Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
41
ty không tránh khỏi việc bị ép giá nhập khẩu các mặt hàng này
Quyền lực thương lượng của người mua.
Điểm thuận lợi của hình thức xuất khẩu theo hợp đồng gia công là công ty
không phải lo tới công tác bán hàng mà chỉ cần giao lại hàng cho đối tác. Như
vậy, đối tác của công ty vừa là người cung ứng, vừa là người tiêu thụ hàng. Tuy
nhiên, công ty chỉ có thể lấy công làm lãi mà bị hạn chế cơ hội tăng lợi nhuận, vì
không được bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng sản phẩm. Do vậy, ngoài
khả năng bị ép giá đầ
u vào, công ty còn có thế bị ép giá đầu ra do không có đủ
thông tin về thị trường tiêu thụ. Nhưng vì cạnh tranh giữa các công ty trong và
ngoài nước ngày càng tăng nên công ty buộc phải chấp nhận phí gia công
thấp.Trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu của công ty chủ yếu là xuất theo giá
FOB. Với cách định giá này, người mua sẽ phải thanh toán chi phí vận chuyển
từ nơi giao hàng của người bán đến điạ điểm cuối cùng của người mua. ấn định
theo cách này, ng
ười bán không phải lo chi phí vận chuyển. Song họ dễ bị mất
khách hàng nếu đối thủ cạnh tranh áp dụng giá trọn gói có lợi cho khách hàng.
Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm thay thế.
Sản phẩm của công ty hiện nay đang còn đơn điệu về mẫu mã và chủng
loại. do nguyên liệu dệt may chủ yếu của công ty là các loại sợi PE, các sản
phẩm dệt kim, loại hàng lại do bên đặt hàng quy định thường ít có sự thay đổi và
tính tinh vi của sản phẩm lại không cao nên khó có thể tạo ra đuợc sự hấp dẫn
đối với khách hàng. Do đó, công ty khó tránh khỏi sức ép cạnh tranh từ phía các
sả
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, hay một số các nước ASEAN thì kết quả có
phần khả quan hơn do tâm lý tiêu dùng ở các nước này không quá phức tạp và
có sự tương đồng trong tâm lý tiêu dùng với người Việt Nam. Bên cạnh đó là
những thuận lợi tương đối trong vấn đề địa lý. Mặc dù, các doanh nghiệp may
mặc củ
a các nước trong khu vực có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và kinh
doanh mặt hàng tiêu dùng này (do một đặc điểm chung của các nước Châu á:
hàng dệt may là ngành hàng truyền thống và được coi là mũi nhọn trong hoạt
động thương mại quốc tế), song khoảng cách chênh lệch không quá xa và do đó
mức độ đe doạ cạnh tranh của họ với công ty không phải quá cao.
3.2 Các nhân tố bên trong.
Nguồn nhân lực
Lực lượng lao động trong công ty rất đông đảo, bao gồm những người đã
tốt nghiệp đại học, những công nhân được đào tạo từ các trường trung cấp, cao
đẳng cho tới những người không được đào tạo qua trường lớp như công nhân
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
43
bốc vác, lao công. Nguồn nhân lực trong Công ty được phản ánh qua bảng sau:
Bảng1: Cơ cấu lao động trong Công ty qua những năm gần đây:
(Đơn vị: người)
Trình độ học vấn
Năm
Tổng số
lao động
thường có tính năng động, sáng tạo và lòng nhiệt tình với công việc. Lực lượng
lao động này đã giúp công ty trở thành doanh nghiệp hàng đầu của ngành dệt
may trong cơ chế
thị trường. Số lao động được đào tạo từ các khối trường
chuyên nghiệp của công ty chiếm tỷ lệ khoảng 16,6% tổng lao động của toàn
công ty trong năm 2002, năm 2001 tỷ lệ này chiếm 15,2% và năm 2000 là
14,13%. Như vậy, số lượng lao động được đào tạo qua các trường chuyên
nghiệp của công ty ngày càng tăng, trình độ của người lao động ngày càng được
nâng cao. Tuy nhiên tỷ lệ này còn thấp so với nhũng đ
òi hỏi của công việc (vận
hành máy móc, thiết bị hiện đại; kỹ năng sản xuất tinh vi cao cấp ). Do đó,
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
44
hàng năm công ty đều có kế hoạch bổ xung lao động, bồi dưỡng và nâng cao
trình độ nghiệp vụ cũng như khả năng tiếp thu công nghệ mới cho CBCNV.
