03
Portal là gì?
By Công Ty Truyền Thông Số iGO
Công nghệ Portal phát triển sau thời kỳ web khoảng 7-8 năm như một tất yếu xuất phát từ
nhu cầu thực tế. Bài viết này mong muốn mang đến một số khái niệm cơ bản về "portal",
về chủ đề nóng nhất trong ứng dụng CNTT của thế giới và Việt Nam hiện nay.
• Portal (cổng giao dịch điện tử) là một bước tiến hóa của website truyền thống. Nó
ra đời để giải quyết những vấn đề mà website truyền thống gặp phải.
• Là "siêu web site“, gọi tắt là Portal, đối với người dùng vẫn chỉ là sử dụng trang
web thông qua trình duyệt (tức là web browser), nhưng đằng sau đó là sự thay đổi
thuật ngữ và quan niệm mới về triết lý phục vụ thay cho cách hiểu “tuyên truyền”
thông qua web site như trước đây.
• Là điểm đích qui tụ hầu hết các thông tin và dịch vụ cho người sử dụng cần, là
điểm đích đến thực sự. Thông tin và dịch vụ được phân loại nhằm thuận tiện cho
tìm kiếm và hạn chế vùi lấp các thông tin.
• Bảo toàn đầu tư lâu dài. Có nền tảng công nghệ đảm bảo, do công nghệ Internet
đã phát triển rất cao so với thời kỳ xuất hiện World Wide Web vào đầu những
năm 90 của thế kỷ trước. Những công nghệ tạo nên thời đại Portal đều hỗ trợ tính
mở và kế thừa rất mạnh, sao cho việc mở rộng các qui mô phục vụ bằng các phần
mềm ứng dụng mới được “lắp ráp” vào Portal đang có, mà không phải hủy bỏ
hoặc sửa chữa lớn như những web site trước đây.
• Môi trường chủ động dùng cho việc tích hợp ứng dụng
Xu hướng “tiến hóa” chung của web site theo hướng tiến đến portal được trình bày trong
hình vẽ.
• Phía ngoài, cung cấp một cổng giao dịch thân thiện, đủ các chức năng cho người
dùng, trong đó có chức năng cá nhân hóa.
• Phía trong, là cung cấp một hạ tầng điện tử, nhằm tạo quyền chủ động trong việc
cung cấp, tích hợp thông tin và liên kết với các hệ thống, các dịch vụ thông tin
khác.
• Cung cấp môi trường cộng tác (collaborative) thông qua việc quản lý và khai thác
thống nhất toàn diện các dịch vụ cơ bản như: Forum, Mail, Calendar, Task
Tuy vậy, đâu nhất thiết phải 'có mới nới cũ'? Có chăng một sự nhầm lẫn giữa trang web
với một vài dịch vụ kiểu như diễn đàn, hay đăng tin với khái niệm Portal - một thuật ngữ
rất mới trong CNTT, một khái niệm đang 'thời thượng' ở Việt Nam?
Portal là gì?
Từ Portal (cổng) vốn là một thuật ngữ kiến trúc, chỉ lối vào một tòa nhà lớn. Trong lĩnh
vực CNTT, Portal cũng có ý nghĩa tương tự. Có thể coi đó là cổng vào một kho thông tin
lớn, đa dạng. Qua Portal, những đối tượng người dùng khác nhau có thể truy cập đến
nhiều loại thông tin khác nhau nhưng theo một cách thức thống nhất.
Hiện nay có khá nhiều loại Portal: Portal công cộng, Portal riêng của công ty hoặc tổ
chức, Portal chuyên ngành , và gần đây còn xuất hiện các siêu Portal là Portal dẫn đến
các Portal mức dưới. Hãy chỉ đề cập đến các Portal công cộng. Khác với các Portal
chuyên ngành thường tập trung vào một lĩnh vực hẹp nhưng sâu hơn, thông tin do một
Portal công cộng cung cấp bao trùm nhiều lĩnh vực, hoặc nhiều chủ đề trong một lĩnh vực
lớn như kinh tế, khoa học, công nghệ, y học, thể thao, âm nhạc Portal tích hợp thông tin
từ rất nhiều nguồn khác nhau. Ví dụ một Portal ở tầm quốc gia phải tích hợp thông tin từ
trung ương và các bộ, ngành, địa phương. Portal của một thành phố phải tích hợp được
thông tin từ các quận, huyện và các sở, ban, ngành.
