản phẩm TTMT tiêu biểu tại Việt Nam 18

4.6.5 Đề xuất từ doanh nghiệp 45
4.6.6 Tổng kết 45
4.6.7 Nguồn tham khảo 45
4.7 Sản phẩm6: xử lý rác thải 46
4.7.1 Mô tả sản phẩm 46
4.7.2 Công nghệ sản xuất và năng lực sản xuất 47
4.7.3 Công ty 48
4.7.4 Các công cụ kinh tế đang được áp dụng và hiệu quả 49
4.7.5 Đề xuất của doanh nghiệp 49
4.7.6 Tổng kết 50
4.8 Sản phẩm7 : Lò hơi tầng sôi tuần hoàn. 51
4.8.1 Mô tả sản phẩm 51
4.8.2 Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp: 52
4.8.3 Các công cụ kinh tế được áp dụng và mức độ hiệu quả 54
4.8.4 Tổng quan về thực trạng của sản phẩm lò hơi 55
4.8.5 Đề xuất 55
4.8.6 Nguồn tham khảo 56

Đe tà i : Thự c trạng sử dụ ng các công cụ
kinh te phát trien sả n pham thân thiện
vớ i môi trườ ng ở Việt Nam

1 Các công cụ kinh tế dùng trong việc phát triển các sản phẩm TTMT
1.1 Khái niệm

 Công cụ kinh tế là biện pháp “cung cấp những tín hiệu thị trường để giúp cho
những người ra quyết định ghi nhận hậu quả môi trường trong việc lựa chọn của
họ”
Từ những định nghĩa trên đây về công cụ kinh tế, có thể rút ra hai đặc trưng cơ bản
của CCKT trong quản lý môi trường là:
 Thứ nhất: Công cụ kinh tế hoạt động thông qua cơ chế giá cả trên thị trường,
chúng có chức năng nâng giá cả các hành động làm tổn hại đến môi trường lên
hoặc hạ giá các hành động bảo vệ môi trường xuống.
 Thứ hai: Công cụ kinh tế sẽ tạo ra khả năng lựa chọn cho các tổ chức cá nhân
hành động vừa đạt được mục tiêu kinh tế vừa đáp ứng yêu cầu BVMT, phù hợp
với năng lực của mình.
1.2 Phân loại
Các loại CCKT sử dụng trong quản lý môi trường, gồm có: (1) Công cụ thuế; (2)
Công cụ phí; (3) Công cụ hỗ trợ, ưu đãi; (4) Công cụ ký quỹ môi trường, hoàn trả đặt
cọc; (5) Quỹ môi trường; (6) Các chương trình thương mại - môi trường; (7) và một số
công cụ khác như bảo hiểm môi trường, bồi thường thiệt hại môi trường…
1.2.1 Công cụ thuế
Thuế là một phần thu nhập mà mỗi tổ chức cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho
Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước, người
đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại. Trong chu trình sản xuất xã hội
gồm 4 khâu: sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng, thì thuế nằm ở khâu phân phối.
Các loại thuế gắn với BVMT đã được nhiều nước áp dụng gồm có:
 Thuế đánh vào việc sử dụng các thành phần môi trường như thuế tài nguyên,
thuế sử dụng nguồn nước
 Thuế đánh vào người sử dụng ô tô, xe máy xả khí độc ra môi trường (thường
đánh thuế qua nhiên liệu);
 Thuế đánh vào thuốc lá gây tác hại đến không khí môi trường; thuế đánh vào
việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu;
 Thuế đánh vào các đối tượng thải hoặc nước thải ra môi trường…
1.2.2 Công cụ phí, lệ phí