Người lao động có trình độ càng cao, càng có nhiều hiểu biết về công việc thì
càng đảm bảo công tác nghiên cứu và nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như
hiệu quả sản xuất.
Được sự trợ giúp của các máy móc chuyên dụng tiên tiên, hiện đại, sức
lao độ
ng của người công nhân được sử dụng hợp lý hơn. Năm 2002 năng suất
lao động trung bình tính theo doanh thu đạt 1.344.210 đồng/người/tháng, thu
nhập bình quân là1.097.500 đồng/người/tháng. Với lao động mới tuyển, các
CBCNV có nhiệm vụ kèm cặp và hướng dẫn để họ bắt tay vào công việc một
cách thuận tiện nhất.
Các phòng ban chức năng của công ty từ trên xuống phối hợp luôn đồng
bộ, việc phân cấp chồng chéo. Các công việc th
vốn sao cho hợp lý là điều vô cùng quan trọng đối với lãnh đạop công ty cũng
như đối với những người trực tiếp quản lý nguồn vốn.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mùnh. công ty luôn
tìm cách khai thác và sử dụng hi
ệu quả nguồn vốn hiện có cũng như nguồn vốn
nhà nước giao cùng với các nguồn vốn khác mà công ty có được. Mọi hoạt động
sản xuất của công ty đều cần có vốn, khi bước vào hoạt động sản xuất kinh
doanh trước hết công tác tổ chức tài chính của công ty phải xác định được nhu
cầu vốn cần thiết cho hoạt động của công ty trong kỳ vì việc khai thác và tạo lập
nguồn hình thành v
ốn cố định sẽ quyết định đến quy mô và ảnh hưởng tới sự tồn
tại của tài sản cố định. Các khoản đầu tư dài hạn và các chi phí xây dựng cơ bản
dở dang của công ty. Tiếp theo dựa vào bản kế hoạch vốn công ty sẽ tổ chức huy
động vốn để đáp úng kịp thời đầy đủ cho các hoạt động của công ty.
Là một doanh nghiệp nhà nước có uy tín trong ngành vì v
ậy việc huy
động nguồn vốn từ nhiều nguồn khác nhau là việc không quá khó đối với công
ty. Công ty có thể khai thác và tạo lập nguồn vốn từ nhiều nguồn khác nhau bao
gồm:Vốn do ngân sách nhà nuớc cấp; Vốn từ các quỹ: quỹ khấu hao, quỹ đầu tư
và phát triển, lợi nhuận để lại của công ty; Vốn vay của ngân hàng; Nguồn vốn
phát hành chứng khoán. Đây là bộ phận rất quan trọng trong quá trình hoạt độ
ng
sản xuất kinh doanh của công ty; Nguồn vốn liên doanh, liên kết.
Bảng 2: Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty
(Đơn vị: Triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
tranh sả
n phẩm của mình bởi vì vấn đề nguồn vốn đang là vấn đề rất bức súc đối
với các doanh nghiệp dệt may nói riêng và tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam
nói chung. Tuy nhiên đây chỉ là yếu tố cần, còn yếu tố đủ chính là tình hình sử
dụng vốn bởi nó sẽ quyết định đến chi phí về vốn của doanh nghiệp so với đối
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
47
thủ cạnh tranh.
Nguồn lực về vật chất kỹ thuật.
Công ty dệt may Hà Nội có nhiều loại dây truyền máy móc thiết bị dùng
để sản xuất ba mặt hàng chính là sợi, sản phẩm dệt kim và khăn bông. Các dây
chuyền này chủ yếu là dây chuyền sản xuất liên tục ( bố trí mặt bằng định hướng
theo sản phẩm).