Portal phục vụ cho nhiều lớp đối tượng sử dụng với các nhu cầu thông tin khác nhau. Ví
dụ một Portal của thành phố phải cung cấp thông tin về thủ tục hành chính cho những
người dân thường, thông tin dự án cho các nhà đầu tư, thông tin về bản đồ, thắng cảnh
cho khách du lịch Mọi đối tượng sử dụng đều có thể tìm kiếm và khai thác kho thông
tin đa dạng này một cách dễ dàng qua một giao diện thống nhất mà không cần biết thông
tin nằm ở đâu, do ai quản lý. Ví dụ, người dân phải tìm thấy và sử dụng được ngay dịch
vụ hành chính mà họ cần, chứ không cần quan tâm đến những cấp chính quyền nào,
những cơ quan nào liên quan đến các thủ tục hành chính đó.
Một trong các đặc trưng nổi bật phân biệt Portal với một website thông thường là khả
năng người dùng giao tiếp trực tuyến, hai chiều để khai thác các dịch vụ công.
Những điều kiện để xây dựng và phát triển Portal
Trước hết, để xây dựng Portal phải có một lượng thông tin lớn, đa dạng, từ nhiều nguồn
và những thông tin này cần thiết cho nhiều loại đối tượng sử dụng khác nhau. Bản thân
o Đăng nhập một cửa (single sign-on).
Về công nghệ nền cho Portal, hiện tại ở Việt Nam có sản phẩm TVIS (Tinh Van I-portal
Solutions) của công ty phần mềm Tinh Vân, WebCMS của công ty Nhất Vinh và VPortal
của công ty Vietsoftware; 3C_SmartPortal của công ty 3C Liệu sẽ còn có các giải pháp
nào được đưa ra và người dùng nên chọn giải pháp nào cho hiệu quả, liệu có một chuẩn
cho Portal không?
Portal mới và 'thời thượng', các giải pháp của nước ngoài thì đắt và 'đóng', nên các công
ty Việt Nam đầu tư cho giải pháp nội địa là một chiến lược đúng đắn. Tuy nhiên, chọn
công nghệ nào để phát triển các Portal công cộng tại Việt Nam hiện nay chắc chắn còn là
vấn đề phải xem xét một cách nghiêm túc. Nên chăng Ban Điều Hành 112 chú ý đầu tư
vào việc này để có những hướng dẫn cho các thành viên?
Theo PCWorld B
09
CSS là gì?
By Công Ty Truyền Thông Số iGO
CSS là gì? Một câu hỏi đơn giản thôi mà khá khó để trả lời. Bạn có thể vào google.com
và gõ cụm từ define: CSS sẽ cho ra vô vàn kết quả.
Khi thế giới web mới ra đời người ta thường dùng các thẻ HTML để dàn trang. Việc dàn
trang đó bao gồm chia trang web thành các bảng, ô, để add text, add ảnh, kiểu chữ, màu
sắc Khi mà công nghệ web ngày càng phát triển người ta nhận thấy việc dàn trang bằng
các bảng ngày càng trở nên bất tiện. Khối lượng mã HTML lớn cùng việc khó khăn trong
kiểm soát các vùng nội dung trên trang web (theo tôi biết) là những lý do khiến HTML
ngày càng thất thế. Nếu bạn vào các website chuyên nghiệp của nước ngoài bạn sẽ việc
dàn trang của họ hoàn toàn bằng các thẻ DIV của CSS mà không dùng các thẻ HTML,
nếu có thì cũng rất ít.