các nguồn năng lượng tự nhiên, tái tạo.
 Hỗ trợ thông qua các chương trình hỗ trợ: Chính sách và biện pháp hỗ trợ
doanh nghiệp định hướng cho doanh nghiệp đáp ứng các mục tiêu BVMT như
giảm khí phát thải, chất thải rắn, sản xuất sạch, có được các chứng nhận môi
trường như ISO 14000, nhãn sinh thái…
 Hỗ trợ thông qua các chính sách tài chính: Hỗ trợ tài chính là loại hình hỗ trợ
thông qua quỹ môi trường và các chính sách ưu đãi tài chính khác và thường tập
trung vào: Xử lý chất thải; phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường; nghiên
cứu và triển khai công nghệ thân thiện môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học…,
hỗ trợ tài chính còn có các nội dung ưu tiên hỗ trợ như hỗ trợ các dự án nằm
trong danh mục xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm; xử lý chất thải khu đô thị,
làng nghề, bệnh viện, khắc phục sự cố môi trường; Nghiên cứu và triển khai các
biện pháp phòng ngừa sự cố môi trường, Nghiên cứu và triển khai công nghệ
thân thiện với môi trường, bảo vệ các hệ sinh thái nhạy cảm…
 Hỗ trợ thông qua các chính sách ưu đãi tập trung vào các lĩnh vực đầu tư cải
thiện môi trường và sinh thái; di chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi đô thị; phát triển
các dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu triển khai, cơ sở thử nghiệm và các phòng thí
nghiệm phục vụ nghiên cứu khoa học.
 Các hình thức khác: Bên cạnh các chính sách hỗ trợ nói trên, Chính phủ còn có
các biện pháp giúp các doanh nghiệp khắc phục hậu quả môi trường do sản xuất
kinh doanh như hỗ trợ đánh giá tác động môi trường, di dời các cơ sở sản xuất
kinh doanh gây ô nhiễm, xử lý ô nhiễm ở những doanh nghiệp gây ô nhiễm
nặng. Nhà nước cũng dành ngân sách của mình cho công tác đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao nhận thức, đầu tư cho công tác thông tin, trợ giúp kỹ thuật, tư vấn
chính sách thông qua các cơ quan chính phủ. Chính phủ làm đầu mối trong việc
hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật.
Nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật dưới sự tài trợ tài chính, chuyên môn của các tổ
chức chính phủ, phi chính phủ các nước được thực hiện trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường.
1.2.4 Công cụ ký quỹ, đặt cọc – hoàn trả

thải một cách linh hoạt, có hiệu quả cao nhất, người ta đã đưa ra hình thức giấy
phép phát thải có thể mua bán được hay còn gọi là giao dịch chất thải. Lúc đầu,
có một mức độ phân phối nhất định, sau đó người gây ô nhiễm được tự do mua
bán quyền gây ô nhiễm trên thị trường.
 Tín phiếu giảm phát thải: về bản chất, hình thức và cơ chế hoạt động của tín
phiếu giảm phát thải cũng giống như các loại tín phiếu khác nhưng mục tiêu
của chúng là nhằm giảm mức độ ô nhiễm môi trường theo một ý đồ nào đó của
các nhà hoạch định chính sách. Cũng tương tự như giấy phép phát thải, biện
pháp này được sử dụng nhằm tạo lập một thị trường “ô nhiễm”. Qua thị trường
này, người ta có thể mua bán hoặc chuyển nhượng các quyền được gây ô
nhiễm của mình cho người khác. Biện pháp này được sử dụng rộng rãi ở nhiều
nước và thực tế đã thu được kết quả tốt, nhất là trong lĩnh vực khống chế ô
nhiễm môi trường không khí.
 Tiền trợ cấp tiêu thụ hoặc sản xuất: Trợ cấp tiêu thụ hoặc sản xuất là nhóm
xếp hạng thứ 3 được xét đến trong chương trình thương mại. Thực chất, đó là
tất cả các dạng hỗ trợ về tài chính nhằm hỗ trợ những người gây ô nhiễm thay
đổi hành vi hay để trợ giúp cho các đối tượng đang gặp khó khăn để tuân thủ
tốt hơn các tiêu chuẩn về BVMT. Trợ cấp tiêu thụ hoặc sản xuất thường được
thể hiện dưới những hình thức là trợ cấp không hoàn lại, cho vay với lãi suất
thấp, hoặc trợ cấp qua thuế (giảm hoặc miễn thuế).
 Đăng ký ISO 14000: ISO 14000 là chứng chỉ công nhận là hoàn thành tốt các
kế hoạch môi trường. Đây là phương thức chỉ cho khách hàng biết rằng công ty
từ trước đến nay vẫn được công nhận là hoàn thành tốt các kế hoạch môi
trường. Trong một phạm vi nhất định, khách hàng thường mong muốn hợp tác
kinh doanh – kiểu hợp tác “xanh” với công ty vốn có truyền thống hoàn toàn
tốt các kế hoạch môi trường
 Nhãn sinh thái: Nhãn sinh thái là những dấu hiệu chứng nhận tính bảo vệ môi
trường của sản phẩm. Đó là sự công bố bằng lời, hoặc ký hiệu, hoặc sơ đồ
nhằm chỉ rõ các thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ.
1.2.7 Các công cụ khác

