Ung thư Ruột Già và trực tràng - Phần 2 - Pdf 18

Ung thư Ruột Già và trực tràng
Phần 2
Định Kỳ
Nếu kết quả thử nghiệm trích mô cho thấy ung thư, bác sĩ cần thẩm
định thời kỳ ung thư, ung thư đã lan đến đâu bộ phận nào trong cơ thể, để
hoạch định chương trình chữa trị thích hợp.
Bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều thử nghiệm sau:
-Thử máu: Đo lượng carcinoembryonic antigen (CEA) và những chất
khác trong máu. Một số bệnh nhân bị ung thư ruột già trực tràng hoặc những
chứng bệnh khác gây gia tăng lượng CEA trong máu.
-Nội soi: Nếu bác sĩ chưa làm nội soi quán sát toàn thể ruột già trực
tràng thì sẽ cần làm nội soi để định kỳ.
-Nội siêu âm trực tràng (Endorectal ultrasound): dụng cụ dò siêu âm
đặt trong trực tràng, phát âm thanh, máy dò thu nhận làn sóng âm thanh dội
lại sẽ cho thấy hình thể các cấu trúc trong khoang bụng dưới kể cả hạch bạch
huyết sưng trướng
-Quang tuyến phổi: tìm dấu vết ung thư lan đến phổi.
-CT scan: chụp hình ảnh các cấu trúc bên trong khoang bụng. Bệnh
nhân có thể được chích “thuốc nhuộm” để làm rõ hơn hình ảnh. Các hình
ảnh này cho thấy ung thư đã lan đến các cấu trúc khác hay chưa.
Bác sĩ có thể dùng các thử nghiệm khác như MRI để định kỳ. Đôi khi
việc định kỳ ung thư chỉ hoàn tất sau khi giải phẫu cắt bỏ khối u. Ung thư
ruột già trực tràng được định kỳ như sau:
-Giai Đoạn 0 (Stage 0): ung thư chỉ xuất hiện ngay tại màng lót ruột
già hoặc trực tràng, còn có tên là carcinoma in situ.
-Giai Đoạn (Stage) I: ung thư lậm đến nhưng chưa qua thấu thành ruột
già hoặc trực tràng.
-Giai Đoạn (Stage) II: ung thư ăn sâu qua thành ruột già hoặc trực
tràng, có thể lan đến cấu trúc chung quanh nhưng chưa lan đến hạch bạch
huyết.
-Giai Đoạn (Stage) III: ung thư đã lan đến hạch bạch huyết lân cận

Bạn cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử
nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường
không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, bạn có thể
thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình.
Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình,
hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y khoa…
để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.
Những phương cách trị liệu
Việc lựa chọn cách trị liệu tùy thuộc vào vị trí của khối u tại ruột già
hoặc trực tràng và thời kỳ của ung thư. Cách chữa trị có thể là giải phẫu, hóa
chất, sinh hóa tố hoặc xạ trị. Một số bệnh nhân được chữa trị bằng nhiều
cách kể trên.
Ung thư ruột già đôi khi được chữa trị khác với ung thư trực tràng.
Bác sĩ có thể mô tả việc chữa trị, hiệu quả có thể đạt được. Bệnh nhân và bác
sĩ thảo luận để chọn lựa và quyết định cách chữa trị.
Chữa trị ung thư có thể tại chỗ (local) hoặc toàn thân (systemic)
1) Chữa trị tại chỗ (local therapy): Giải phẫu và xạ trị là phương cách
chữa trị tại chỗ. Bác sĩ cắt bỏ hoặc hủy diệt khối u tại ruột già hoặc trực
tràng. Khi ung thư ruột già trực tràng lan đến những bộ phận khác trong cơ
thể, cách chữa trị tại chỗ vẫn có thể được dùng để chữa trị tại vị trí cần thiết.
2) Chữa trị toàn thân (Systemic therapy): Hóa chất và sinh hóa tố trị
liệu là các cách chữa trị toàn thân. Thuốc vào thân thể luân lưu qua máu và
hủy diệt tế bào ung thư trong khắp cơ thể.
Việc chữa trị ung thư thường gây hư hoại cho những tế bào khỏe
mạnh, thường có phản ứng phụ. Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại thuốc và
lượng thuốc sử dụng và không giống nhau cho tất cả mọi người, lần chữa trị
này so với lần chữa trị khác. Trước khi chữa trị, bác sĩ sẽ giải thích việc
phản ứng phụ có thể xảy ra và cách ngăn ngừa.
Trong bất cứ thời kỳ nào của ung thư, supportive care (tạm dịch là
“chữa trị phụ” nhằm giúp bệnh nhân duy trì sức khỏe, chịu đựng những phản

qua dụng cụ nội soi đưa vào khoang bụng, một ống nhỏ đầu ống là đèn, kính
hiển vi và dao mổ. Sau khi cắt 3-4 vết cắt nhỏ, bác sĩ chuyển dụng cụ vào
khoang bụng để quan sát trực tiếp khối u và các bộ phận lân cận. Khối u và
một phần của ruột già được cắt bỏ. Hạch bạch huyết lân cận cũng được cắt
bỏ.
-Giải Phẫu: Bác sĩ mổ khoang bụng để cắt bỏ khối u, một phần ruột
già hoặc trực tràng và hạch bạch huyết. Bác sĩ tìm kiếm dấu vết lan tràn của
ung thư tại ruột non và gan.
Khi một phần ruột già hoặc trực tràng bị cắt bỏ, bác sĩ cần “nối”
những phần còn lại với nhau. Đôi khi, việc “nối” kết này không thể thực
hiện,, bác sĩ mở một lối để thải chất phế thải ra ngoài cơ thể. Lỗ hổng này
gọi là “stoma”, nối phần ruột còn lại với lỗ hổng thoát chất phế thải. Cuộc
giải phẫu chế tạo lỗ hổng stoma có tên là “colostomy”. Một túi nhựa bọc
quanh lỗ hổng để chứa phân và dán vào màng bụng.
Túi chứa phân đặt tại bụng thường có tính cách giai đoạn trừ một số
trường hợp ngoại lệ. Cho đến khi ruột già hoặc trực tràng lành lặn sau khi
mổ, bác sĩ sẽ “nối các phần ruột lại với nhau và vá lại lỗ hổng. Một số nhỏ
bệnh nhân bị ung thư tại phần cuối của ruột già hoặc trực tràng sẽ cần dùng
lỗ hổng tháo phân suốt đời.
Lỗ hổng tháo phân thường gây đau rát da bụng. Bác sĩ, y tá và chuyên
viên có thể giúp bệnh nhân chăm sóc túi phân, ngừa nhiễm trùng và bớt đau
rát da.
Thời gian cần thiết để phục hồi không đồng nhất cho mọi bệnh nhân,
một vài ngày hậu giải phẫu là thời gian chịu đau đớn và thuốc men được
dùng để giảm đau. Trước khi mổ, nên thảo luận với bác sĩ và y tá về cách
giảm đau. Thuốc men có thể gia giảm để làm dịu cơn đau hậu giải phẫu.
Bệnh nhân sẽ mệt mỏi, mất sức trong một thời gian ngắn. Đôi khi giải
phẫu gây táo bón hoặc tiêu chảy. Bác sĩ sẽ theo dõi các dấu hiệu về xuất
huyết, nhiễm trùng để kịp thời chữa trị.
Bạn có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi giải phẫu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status