Công nghệ CSS được đề cập đầu tiên bởi W3C vào năm 1996. Theo định nghĩa của W3C
(Wide Web Consortium) CSS (từ viết tắt của Cascading Style Sheet tạm dịch là bảng
kiểu xếp chồng) là một ngôn ngữ giúp người thiết kế web có thể add kiểu vào tài liệu web
(như kiểu font chữ, màu sắc, khoảng cách vv ). Bạn có thể tạo ra kiểu một lần nhưng có
thể dùng lại nhiều lần trong các tài liệu web tiếp theo. Ví dụ như nếu bạn muốn hiển thị
(Theo iGuru)
Mười lỗi mới hàng đầu trong việc thiết kế
website
By Công Ty Truyền Thông Số iGO
1. Phá bỏ hoặc làm giảm số lần bấm phím Back.
Phím Back vốn quen thuộc với người sử dụng mạng và đứng thứ hai theo cách hiểu tiêu
cực (chỉ sau những kết nối siêu văn bản). Những người sử dụng có tin vui rằng họ có thể
xem được bất cứ cái gì có tern trang web mà chỉ phải bấm nút Back từ một đến 2 lần để
quay trở lại trang có liên quan.
Tất nhiên ngoại trừ đối với những trang này khi nó phá bỏ nút Back bằng cách chuyển
một trong những lỗi thiết kế sau:
• Mở một cửa sổ brower mới (xem lỗi #2)
• Sử dụng một sự thay đổi địa chỉ ngay lập tức: mỗi lần người sử dụng bấm vào
phím Back, brower sẽ trở lại trang khiến cho người sử dụng chuyển tới một vị trí
không mong muốn.
• Lưu giữ những đề phòng mà mặt tiêu cực trong việc sử dụng phím Back yêu cầu
làm mới lại tới máy chủ, tất cả những tiêu cực thuộc về siêu văn bản nên đứng thứ
2 và gấp đôi đối với việc theo lối cũ.
2. Mở một cửa sổ Brower mới.
Mở một các cửa sổ brower mới giống như một người bán hàng làm sạch khoảng trống,
người mà bắt đầu một chuyến thăm bằng cách làm sạch một cái khay gạt tàn thuốc lá trên
thảm của khách hàng. Xin đừng làm ô nhiễm màn hình của tôi với bất cứ cái cửa sổ nào
nữa, cảm ơn (đặc biệt kể từ khi hệ điều hành hiện tại làm cho việc quản lý cửa sổ trở nên
khổ sở). Nếu tôi muốn một cửa sổ mới, tôi sẽ tự mở nó!
Những nhà thiết kế mở các cửa sổ brower mới với ý nghĩ rằng nó sẽ giữ những người sử
dụng ở tại vị trí của họ. Nhưng mặc dù không hề đề cập đến thông điệp thù ghét người sử
dụng ngụ ý trong việc đảm nhiệm máy của người sử dụng, chiến lược cũng tự đánh bại vì
nó làm mất khả năng của nút Back vốn là cách thông thường để người sử dụng trở về
trang trước. Người sử dụng thường không chú ý rằng môt cửa sổ mới đã mở, đặc biệt nếu
họ đang sử dụng một màn hình máy tính nhỏ mà các cửa sổ được phóng to hết cỡ tới màn
Những nghiên cứu về Web đầu tiên của tôi năm 1994 cho thấy rằng những người sử dụng
muốn biết những người đứng sau các thông tin tern trang Web. Đặc biệt tiểu sử và những
bức ảnh của các tác giả giúp cho việc làm web trở thành một nơi không mấy liên quan và
làm tăng sự tin tưởng. Cá tính và quan điểm thường chiến thắng những mẩu tin nặc danh
đến qua dây dẫn.
Nhưng nhiều trang vẫn không sử dụng một nhà báo chuyên mục và tránh by-line tern các
tờ báo của họ. Mặc dù những trang có by-line thường quên sự kết nối với tiểu sử của tác
giả và là một cách cho người sử dụng để tìm các bài báo khác của cùng tác giả.