lưu kho). Các tiêu chuẩn để đánh giá tính thân thiện rất khác nhau qua từng vùng lãnh
thổ, từng khu vực trên thế giới, cho nên khái niệm “Sản phẩm thân thiện với môi trường”
luôn luôn chỉ có thể mang tính chất tương đối.
2.2 Các tiêu chí đánh giá sản phẩm TTMT
Việc chứng nhận một sản phẩm có xanh hay không tùy thuộc rất nhiều vào các điều
kiện đặc biệt cụ thể, chẳng hạn:
 Phụ thuộc vào các tiêu chí đánh giá sản phẩm xanh của các tổ chức công nhận
 Tùy thuộc vào chủng loại và nhóm sản phẩm
 Tùy thuộc vào các đặc điểm và tính chất của sản phẩm
 Tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể của từng quốc gia/ngành công nghiệp…
Các tiêu chí cụ thể về sản phẩm xanh là những căn cứ để các tổ chức cấp nhãn hay
chứng chỉ cho các loại sản phẩm đạt các tiêu chí đó. Chẳng hạn, nhãn Thiên Thần Xanh
của Đức sử dụng 46 tiêu chí, nhãn Dấu sinh thái của Nhật sử dụng 35 tiêu chí, Nhãn sự
lựa chọn vì môi trường của Canada sử dụng 40 tiêu chí Cách đánh giá các sản phẩm
xanh, do đó, khác nhau ở từng nước. Chẳng hạn, các nước phát triển có xu hướng sử
dụng nhiều hơn các tiêu chí trong việc chứng nhận môi trường, các nước đang phát triển
sử dụng ít hơn các tiêu chí. Các tiêu chí để một sản phẩm được cấp nhãn ngoài việc phải
đáp ứng yêu cầu về môi trường còn có những tiêu chí có liên quan đến trách nhiệm môi
trường của doanh nghiệp sản xuất ra chúng. Tuy hệ thống các tiêu chí đánh giá hiện nay
trên thế giới có khác nhau, song có 4 nhóm tiêu chí cơ bản để cấp nhãn hay chứng chỉ sản
phẩm xanh là:
(1) Tiêu chí về nguyên liệu đầu vào cho sản phẩm
 Nguyên liệu hoặc một phần/thành phần nguyên liệu sử dụng trong sản xuất sản
phẩm có đóng góp vào việc giảm thiểu tác động môi trường: nguyên liệu tái
chế, nguyên liệu sinh khối, nguyên liệu có khả năng phục hồi…
 Nguyên liệu sử dụng là của địa phương (hạn chế chất thải do vận chuyển nếu
mua từ nơi khác).
(2) Tiêu chí về chức năng môi trường của sản phẩm
 Làm cho môi trường sạch hơn: hút khí thải, hút chất độc, xử lý ô nhiễm…
 Tiết kiệm năng lượng: nước, điện…

