Tiểu luận: Cơ chế quản lý kinh tế Việt Nam thời kỳ trước đổi mới - Pdf 18

KHOA LÝ LUẬN – CHÍNH TRỊ
 o o o 
TIẾU LUẬN:
“CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ VIỆT NAM
THỜI KÌ TRƯỚC ĐỔI MỚI”
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: THS. TRẦN THỊ THẢO
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 5
LỚP HP:
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2010

Mục lục
Mục lục 2
LỜI CẢM ƠN 3
PHẦN A: LỜI MỞ ĐẦU 4
PHẦN B: NỘI DUNG 5
I. TÌNH HÌNH XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI KÌ TRƯỚC ĐỔI MỚI 5
II. CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI 8
1. Khái niệm cơ chế quản lý kinh tế 8
2. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp 9
3. Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế 13
LỜI CẢM ƠN
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu trường Đại Học Công Nghiệp Tp.HCM đã tạo một môi
trường và điều kiện thuận lợi cho chúng em trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu đề tài.
- Khoa lý luận - chính trị đã cung cấp cho chúng em những kiến thức bổ
ích, những tài liệu liên quan đến đề tài. Đặc biệt là Giảng viên – Thạc sĩ Trần Thị
Thảo đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt kiến thức cho nhóm 5 chúng em hoàn
thành tốt bài tiểu luận này.
PHẦN A: LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN B: NỘI DUNG

trung, nền kinh tế Việt Nam vận động thiếu năng động và kém hiệu quả. Những
mất cân đối và nguy cơ bất ổn định tiềm tàng trong đời sống kinh tế - xã hội bị tích
nén lại. Tình trạng thiếu hụt kinh niên làm gia tăng các căng thẳng trong đời sống
xã hội. Sản xuất công – nông nghiệp bị đình đốn. Lưu thông, phân phối ách tắc.
Lạm phát ở mức ba con số. Đời sống của các tầng lớp nhân dân sa sút chưa từng
thấy. Ở thành thị, lương tháng của công nhân, viên chức chỉ đủ sống 10 – 15 ngày.
Ở nông thôn, vào lúc giáp hạt có tới hàng triệu gia đình nông dân thiếu ăn. Tiêu
cực xã hội lan rộng. Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự
điều hành của Nhà nước giảm sút.
Chẳng hạn như Bà Đinh Thị Vận - 63 tuổi, phường Tương Mai, Hai Bà
Trưng (Hà Nội), là công nhân Nhà máy Dệt 8-3 - vẫn còn nhớ: Sau giải phóng
miền Nam, gia đình, cơ quan, khu phố của bà cũng như nơi nơi đều ngất ngây
trong niềm hạnh phúc vô bờ. Nhưng sau đấy một vài năm thì giá cả tăng vùn vụt,
cơ quan của bà không việc làm. Nồi cơm của gia đình bà nấu gạo “mậu dịch” (gạo
từ kho các cửa hàng lương thực của
Nhà nước) hôi đủ các thứ mùi: gián,
mốc và có khi là xăng dầu , có khi
lẫn những hạt sạn to như hạt ngô. Sau
đó gạo mậu dịch cũng thiếu và ngày
một lẫn đầy những sắn, ngô, khoai
Hường, con gái bà, từng nói lên mơ
ước trong bài văn nộp cô giáo: “Ngày tết em mong sao có một nồi cơm trắng và
một bát thịt kho ”. Một ước mơ không có trong tâm thức những người trẻ bây
giờ, nhưng không phải hiếm thời đó. Mỗi tháng, theo chỉ tiêu, cả nhà bà Vận được
nhận 2kg thịt. Gọi là thịt nhưng toàn mỡ vụn, bạc nhạc và lại chia làm hai lần. Lần
nào cơ quan bà cũng chỉ đủ thịt chia cho 2/3 công nhân. Mỗi tổ phải tự bắt thăm.
Ai trúng thì lĩnh trước, không trúng thì chờ đợt sau. Các chị tiếp phẩm (bộ phận
chia thực phẩm) cân hụt mất một lạng, có biết cũng phải cố mà cười. Ngày lĩnh
thực phẩm cả nhà cứ phấp phỏng, rình mò và hít khói bếp.
Trên thực tế, đến cuối những năm 70, đất nước đã thực sự lâm vào cuộc