Đặc biệt không tốt khi một by-line được đưa vào mail để : liên kết thay vì một sự kết nối
tới tiểu sử của tác giả. Có 2 lý do sau:
• Có một điều rất chung chung là một người đọc muốn biết nhiều hơn về một tác
giả ( bao gồm cả việc tìm kiếm các bài báo khác của tác giả đó) hơn là việc người
đọc muốn liên hệ với tác giả, chắc chắn thông tin liên lạc thường là một phần hay
của tiểu sử, nhưng không nên chỉ là dữ liệu ban đầu hay một mẩu dữ liệu về tác
giả.
• Nó sẽ phá vỡ lệ thường của Web khi kích vào văn bản có gạch dưới màu xanh
đưa ra một thông điệp thư điện tử thay vì khởi động một sự kết nối siêu văn bản
tới một trang mới, sự không nhất quán này làm giảm sự tiện lợi bởi việc làm cho
Web trở nên khó dự đoán hơn.
5. Thiếu khung hình:
Thông tin cũ thường là thông tin hay và có thể có ích cho người đọc. Thậm chí khi thông
tin mới có giá trị hơn thông tin cũ, thì gần như luôn luôn có một số giá trị cho chất liệu
cũ, và mất rất ít chi phí để giữ nó trên mạng. Tôi ước tính rằng việc có khung hình có thể
thêm vào khoảng 10% giá trị để chạy một trang Web nhưng làm tăng sự hữu ích của nó
lên khoảng 50%.
Khung hình cũng cần thiết như là cách duy nhất để xóa bỏ linkrot và do đó khuyến khích
các trang khác kết nối với bạn.
6. Di chuyển các trang tới các URL mới.
Bất cứ khi nào một trang được di chuyển, ban đầu nó đều phá vỡ bất cứ sự kết nối nào
đến từ các trang khác.Tại sao lại làm hại tới những người đã gửi cho bạn thông tin khách
cầu ý kiến của tôi về 10 lỗi hàng đầu, các trang chính có một sự vi phạm thực sự với tỉ số
80% gắn với thời gian phản ứng áp đặt.
Thiết kế đồ họa tăng lên là kẻ phạm lỗi ban đầu trong phạm vi thời gian trả lời. Một số
trang web vẫn còn có quá nhiều đồ họa hay các đồ họa quá lớn; hoặc họ sử dụng những
applet nơi mà sự rõ ràng hay tính năng động HTML thực hiện trò gian trá. Vì vậy tôi
không từ bỏ những chiến dịch của tôi tới số lần download tối thiểu.
Sự gia tăng trong các trình ứng dụng dựa trên web, thương mại điện tử và sự cá nhân hóa
thường có nghĩa là việc xem xét mỗi trang phải được tính toán. Kết quả là sự trì hoãn
trong việc tải về các trang được quyết định không chỉ đơn giản là việc trì hoãn download
(kém như nó vốn thế) mà còn bởi sự thể hiện của máy chủ. Đôi khi việc xây dựng một
trang web cũng bao gồm cả những kết nối tới back-end của các máy tính lớn hay cơ sở dữ
liệu của máy chủ, thậm chí làm chậm lại tiến trình hơn nữa.
Người sử dụng không quan tâm tại sao số lần trả lời bị chậm. Tất cả những gì họ biết là
trang web không cung cấp dịch vụ tốt: số lần trả lời chậm thường chuyển trực tiếp tới một
mức độ bị giảm đi sự tin cậy và chúng thường gây ra mất phương hướng khi người người
sử dụng thực hiện việc kinh doanh của họ ở nơi khác. Vì vậy đầu tư vào một máy chủ
nhanh và lấy một chuyên gia thực hiện để xem xét lại kiến trúc hệ thống của bạn và chất
lượng mã số để đánh giá một cách lạc quan số lần trả lời.