nhận định rằng, các “doanh nghiệp xanh” Việt Nam, mặc dù đã có những nỗ lực để phát
triển doanh nghiệp về vốn, kĩ thuật, nhân lực, mở rộng thị phần , tuy nhiên việc sản xuất
vẫn còn rất manh mún và non trẻ, còn thiếu tính cạnh tranh so với các doanh nghiệp
thường.
Việc phát triển các sản phẩm năng lượng sạch không còn mới đối với các nước phát
triển trên thế giới như Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, … nhằm làm giảm nguy cơ cạn
kiệt nguồn năng lương trong nước. Việt Nam cũng đang rất quan tâm đến vấn đề này.
Tuy nhiên hầu hết mới chỉ trên các dự án nghiên cứu mà chưa được áp dụng chính thức.
Các hoạt động nghiên cứu, đầu tư về năng lượng sạch ở nước ta còn chưa tiến triển do
chưa có cơ chế, chính sách năng lượng rõ ràng để các doanh nghiệp an tâm đầu tư đối với
lĩnh vực kinh doanh có điều kiện như xăng dầu, đầu tư các vùng nguyên liệu, nhà máy
chế biến…
Các sản phẩm năng lượng tái sinh hiện phát triển hơn ở Việt Nam. Ngoài các dự án
của nhà nước về nghiên cứu và áp dụng các năng lượng tái sinh: cột gió Bạch Long Vĩ,
nhà máy phong điện Côn Đảo, dự án nhà máy địa nhiệt Cát Hiệp, Quy Nhơn, Chương
trình hành động mới và tái tạo,…hiện các doanh nghiệp cũng đã bất đầu đầu từ và sản
xuất các thiết bị sử dụng năng lượng tái sinh, đặc biệt là năng lượng mặt trời: pin mặt
trời, bình nước nóng năng lượng mặt trời Usolar- Công ty cổ phần năng lượng mặt trời
Việt Nam, công ty cổ phẩn quốc tế Sơn Hà, Sunpo,…Các sản phẩm này hiện nay cũng
khá phổ biến và dần được người tiêu dùng biết đến. Tuy nhiên theo đánh giá, việc sử
dụng năng lượng mặt trời để đun nước nóng và làm nguồn điện sinh hoạt hiện mới chì
dừng ở quy mô nhỏ lẻ và ngành sản xuất này hoàn toàn có thể phát triển nhanh hơn nữa.
Về các sản phẩm tiết kiệm năng lượng (TKNL): đây là một trong các nhóm sản phẩm
xanh phát triển nhất tại Việt Nam hiện nay. Hiên có 9 Công ty tham gia dán nhãn sản
phẩm TKNL đó là các sản phẩm bóng đèn huỳnh quang T8, balat điện từ và chóa đèn
chiếu sáng đường phố TKNL Do giá điện ngày càng tăng, việc sử dụng các thiết bị tiết
kiệm năng lượng ngày càng phổ biến. Theo báo cáo của ông Nguyễn Đoàn Thăng – Tổng
giám đốc công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông, năm 2009, doanh thu của
Rạng Đông đạt mức 1.128,8 tỷ, tăng 26,83% so với năm 2008, mang về lợi nhuận 48,6 tỷ
đồng, tăng 19,7% so với kế hoạch. Lợi nhuận quý I/2010 đạt 18,6 tỷ đồng, tăng 80% so

hội gắn với lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp. Ðiều đó có nghĩa, nhãn sinh thái là một
lĩnh vực mà các lợi ích kinh tế - môi trường chủ yếu có thể được nhận ra qua việc khai
thác mối quan tâm đến môi trường của người tiêu thụ sản phẩm.
Tuy nhiên, việc sử dụng nhãn sinh thái tại Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế: thị
trường cho sản phẩm có nhãn sinh thái còn mang tính tự phát (tức là chủ yếu là do doanh
nghiệp tự công bố, chưa có sự chứng nhận từ cơ quan, tổ chức kiểm định và đặc biệt là
chưa có các văn bản quy định về việc áp dụng nhãn sinh thái trên sản phẩm). Điều này đã
gây ra những hạn chế đáng kể cho việc phát triển sản phẩm TTMT nói chung.
3.2 Việc phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường, đối với các doanh
nghiệp Việt Nam còn rất nhiều khó khăn.
 Thứ nhất, việc sản xuất các sản phẩm TTMT hiện nay đa số mới chỉ tập trung vào
nhu cầu của người tiêu dùng vì thế quy mô còn nhỏ lẻ và không ổn định. Bởi nhận
thức của người tiêu dùng Việt Nam về các sản phẩm TTMT nói riêng và việc bảo vệ
môi trường nói chung còn rất hạn chế. Việc sản xuất các sản phẩm TTMT cần được
phát triển dựa trên các tác động khác từ nhà nước và chính phủ.
 Thứ hai, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm TTMT chưa nhận được những hỗ trợ hiệu
quả từ phía nhà nước. Các doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế về tiềm lực tài
chính, công nghệ, nhân lực, vì thế rất khó cạnh tranh với các hãng nước ngoài và các
hãng sản xuất sản phẩm thường.
o Năng lực tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung là còn rất thấp. Các
lĩnh vưc kinh doanh chưa thu hút được vốn đầu từ từ các tập đoàn lớn trong nước.
Doanh nghiệp cũng cho biết rất khó khăn để có thể huy động được các nguồn vốn
hỗ trợ của nhà nước và các quỹ hỗ trợ như quỹ môi trường, quỹ xuất khẩu để
thực hiện sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ doanh nghiệp có liên hệ với các tổ chức tài
chính hoạt động về môi trường là rất thấp. Điều này phản ánh những bất cập trong
công tác hỗ trợ, thông tin và hướng dẫn doanh nghiệp khai thác các nguồn tài
chính từ các tổ chức hỗ trợ phát triển sản phẩm xanh.
o Công nghệ của Việt Nam còn rất lạc hậu và kém phát triển. Mặc dù trong những
năm qua, doanh nghiệp cũng đã nhận được những hỗ trợ về phát triển kĩ thuật,
công nghệ của nhà nước, chú ý hợp tác với các cơ quan khoa học trong nước và đã