kinh tế của các cá nhân và tổ chức kinh tế; là hệ thống các biện pháp, hình thức,
cách thức tổ chức, điều khiển nhằm duy trì các mối quan hệ kinh tế phát triển phù
hợp với những quy luật kinh tế khách quan theo mục tiêu đã xác định trong những
điều kiện kinh tế xã hội của từng giai đoạn phát triển. Cơ chế quản lý kinh tế tác
động sâu sắc đến hiệu quả phát triển của nền kinh tế quốc dân; do vậy, hiệu quả
kinh tế xã hội là một trong những tiêu chuẩn quan trọng đánh giá tính đúng đắn
của cơ chế quản lý kinh tế. Các cơ chế kinh tế gồm cơ chế kinh tế thị trường, cơ
chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung và cơ chế kinh tế hỗn hợp. Cơ chế quản lý kinh
tế có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau: trong hệ thống kinh tế vĩ mô tồn
tại khái niệm cơ chế thị trường và cơ chế kế hoạch tập trung, cơ chế điều tiết vĩ
mô; tầm vi mô tồn tại cơ chế tự điều tiết…
2. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp
a. Đặc điểm và các hình thức thể hiện
Cơ chế kế hoạch tập trung có đặc trưng cơ bản là mọi hoạt động kinh tế
xã hội đều theo một kế hoạch thống nhất từ trung tâm, nhấn mạnh quan điểm hiện
vật, không coi trọng các quy luật kinh tế, xem nhẹ hạch toán kinh doanh.
Trong giai đoạn trước đổi mới vào năm 1986, chúng ta thực hiện quản lý
theo cơ chế tập trung đến mức quan liêu. Nhà nứơc là người quản lý tất cả, nắm
trong tay quyền “cho”, chi phối mọi vấn đề trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của xã hội. Cơ chế này làm cho nền kinh tế trì trệ trong một thời gian dài, các
doanh nghiệp không được tự chủ, không năng động sáng tạo. Theo đó:
 Về chức năng quản lý: Khi đó, nhà nước can thiệp quá sâu vào các
lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, tập trung trong tay mình 3 loại quyền là: quyền
quản lý nhà nước về hành chính kinh tế, quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với
các doanh nghiệp và quyền điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các
doanh nghiệp.
 Về nguyên tắc quản lý: thực hiện nguyên tắc tập trung cao độ. Điều
này dẫn đến tệ nạn quan liêu, cửa quyền của nhà nước và tính thụ động, ỷ lại, nạn
hối lộ, móc ngoặc của các đơn vị kinh tế.
 Về hình thức quản lý: Đó là nền kinh tế hiện vật theo kiểu “cấp phát –

nhân dân đối với người “cho” và sự “chạy chọt” của người “xin” để xin được và
được nhiều.
 Là mối quan
hệ cứng nhắc trong hệ
thống hành chính nhà
nước: làm cho các cơ
quan nhà nước không
phát huy được tinh thần
chủ động sáng tạo, tự
chủ, tự chịu trách nhiệm
trong phạm vi quyền hạn của mình mà phải trông chờ vào cơ-quan-có-thẩm-
quyền-“cho”. Phân cấp trong quản lý hành chính nhà nước là một trong những
biện pháp để phần nào khắc phục tình trạng này, điển hình là phân cấp quản lý
ngân sách cho các địa phương.

Chế độ bao cấp đc thực hiện dưới các hình thức chủ yếu:
- Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư,
hàng hóa thấp hơn giá trị trên thị trường do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức.
- Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối
vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem
phiếu. Nó đã thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc
phân phối theo lao động.
- Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách nhưng không có chế
tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị cấp vốn; nó làm tăng gánh
nặng ngân sách, sử dụng vốn kém hiệu quả.
b. Kết quả, ý nghĩa và hạn chế của quá trình thực hiện cơ chế kế
hoạch tập trung quan liêu, bao cấp
• Kết quả và hạn chế:
Thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể luôn bị thua lỗ, không
phát huy được vai trò, tác dụng; trong khi đó, các thành phần kinh tế cá thể và tư