10. Bất cứ thứ gì trông giống như quảng cáo.
Sự chú ý có lựa chọn rất có sức mạnh và người sử dụng web biết cách ngừng chú ý tới
bất cứ sự bổ sung thêm vào theo cách hướng đến mục đích của họ. Đó là lý do tại sao tỉ lệ
truy cập bị cắt giảm một nửa mỗi năm và tại sao các web quảng cáo không hoạt động.
Thật không may, người sử dụng cũng làm ngơ với các yếu tố thiết kế hợp pháp mà trông
giống như các hình thức phổ biến của quảng cáo. Sau cùng, khi bạn làm ngơ một cái gì
đó thì bạn đã không nghiên cứu một cách chi tiết để tìm ra nó là cái gì.
Do đó, đó là cách tốt nhất để tránh bất kỳ sự thiết kế nào trông giống như quảng cáo.
Hàm ý chính xác nhất của dòng gợi ý này sẽ thay đổi với những hình thức bổ sung mới,
hiện tại thì theo những quy định sau:
• Sự khó thấy của banner có nghĩa là người sử dụng không bao giờ để mắt vào bất
cứ cái gì trông giống như một banner ad do hình dáng hay vị trí trên trang.
thành thấp (ngôn
ngữ free không
tốn chi phí mua
bản quyền)
- Chi phí giá thành cao
(do một phần phải mua
bản quền)
- Chi phí giá thành
trung bình (do một
phần phải mua bản
quền)
- Chi phí giá thành
cao
- Thời gian code
và triển nhanh,
đơn giản
- Thời gian code và triển
khai hơi phức tạp, chậm
hơn PHP
- Thời gian code và
triển khai trung bình
- Thời gian code và
triển khai hơi phức
tạp, chậm hơn PHP
- Số lượng nhà
cung cấp hosting
nhiều, dễ lựa
chọn
-Số lượng nhà cung cấp
hosting không nhiều, vì
- Mở rộng và phát triển
website dẽ dàng
- Khả năng mở rộng
và phát triển
website khó khăn
- Khả năng mở rộng
và phát triển website
khó khăn
- Các công cụ và
công nghệ hỗ trợ
phong phú, đa
dạng. Phát triển
web trên nền
web 2.0. Sử
dụng công nghệ
Ajax làm cho quá
trình duyệt web
nhanh chóng và
thân thiện hơn
đối với người
dùng.
- Các công cụ và công
nghệ hỗ trợ phong phú,
đa dạng. Phát triển web
trên nền web 2.0. Sử
dụng công nghệ Ajax
làm cho quá trình duyệt
web nhanh chóng và
thân thiện hơn đối với
người dùng.
giờ có một cái link lại chỉ ngay tới trang hiện tại).
2. Cung cấp Search nếu trang web có hơn 100 trang.
3. Viết các tiêu đề trang và tiêu đề bài đơn giản và dễ hiểu, giải thích rõ ràng trang
đó nói về cái gì và điều đó sẽ trở nên có ý nghĩa khi đọc ngoài ngữ cảnh trong một
danh mục kết quả của search engine.
4. Xây dựng cơ cấu trang web để tạo điều kiện cho việc scan và giúp người truy cập
bỏ qua những khối lớn trang thông tin trong một cái nhìn lướt qua: ví dụ, sử dụng
nhóm và các tiêu đề phụ để làm ngắt một danh sách dài thành nhiều đơn vị nhỏ
hơn.
5. Thay vì nhồi nhét mọi thứ về một sản phẩm hay một chủ đề vào một trang đơn,
dài vô tận, hãy sử dụng hypertext để xây dựng hệ thống không gian nội dung
thành một trang ban đầu cung cấp một cái nhìn bao quát và nhiều trang cấp hai
mà mỗi trang đó chỉ tập trung vào một chủ đề cụ thể. Mục đích là để cho phép
người truy cập tránh được việc lãng phí thời gian vào những chủ đề phụ đó,
những chủ đề mà không liên quan đến họ.