mạnh trong tương lai.
Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, chúng tôi đi sâu phân tích 8 sản phẩm TTMT
tiêu biểu tại Việt Nam hiện nay, nhằm rút ra những nhận định đánh giá về thực trạng sử
dụng công cụ kinh tế phát triển nhóm sản phẩm TTMT và từ đó có những đề xuất kiến
nghị cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ kinh tế, phát triển sản phẩm TTMT.

4 Phân tích một số sản phẩm TTMT tiêu biểu tại Việt Nam
4.1 Sản phẩm 1: Rau hữu cơ
4.1.1 Sản phẩm rau hữu cơ của Trung tâm Hành Động vì Sự phát triển Đô Thị (ACCD)
4.1.1.1 Mô tả sản phẩm
4.1.1.1.1 Sản phẩm
 Ý tưởng về sản phẩm
Nông nghiệp hữu cơ (NNHC), theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, là hệ thống canh
tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu, giúp
giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho người và vật nuôi. Ý tưởng về kinh doanh sản
phẩm rau hữu cơ được bắt nguồn từ mong muốn được sử dụng rau sạch, không chứa các
chất hóa học độc hại, an toàn cho sức khỏe người dùng.
 Đặc tính sản phẩm
Sản phẩm rau hữu cơ là sản phẩm sử dụng phân hữu cơ (phân được ủ bằng rơm rạ,
phân trâu bò, vỏ trai, vỏ hến…), không sử dụng phân bón hóa học và phân người; không
sử dụng các chất kích thích và tăng trưởng; không sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật
hoặc các chất diệt cỏ; và hoàn toàn không sử dụng các chế phẩm biến đổi gien. Tất cả các
biện pháp chống bệnh cho cây đều được thực hiện thủ công và không hề sử dụng thuốc,
phân hóa học và máy móc. Sản phẩm rau hữu cơ hiện có giá cao hơn sản phẩm rau an
toàn (sản phẩm rau an toàn: có sử dụng thuốc, phân hóa học, tuy nhiên phải được cách ly
trong 1 khoảng thời gian an toàn mới được đem ra sử dụng). Trong khoảng thời gian đầu,
giá rau hữu cơ cao gấp 2 lần giá rau an toàn, tuy nhiên, trong 1 năm trở lại đây, do giá
của sản phẩm rau hữu cơ không hề tăng, trong khi giá rau an toàn tăng cao nên hiện nay
khoảng cách không còn là bao. Thời gian trồng rau hữu cơ cũng dài hơn rau an toàn do
phương pháp trồng rất thủ công (1 tháng cho rau ăn lá, 3 tháng cho củ quả).

 Hình thức bán hàng
Để khách hàng chọn rau (qua mạng), bán rau trả tiền theo tháng và giao tận tay khách
hàng nếu mua đủ số lượng.