triển. Công bằng xã hội bị vi phạm. Pháp luật, kỉ cương không nghiêm. Những
hành vi cửa quyền, tham ô, "móc ngoặc" của một số cán bộ và nhân viên nhà
nước, những hoạt động làm ăn phi pháp… chưa bị xử lí kịp thời và nghiêm khắc.
Thực trạng nói trên làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo
của Đảng và sự điều hành của các cơ quan Nhà nước
• Ý nghĩa:
Tuy vậy, trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì
cơ chế này có tác dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh
tế vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điểu kiện cụ thể, đặc điểm
trong quá trình công nghiệp hóa theo xu hướng ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng.
Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được cải tạo, kinh tế quốc
doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên,
nông dân ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ được khuyến khích tham gia sản xuất tập
thể.
Hội nhập kinh tế thông qua triển khai các hiệp định hợp tác với các nước xã
hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ Kinh tế từ năm
1978.
3. Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
a. Nhu cầu thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội
Cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trong nền kinh tế nói chung, do đã bị
kéo dài quá lâu và không còn hợp với thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội trong thời
bình nên về hình thức thì tập trung cao độ nhưng về nội dung thì Nhà nước ngày
càng không thể kiểm soát hết và càng không thể bao cấp hết.
Viễn cảnh là: Nền kinh tế có hai hệ thống giá, hai hệ thống phân phối và
phân phối lại. Vào thập niên 80 của thế kỷ 20, trong Ngân hàng thì thiếu tiền mặt
nghiêm trọng, bên ngoài thì lạm phát liên tục gia tăng mà đỉnh cao là năm 1986
lạm phát lên tới 774,7% do những tác động trễ của nhiều nhân tố từ 10 năm sau
chiến tranh dồn lại! Do tính chất nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế vào
những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ 20 - Đặc biệt là trong lĩnh vực phân phối

đang hoành hành lúc đó. Nhờ “tư duy đổi mới và một cơ chế vận hành thông
thoáng hơn”, kể từ cuối năm 1986 trở đi, nền kinh tế nước ta đã dân thoát ra được
cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra trước đó (1975-1985).
Giữa lúc Việt Nam chính thức quyết định tiến hành công cuộc đổi mới, trên
thế giới cũng diễn ra nhiều biến đổi quan trọng. Những biến đổi ấy vừa có ảnh
hưởng tới Việt Nam, vừa gợi ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể
tham khảo với các mức độ khác nhau. Đó là:
1. Công cuộc cải cách kinh tế Trung Quốc theo hướng thị trường - mở cửa
bắt đầu diễn ra từ năm 1978. Tiếng vang của những thành tựu cải cách nổi bật mà
Trung quốc thu được đã được Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm do có sự
tương đồng nhiều mặt về các điều kiện kinh tế - xã hội giữa hai nước, mặc dù
trong thời gian này quan hệ Việt Nam - Trung quốc vẫn còn căng thẳng, chưa
được bình thường hoá.
2. Sự không thành công của công cuộc cải tổ đã dẫn tới sự sụp đổ của
CNXH ở Liên xô và nhiều nước Đông âu là một bài học phản diện. Sự sụp đổ đó
là bằng chứng về sự thất bại của con đường cải tổ theo kiểu "phủ định sạch trơn",
sử dụng "liệu pháp sốc", giải quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính
trị trong quá trình cải tổ. Cái giá phải trả là rất đắt.
3. Thành công của các nước "công nghiệp mới" ở Đông á đưa ra những gợi
ý về cách thức và giải pháp phát triển đối với những nước vốn xuất phát từ những
nước nông nghiệp và có quan hệ xã hội theo kiểu những giá trị văn hoá phương
Đông. Đó là những thành công của các chiến lược phát triển: phát huy mạnh nội
lực, thị trường - mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.
4. Xu hướng hợp tác và cạnh tranh trên thế giới đang từng bước thay thế xu
hướng đối đầu và xung đột. Tình huống này buộc các quốc gia phải định hướng lại
tư duy về các vấn đề phát triển. Khác hẳn trước đây, trong hoàn cảnh phát triển
mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành nhu cầu tự thân bên trong đối
với nền kinh tế nông nghiệp vốn mang đậm tính chất khép kín, tự cấp tự túc của
Việt Nam.
Toàn bộ tình hình trên đây, ở trong cũng như ngoài nước đã tác động đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status