6. Sử dụng các tranh ảnh về sản phẩm, nhưng tránh các trang gia đình sản phẩm lộn
xộn bởi nhiều bức ảnh. Thay vào đó, chỉ nên có một bức ảnh nhỏ trên mỗi một
trang sản phẩm riêng và link bức ảnh tới một hoặc nhiều bức ảnh lớn hơn mà
chúng biểu diễn chi tiết như mong muốn của người truy cập. Sự thay đổi này phụ
thuộc vào loại sản phẩm. Một số sản phẩm thậm chí đòi hỏi những bức ảnh có thể
phóng to, thu nhỏ hay xoay được nhưng để dự trữ tất cả các bài viết trước cho các
trang cấp 2. Trang sản phẩm ban đầu phải nhanh và nên được giới hạn đến một
bức ảnh thumnail.
7. Sử dụng việc thu nhỏ hình ảnh làm nổi bật tính liên quan khi chuẩn bị các bức ảnh
và hình ảnh nhỏ: thay vì sửa lại kích thước ảnh gốc một cách đơn giản thành một
thumnail nhỏ và không thể đọc được thì hãy phóng to theo khía cạnh thích hợp
nhất và sử dụng sự kết hợp của việc cắt xén và hiệu chỉnh lại kích thước.
8. Sử dụng các tiêu đề link để giúp cho người truy cập xem trước được nơi mà mỗi
cái link sẽ đưa họ đến trước khi họ click vào đó.
9. Đảm bảo rằng tất cả những trang quan trọng đều có thể dễ dàng truy cập đối với
tiêu biểu cho sự thành công của thương mại điện tử”, ông nói. “Những website đó đều
hướng tới nhu cầu của người truy cập và tạo thuận lợi cho họ sử dụng Internet. Nói cách
khác, những địa chỉ đó đơn giản đã đem đến cho khách hàng những công cụ mạnh để
khai thác thông tin”.
“Google, Amazon, eBay và Yahoo đều không dùng thiết kế bắt mắt hay màu mè”,
Nielsen nói. “Tôi cũng lấy làm ngạc nhiên vì không thấy có nhiều trang khác bắt chước
cách thiết kế của những website thành công này”.
Trong tương lai, tiến sỹ Nielsen tin rằng các công cụ tìm kiếm sẽ đóng vai trò lớn hơn
nữa trong việc hỗ trợ con người nắm bắt lượng thông tin khổng lồ trên mạng. “Những
công cụ search sẽ giống như hệ điều hành của Internet và chúng sẽ còn có thể làm tốt
nhiều thứ khác hơn hiện nay”.
Theo Nielsen, hiện nay các website tìm kiếm chưa làm tốt vai trò mô tả thông tin mà
chúng tìm thấy sau khi nhận lệnh của người sử dụng. Khách hàng thường phải tự “soi”
từng trang web kết quả và đánh giá nó có hữu ích với mình hay không. Nielsen cho rằng
những công cụ theo dõi hành vi của người truy cập vào website tìm kiếm để biết họ thực
sự muốn tìm cái gì sẽ góp phần cải thiện kết quả search. Một điều tra của ông cho thấy
người sử dụng ngày càng tiến bộ hơn trong việc sử dụng các công cụ tìm kiếm. Thống kê
mới nhất về số từ khóa mà người sử dụng gõ vào ô lệnh trên dịch vụ search cho thấy
trung bình mọi người dùng 2,2 từ/lệnh. Mười năm trước, con số này là 1,3.
P.K. (theo BBC)
7 điều cần tránh khi thiết kế web
By Công Ty Truyền Thông Số iGO
1. Nội dung sơ sài và kém hấp dẫn
Bạn nên nhớ rằng khi người lướt web họ tìm các trang web trong công cụ tìm kiếm là họ
muốn tìm thông tin để dùng cho mục đích của riêng mình. Ví dụ trang web của bạn được
họ tìm thấy, nhưng sau một lúc ngó dọc ngó xuôi, họ chẳng thấy có chút gì hấp dẫn họ về
mặt nội dung cả. Và tất nhiên họ sẽ bỏ đi sang trang khác và sẽ không quay lại nữa.