Hiện nay tại nhà máy sợi I và nhà máy sợi II đều có dây truyền vừa sản
xuất sợi chải kỹ, vừa sản xuất sợi chải thô. Tạ
i nhà máy sợi II cồn có thêm dây
chuyền sản xuất sợi phế OE. Từ dây chuyền chải kỹ và chải thô có thể kết hợp
để sản xuất sợi đơn chải thô sợi đơn chải kỹ và sợi xe. Đó là nhà máy bông
Mazoly và Muzata của Nhật bản, máy Autoconer và Schrafhort của Đức, máy
đậu và máy xe do Trung quốc sản xuất.
Hầu hết máy móc đều được sản xuất từ năm 1979, 1980 ngoại trừ máy
Schrafhort và Murata là mới được trang b
ị sản xuất vào những năm 1994, 1995.
Tại nhà máy sợi Vinh các máy móc thiết bị hoàn toàn do CHLB Đức sản xuất
vào đầu những nam 1970 và một số máy móc đã khấu hao hết.
Hầu hết máy móc thiết bị của công ty dệt may Hà Nội có thời gian sử
48
3. Máy ghép 42 90% 1982 Đức,ý 26 16
4. Máy thô 20 90% 1982 Đức 12 8
5. Máy sợi con 176 90% 1982 Đức 111 65
6. Máy ống 26 90% 1989 Đức 16 10
7. Máy đậu 3 90% 1989 TQ 2 1
8. Máy xe 19 90% 1982 TQ 9 10
9. Máy ống xốp 2 90% 1982 TQ - 2
10. Máy cuộn cúi 3 90% 1989 Đức, ý 2 1
11. Máy chải kỹ 13 90% 1989
Đức, ý
Nhật
13 -
Tổng số máy 365 217 139
(Nguồn : Phòng kỹ thuật đầu tư)
Như vậy ngoài trừ những máy móc thiết bị dùng để sản xuất các sản phẩm
mới của Công ty: Vải Demin, sản phẩm Demin, Mũ nới được trang bị gần đây
thì còn lại là những máy móc đã có thời gian sử dụng khá lâu, đây chính là điểm
yếu trong chiễn lược cạnh tranh của Công ty trong cơ chế thị trường.
Công tác thị trườ
ng và marketing của công ty dệt may Hà Nội.
Thị trường tiêu thụ của công ty Dệt May Hà Nội khá rộng lớn, bao gồm thị
trường trong nước (50%) và thị trường nước ngoài (50%). Công ty đang từng
bước khẳng định mình trên thị trường nội địa nhằm tạo cơ sở phát triển sức
canhj tranh trên thị trường quốc tế
Hiện nay công ty đang cố gắng phát triển mạng lưới phân phối. Năm 2002
công ty có tớ
i hơn 20 quầy giới thiệu sản phẩm và hơn 60 đại lý ở các tỉnh thành
phố so với 14 quầy giới thiệu sản phẩm và 35 đại lý vào năm 2001. Mạng lưới
kênh phân phối bao gồm kênh phân phối gián tiếp và kênh phân phối trực tiếp.
giúp công ty rất nhiều trong việc tìm kiếm và mở rộng quan hệ với đối tác.
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH SẢN
PHẨM XUẤT KHẨU Ở CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI
.
1. Kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu của công ty qua các năm.
Kim ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm khoảng 50% tổng doanh thu và
tăng đều qua các năm .
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu theo theo thị trường nội địa và xuất khâu
(Đơn vị : triệu đồng )
STT Năm Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh QTKDQT41A
50
0
100000
200000
300000
hàng nhập khẩu đầu tiên những sản phẩm này của công ty. Cùng với sự nỗ lực
của công ty các sản phẩm này dần dần chiếm lĩnh thị trường và góp phần làm
tăng doanh thu của công ty
Biểu đồ1: Kim ngạch xuất khẩu qua các năm