40
mại, 3 doanh nghiệp giao thông vận tải và 5 doanh nghiệp nông -
lâm - thuỷ sản. Hầu hết các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ,
chỉ có 3 doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên là công ty
cổ phần bao bì Bỉm Sơn thuộc Tổng công ty xi măng (38 tỷ đồng),
công ty cổ phần điện cơ thuộc Tổng công ty điện lực Việt Nam (25
tỷ đồng) và công ty cổ phần xuất nhập khẩu Tân Định thuộc thành
phố Hồ Chí Minh (10 tỷ đồng). Các địa phơng và ngành triển khai
cổ phần hoá tích cực nhất là tỉnh Bình Định (4 doanh nghiệp), thành
phố Hồ Chí Minh (4 doanh nghiệp), Tổng công ty cà phê (3 doanh
nghiệp), Tổng công ty xi măng Việt Nam (2 doanh nghiệp) Trong
số 34 doanh nghiệp hoàn thành thủ tục bán cổ phiếu đã có 12 doanh
nghiệp không có cổ phần của Nhà nớc và 27 doanh nghiệp có cổ
phần của cổ đông ngoài doanh nghiệp. Nh vậy, theo kế hoạch đặt
ra cho năm 1999 là sẽ cổ phần hoá từ 400 - 600 doanh nghiệp thì
con số 42 doanh nghiệp nhà nớc mới đợc cổ phần hoá từ đầu năm
đến nay chỉ bằng 1/10 kế hoạch. Và từ giờ đến cuối năm, chúng ta
phải cổ phần hoá thêm hơn 300 doanh nghiệp nữa.
Kết quả bớc đầu.
Về phía doanh nghiệp, nhìn chung hoạt động của công ty cổ
phần sau khi cổ phần hoá đều có hiệu quả, các chỉ tiêu tăng nhiều
lần so với khi còn là DNNN biểu hiện trên cả 3 mặt lợi ích của: lao
động - doanh nghiệp - Nhà nớc. Việc huy động vốn của công ty cổ
phần chủ yếu đầu t chiều sâu, đổi mới công nghệ nên năng suất,
hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn trớc, đem lại lợi nhuận cao
41
hơn. Cơ câú vốn sở hữu trong các công ty cổ phần, tỷ lệ vốn sở hữu
quản trị; 3 công ty ngời ngoài đại diện cho cán bộ công nhân viên
đảm nhận chủ tịch Hội đồng và giám đốc điều hành, 2 công ty khác
giữ 1 trong 2 trọng trách trên. Chơng III
Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình
hình thành và cổ phần hoá doanh nghiệp.
43 I. Các yếu tố khó khăn và cản trở quá trình
hình thành và cổ phần hoá doanh nghiệp ở
Việt nam.
Khó khăn và cản trở lớn nhất trong quá trình t nhân hoá và cổ
phần hoá ở nhiều nớc đang phát triển và Đông Âu là khu vực t
nhân nhỏ bé và yếu ớt. Đối với Việt Nam cũng nh vậy, khi hàng
chục năm khu vực này đợc coi là đối tợng cải tạo XHCN. Sự nhỏ
bé và yếu ớt của khu vực kinh tế t nhân phản ánh trình độ chậm
phát triển kinh tế thị trờng trong đó hình thái doanh nghiệp một
chủ tự mình đứng ra kinh doanh là phổ biến, hình thái công ty cổ
phần còn xa lạ với hầu hết mọi ngời. Điều này gây ra sự bỡ ngỡ,
lúng túng cho cả ngời đầu t lẫn ngời sử dụng vốn đầu t dới
hình thức cổ phiếu do đó làm cho việc tiến hành chơng trình cổ
phần hoá ở nớc ta phải thực hiện trong một thời gian dài song
song với sự hình thành và phát triển hình thái công ty cổ phần cũng
nh xác lập môi trờng pháp lý tơng ứng.
Cùng với sự yếu ớt và nhỏ bé của khu vực kinh tế t nhân là sự
45
thể nguy cơ suy sụp trong cuộc cạnh tranh thị trờng ngày một gay
gắt. Tâm lý chung của các vị giám đốc DNNN là còn nớc còn
tát, tát đợc ngày nào hay ngày đó.
Còn về phía ngời lao động, họ sau khi cổ phần hoá có thể bị
mất việc, hoặc quyền lợi không đợc đảm bảo, đặc biệt là vấn đề
mua, mua chịu và đợc cấp cổ phiếu. Thế là từ trên xuống dới kết
thành những mảng trong nhận thức và hành động. Để đảm bảo an
toàn và giữ đợc ghế, tránh đợc nguy cơ đi chệch hớng
XHCH, thợng sách là không sắn tay vào công tác này.
Làm thế nào để giải toả những vớng mắc về t tởng quan
điểm và nhận thức trên đây? Trớc hết, phải tạo sự thống nhất trong
nhận thức về chủ trơng cổ phần hoá DNNN.
Một là, cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc không
dẫn đến nguy cơ chệch hớng XHCN và làm suy yếu kinh tế nhà
nớc, bởi lẽ: Trong cơ cấu kinh tế quốc dân, Nhà nớc vẫn nắm giữ
các DNNN thuộc các ngành then chốt, trọng yếu tạo nền tảng cho
nền kinh tế quốc dân và sức mạnh của Nhà nớc XHCN. Xét trên
phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tài sản Nhà nớc không bị
suy giảm mà còn có khả năng tăng nhờ lợi tức cổ phần của Nhà
nớc và sự đóng góp của các công ty cổ phần làm ăn có hiệu quả
vào ngân sách Nhà nớc. Quá trình cổ phần hoá đợc tiến hành dới
sự lãnh đạo tập trung của Đảng và sự chỉ đạo chặt chẽ của nhà nớc
XHCN.
46
Hai là, cổ phần hoá không làm ảnh hởng đến quyền lợi và vị
trí của mỗi ngời trong doanh nghiệp nếu họ thực sự có khả năng và
cổ phần cho ngời nớc ngoài có quy định nhng cha có văn bản
hớng dẫn cụ thể.
Để giải quyết những vấn đề tồn tại về chính sách pháp luật trên
đây, các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cần phải lắng nghe ý kiến
từ phía các doanh nghiệp đã hoàn tất và đang hoàn tất cổ phần hoá
và cả những doanh nghiệp cha tiến hành cổ phần hoá để cụ thể
hoá, chi tiết hoá những điểm còn chung chung, ban hành thêm
những quy định còn thiếu. Đòi hỏi sự đồng bộ của hệ thống văn bản
pháp quy ngay trong điều kiện hiện nay là điều không thực tế, song
đã đến lúc chúng ta phải có ngay một bộ luật cổ phần hoá hoặc luật
công ty cổ phần bởi vì cha có luật, cha có pháp lệnh thì cha có
căn cứ pháp lý để thực hiện, cha có căn cứ để ban hành các văn
bản pháp quy dới luật, và nh vậy việc thực hiện sẽ rất khó khăn.
Bên cạnh đó, việc dự thảo và sớm ban hành luật về chứng khoán,
kinh doanh chứng khoán và thị trờng chứng khoán cũng sẽ góp
phần đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá và việc hình thành thị trờng
vốn ở nớc ta.