Vậy nên bạn hãy tạo ra trang web với nội dung thật hấp dẫn, sao cho người ta phải Add
favourite ngay lần đầu đến thăm.
2. Tốc độ load chậm
số người truy cập là bao nhiêu, họ từ đâu tới, dùng trình duyệt gì, làm sao họ biết đến bạn
nhờ công cụ tìm kiếm nào vân …vân … mà một bộ đếm truy cập thông thường chẳng
bao giờ làm được như thế. Đó là chưa kể nó lại còn không chính xác nữa bởi vì mỗi lần
có người refresh là nó lại nhẩy lên môt đơn vị.
Ý tưởng dùng công cụ Hit Counter này xuất hiện đã 8 năm về trước rồi. Thế giới đã đổi
thay, bạn cũng nên vậy.
7. Viết theo văn phong dễ hiểu
Bạn luôn phải nghĩ trong đầu rằng không phải ai lướt web cũng giỏi văn như Nguyễn
Tuân, Tố Hữu … mà trình độ của họ chỉ là trung học hoặc hơn chút. Do vậy bạn nên viết
sao cho dễ hiểu, vào thẳng vấn đề và đừng nên vòng vo tam quốc, trau truốt câu văn bóng
bẩy làm gì.
Văn phong bạn viết trên Internet nên ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu vì người đọc rất lười
đọc trên mạng. Họ chỉ đọc lướt qua thôi chứ không đọc từng câu từng chữ đâu.
Nguồn tin: vietphotoshop
09
Lập trình web và các khái niệm
By Công Ty Truyền Thông Số iGO
Cùng với sự phát triển của CNTT cũng như Internet, việc phát triển các ứng dụng trên
một máy đơn cũng đã mang lại nhiều lợi ích và được áp dụng trong nhiều lĩnh vực của
đời sống. Tuy nhiên, với sự gia tăng phát triển của ngành công nghiệp máy tính, xu
hướng toàn cầu hoá nhất hiện nay, tin học phải mở rộng hơn để có thể khai thác nguồn tài
nguyên Internet.
Trong mỗi doanh nghiệp việc phát triển các ứng dụng quản lý trên mạng càng có ý nghĩa
hơn khi các mạng LAN hay WAN bùng nổ và ngày càng phổ biến. Các ứng dụng đó đảm
bảo tính truy nhập tương tác từ nhiều phía và tài nguyên chỉ đặt một nơi mà ta gọi là
server. Như thế các mạng sẽ mang lại cho chúng ta những lợi nhuận đáng kể. Và thực tế
đã chứng tỏ điều đó, các ứng dụng đều hướng tới mạng và Internet, từ kinh doanh trên
Internet, quảng cáo, hệ thống thư điện tử, cũng như thương mại điện tử. Các khái niệm đó
đang gần gũi với chúng ta hơn.
Bài viết giới thiệu với các bạn một số khái niệm có liên quan đến lập trình Web. Đó là
Tất cả những thông tin đó được gọi là request header HTTP. Chúng xác định đối với
server thông tin căn bản mà client đang request và loại đáp ứng có thể được client chấp
nhận. Scrver cũng lấy tất cả các header do client gửi tới thông qua biến môi trường
(environments variables) để chương trình server xử lý. Server đáp ứng với response
header. Header đáp ứng đầu tiên là dòng trạng thái cho client biết kết quả của việc tìm
kiếm request url. Nếu trạng thái là thành công (Success) thì nội dung của request url được
gửi trả lại client/browser và hiển thị trên màn hình máy tính của client.
3. HTML và Web page
Ngôn ngữ siêu văn bản (Hyper Text Markup Language) là một ngôn ngữ dùng để tạo
trang web, chứa các trang văn bản và những tag (thẻ) định dạng báo cho web browser
biết làm thế nào thông dịch và thể hiện trang web trên màn hình.