4.1.1.2 Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp:
 Thị trường cho sản phẩm: Sau 2 năm hoạt động, đến nay dự án đã đạt được những
kết quả sau:
o Trung bình 300-350 khách hàng/tháng (khách hàng tại Hà Nội).
o Sản xuất được 3-3 tấn rưỡi/ tháng.
o Nâng mức thu nhập của người nông dân lên 20% so với khi trồng rau hữu cơ,
người nông dân cũng có thu nhập ổn định hơn vì giá của sản phẩm rau hữu cơ
dường như không đổi trong khi giá rau trên thị trường hay thay đổi. Ước tính 1
người nông dân thu nhập đước 3-4 triệu đồng/tháng sau khi chuyển sang trồng rau
hữu cơ.

 Đối tượng tiêu dùng chính: người dân trên địa bàn Hà Nội.

 Kết luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Sản phẩm rau hữu cơ của Trung
tâm Hành động vì sự phát triển của đô thị tuy chưa có năng lực cạnh tranh cao bởi
năng suất còn thấp, giá thành còn cao và khâu tiếp thị còn yếu nhưng rất có tiềm năng
nếu được đầu tư để mở rộng mô hình, nâng cao năng suất (nếu diện tích đất canh tác
lớn sẽ được hỗ trợ bởi Nhà nước để có thể nới rộng mô hình, đầu tư kĩ lưỡng hơn cho
các khâu, từ đó giá sản phẩm sẽ giảm, nâng cao năng lực cạnh tranh).

4.1.1.3 Các công cụ kinh tế được áp dụng và mức độ hiệu quả:

Hiện tại, chưa hề có một công cụ kinh tế nào được áp dụng với sản xuất sản phẩm rau
hữu cơ. Tuy nhiên, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn cả về đầu vào lẫn đầu ra cho sản
phẩm, cần sự hỗ trợ từ nhà nước.Trung tâm gặp khó khăn đối với cả đầu vào và đầu ra
cho sản phẩm.

o Đề xuất từ phía nông dân
 Nên hình thành khu vực sản xuất rau an toàn, khi đó người dân sẽ đỡ tốn công
sức hơn.
 Cần phải có máy móc thiết bị hỗ trợ sản xuất để tiết kiệm thời gian làm việc
của nông dân
 Cần tăng giá thành của sản phẩm để tạo động lực cho nông dân chuyển từ
trồng rau an toàn sang trồng rau hữu cơ.
 Khâu quảng bá sản phẩm cần được đầu tư hơn nữa.

4.1.2 Sản phẩm rau hữu cơ của công ty SCS:
4.1.2.1 Mô tả sản phẩm và doanh nghiệp:
4.1.2.1.1 Sản phẩm
 Ý tưởng về sản phẩm
Cũng xuất phát từ mong muốn được cung cấp những sản phẩm đảm bảo vệ sinh, an
toàn với sức khỏe người tiêu dùng, công ty SCS đã được thành lập năm 2008 với mô hình
sản xuất sản phẩm rau hữu cơ.
 Đặc tính sản phẩm
Tương tự như sản phẩm rau hữu cơ của trung tâm phát triển vì đô thị.
Hiện tại, sản phẩm rau an toàn của công ty SCS chưa hề được cấp một chứng nhận
hay nhãn sinh thái nào do quy mô của doanh nghiệp chưa đủ tầm để xin giấy chứng nhận,
một lý do khách quan khác là do hiện tại chưa có một chuẩn nào để đánh giá sản phẩm
hữu cơ tại Việt Nam.
 Công nghệ sản xuất và năng lực sản xuất
o Quy trình và công nghệ sản xuất
Sản phẩm rau hữu cơ của công ty SCS được gieo trồng bởi 15 hộ nông dân tại thôn
Bái Thượng, Sóc Sơn. Cũng như các sản phẩm rau hữu cơ khác, toàn bộ quy trình sản
xuất đều được làm rất thủ công, không hề sử dụng bất cứ loại phân, thuốc hóa học nào.
Sản phẩm được bày bán tại cửa hàng của công ty và được quảng cáo qua internet và các
báo giấy. Khách hàng có thể đặt mua hàng qua mạng hoặc đến liên hệ với cửa hàng của
công ty. Sản phẩm được vận chuyển chủ yếu bằng xe máy nên thường dẫn đến tình trạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status