Web page là trang văn bản thô (text only), nhưng về mặt ngữ nghĩa gồm 2 nội dung:
- Đoạn văn bản cụ thể.
- Các tag (trường văn bản được viết theo qui định) miêu tả một hành vi nào đó, thường là
một mối liên kết (hyperlink) đến trang web khác.
4. E-mail
- e-mail (electronic mail - thư điện tử) là hình thức gửi thông điệp (messages) ở dạng điện
tử từ máy này sang máy khác trong mạng.
- Format của một e-mail:
Dạng format một e-mail cơ bản gồm hai thành phần: header + body:
+ header: chứa các hàng text kiểm soát e-mail.
+ body: nội dung cụ thể của e-mail.
Phần header gồm các nội dung cụ thể sau:
To: địa chỉ người nhận e-mail
Cc: địa chỉ người nhận cộng thêm
Bcc: địa chỉ những người nhận cộng thêm
From: thông tin về người gửi e-mail (địa chỉ)
Sender: địa chỉ người trực tiếp gửi e-mail
Rcceived: danh sách các Mail- Server trung chuyển
Return path: đường dẫn ngược trở lại Received
truyền đến. Sau đó server xác định loại file chương trình cần thực thi.
- Nói tóm lại lập trình CGI là viết chương trình nhận và truyền dữ liệu qua Internet tới
WWW server. Chương trình CGI sử dụng dữ liệu đó và gửi đáp ứng HTML trở lại máy
khách.
- Vai trò của HTML rất quan trọng trong lập trình CGI. Chương trình CGI được gọi qua
một tag định dạng HTML chẳng hạn:
trong thông qua tag chương trình index.cgi sẽ được thực hiện.
- Dùng thuộc tính HTML định dạng method:
Form tag bắt đầu với một thuộc tính Method để báo cho browser biết cách thức mã hoá
dữ liệu và nơi đặt dữ liệu chuyển tới server, nó được dùng để định nghĩa phần gì của file
HTML được sử dụng cho người sử dụng input.
Cú pháp:
Thêm vào input tag cho định dạng HTML này ta được một active form:
- Input tag:
Có thể tạo input text, radio buttons, check boxes và một số loại khác.
Cú pháp:
- Submit button:
Với tag _ dùng để kích khởi gửi dữ liệu.
CGI và tag FORM trong HTML phối hợp với nhau tạo ra submit button dùng để kích
hoạt chương trình CGI trên server cùng với các phương pháp.
- Method GET và POST:
Có 2 cách thức cho phép dữ liệu được chuyển tới chương trình CGI trên server.
GET gửi dữ liệu với mã URI header (Uniform Resource Identifier), dùng với HTML định
dạng tag ở dạng sau:
6. PERL - ngôn ngữ lập trình cho CGI
- Có thể dùng nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau trên CGI:
Bourne shell; C shell; C/C++; Perl; Python; Visual basic; JavaScripts.
- Ngôn ngữ lập trình PERL (viết tắt của Practical Extraction and Report Languages) do
Larry Wall xây dựng được dùng là một công cụ lập trình trên web vì Perl có nhiều ưu
điểm:
phép giao tiếp giữa browser và web server qua một loạt các kết nối rời rạc để lấy text trên
web page và thể hiện chúng, mỗi một lần request được thực hiện thì một bản ghi cho lần
request đó được ghi vào một file log. Các request về web được http ghi vào file
access_log còn e-mail được ghi vào file syslog trên UNIX.
Tuỳ thuộc vào từng loại mạng và server mà cấu trúc file log có thể khác nhau ở một vài
điểm nhưng nhìn chung thông tin ghi lại đều phản ánh tên người sử dụng, ngày giờ sử
dụng dịch vụ, khối lượng request và nhiều thông tin khác.
Dựa vào các fields của file log này người quản trị có thể thực hiện các thao tác monitor
để quản lý khách hàng của mình.
( Tác giả Theo VNPT )